Đôi nét tiểu sử

25/09/201515:27(Xem: 9657)
Đôi nét tiểu sử

 

Bac Si Nguyen Le Duc-2

 
 
TIỂU SỬ VÀ CÔNG TRÌNH PHỤNG SỰ
Chùa Hải Đức của Cố Bác Sĩ Minh Quang


Bác Sĩ Minh Quang Nguyễn Lê Đức sinh 14/7/1947, năm Đinh hợi, Nguyên quán Hà Nội. Xuất thân vốn gia đình cha mẹ thuộc tầng lớp trí thức, lúc nhỏ bác sĩ được ông nội hướng dẫn đến chùa Quán Sứ, Hà Nội một ngôi chùa truyền thống Phật giáo vốn đã ăn sâu ở Miền bắc Việt Nam để gieo mầm trí tuệ cho người cháu đích tôn của mình. Nhờ tuệ căn gieo trồng từ nhiều đời từ đó Bác Sĩ không những thành tựu học vấn thế học qua các trường Khuông Việt (Chùa Quán Sứ) và Puginỉe, rồi Taberd Sài Gòn cho đến hết trung học, tốt nghiệp Tú Tài Pháp năm 1965, rồi tiếp tục theo Đại Học Y Khoa Sài Gòn rồi tốt nghiệp năm 1972 với luận án hạng Tối Danh Dự. Nhập ngũ theo y sĩ trưng tập sư đoàn 21 cho tới ngày bị bắt học tập cải tạo. Sau khi được tạm tha, vượt biên đến Pulau Bidong rồi định cư tại Mỹ vào năm 1979. Sau khi hành nghề trở lại tại Mỹ, BS Minh Quang cùng một nhóm Phật tử thành lập Hội Phật Giáo Đông Bắc Floria (Chùa Hải Đức) vào năm 1987 thoạt tiên tại Orange Park, sau dời sang cơ sở hiện tại ở Jacksonville cho tới ngày nay.

BS Minh Quang nguyên là Vụ Phó Vụ Văn Hóa GHPGVNTN (thời các HT. Thích Đức Niệm và Thích Trí Chơn). Bác Sĩ Minh Quang có vợ và ba người con đã trưởng thành và hiện cư ngụ tại Jacksonville, Florida.

Phật tử Minh Quang thọ Ngũ Giới năm 1985 với Hòa thượng Giác Nhiên tại Jacksonville, FL, thọ Đại Thừa Bồ Tát Giới tháng 5 năm 2007 với HT. Kiến Tánh tại Jacksonville, FL, thọ giới Mật Tông Thời Luân (Kalachakra) tháng 7 năm 2011 với Đạt Lai Lạt Ma tại Washington, DC.

 

Trong thời gian làm hội trưởng, BS Minh Quang phụ trách giảng Phật học, đã giảng hết 12 khóa Phật Học Phổ Thông, 5 khóa Phật Học Phổ Thông bằng Anh Ngữ, các bộ kinh Lục Độ Tập, An Bang Thủ Ý, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Thai Tạng Giới, Vũ Trụ Học Phật Giáo, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bát Nhã đến cuốn thứ 44 lần lượt thuyết giảng  những mong các hành giả tỏ ngộ con đường rộng lớn của Chư Phật và Bồ tát.

Với gương hạnh sáng ngời cả đời và đạo, tận tụy với công việc cứu giúp bệnh nhân, nguyên cứu kinh điển Phật đà ngõ hầu chia xẻ các hành giả hữu duyên, bác sĩ đã phụng sự cho đến giây phút duyên đã mãn thời đã đến đó là sáng thứ 2 ngày 21 tháng 9 2015, sau khi khám cho bệnh nhân cuối cùng, bác sĩ cảm Thấy mệt nơi tim (cơn bệnh tuổi già của BS) nên vào phòng nằm nghỉ rồi an nhiên trút hơi thở cuối cùng.

Ôi thật cao quý thay! Một tấm gương cư sĩ mang hạnh Bồ Tát dấn thân vào đời làm con thuyền từ rướt những khách hữu duyên về với chánh pháp.

Nhất tâm cầu nguyện hương linh Cố Bác Sĩ Minh Quang – Nguyễn Lê Đức cao đăng Phật quốc.

 
Môn đồ Hiếu quyến.
Hiền thê, Phật tử Châu Ngọc cùng các con kính ghi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2021(Xem: 18614)
Hai mươi ba năm qua nhìn lại di ảnh Thầy Nước mắt trào dâng lòng con thổn thức " Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật" Tâm con dâng niệm để lòng con an " Nam Mô từ Phụ Huệ Hưng" Niệm theo hơi thở Thầy về bên con. Thầy ơi, con trẻ mỏi mòn Bao năm xa cách cố hương ngàn trùng! Hàng cây đó năm nào còn mãi
20/09/2021(Xem: 7687)
Ni Trưởng thế danh Hoàng Thị Bút, pháp danh Tâm Quang, tự Đàm Minh, hiệu Minh Đức, sinh ngày 20 tháng 4 năm Nhâm Tý (năm 1912) tại xã Hưng Yên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân sinh là cụ ông Hoàng Nguyên Hoa-pháp danh Tâm Chánh, thân mẫu là cụ bà Lý Thị Hợp. Gia đình có 5 người con gồm 1 trai 4 gái và Ni trưởng là chị cả. Vốn xuất thân trong gia đình khoa bảng, thấm nhuần giáo lý đạo Phật, trong gia tộc có người cô ruột xuất gia tại chùa Điệt, thành phố Vinh là Sư bà Đàm Thanh. Nhờ có nhân duyên quá khứ cùng với thiện duyên hiên tại tạo nên cơ duyên thuận lợi cho Ni trưởng xuất gia, tầm sư học đạo .
19/09/2021(Xem: 15078)
Đầu thập niên sáu mươi tôi rời trường Chu-Văn-An khi Trường vừa mới chuyển xuống đường Minh-Mạng trong Chợ Lớn. Giã từ Thầy học, chia tay bạn bè để đi con đường mới. Dẫu có học chung trên Đại Học cũng không còn thân thiết như xưa. Hồi đó tôi chia các Giáo-Sư trong Trường Chu-Văn-An làm 2 loại: Một loại “khó đăm đăm”, luôn luôn nghiêm khắc, không bao giờ cười dù chỉ mỉm miệng. Điển hình là Giáo-Sư Đào Văn Dương. Loại thứ hai luôn luôn vui cười, hay đùa giỡn với học sinh. Điển hình là Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Quỳnh. Tôi rất kính trọng cụ Đào Văn Dương ở tính ngay thẳng, chừng mực. Tôi thân mật với cụ Nguyễn Ngọc Quỳnh dĩ nhiên vì tính vui vẻ, cởi mở, dễ thân mật. Đặc biệt cụ còn là một Cư-Sĩ Phật-Giáo mà tôi thường được nghe cụ thuyết pháp ở chùa Phước-Hòa cuối thập niên năm mươi (Con trai cụ hiện là một vị Hòa-Thượng ở vùng Houston, Texas).
04/09/2021(Xem: 8436)
Hòa thượng Thích Minh Thông, Quyền Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa thay mặt Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, môn đồ pháp quyến, chùa Thiên Xá, TP.Nha Trang cáo bạch kính tiếc báo tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Liễu Pháp, Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN viên tịch. Trưởng lão Hòa thượng Thích Liễu Pháp, Thành viên Hội đồng Chứng Minh GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, khai sơn - trú trì chùa Thiên Xá, TP.Nha Trang.
23/08/2021(Xem: 7346)
Hòa thượng thế danh là Trần Đại Quảng, pháp danh Tâm Trí, tự Viên Giác, hiệu Chiếu Nhiên, thuộc đời thứ 43 dòng Lâm Tế, Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình Nho phong đức hạnh nhưng có chí cách tân, theo hướng Tây học. Thân phụ là cụ ông Trần Đại Dật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mĩu (pháp danh Tâm Mỹ). Ngài lớn lên theo truyền thống giáo dục gia phong, được tiếp xúc với nhiều bậc thân hữu trí thức của thân phụ trong những lúc hàn huyên hay luận bàn văn sách. Do đó Ngài đã sớm tiếp thu kiến thức sâu rộng, lý giải sự việc nhanh chóng, đạt lý thuận tình nên rất được lòng quần chúng. Ngài ham học hỏi, hiếu khách, nhất là được kết thân với các bậc thiện hữu tri thức, chính vì thế mà Ngài phát huy trí tuệ rất nhanh. Nhờ tính năng động và chí phấn đấu trong học tập và lao động nên dù nghiêm thân mất sớm, Ngài, với tư cách con trưởng, vẫn giữ vững gia nghiệp, phụ giúp mẫu thân dưỡng dục các em học hành t
20/08/2021(Xem: 16053)
Sư Phụ Tôi người hiền hoà chất phát Sống một đời giản dị rất bình dân Bất cứ ai dù ở chốn xa gần Khi cần đến Ngài sẵn sàng cứu giúp. Ngài thuộc bậc hàng cao Tăng thạc đức Nhưng lúc nào cũng tỏ hạ khiêm cung Sống giản đơn nhưng sắc thái kiêu hùng Bình thuận tỉnh, đệ huynh đều kính mến. Không phung phí của Đàn na tín thí Từng hạt cơm, hạt đậu cả hạt mè Quần áo thì vài ba bộ che thân. Ngày ba bữa cháo rau cùng tương đậu. Thời khoá biểu Ngài luôn thường nhắc nhở
11/08/2021(Xem: 10151)
Toàn tập Kinh Tạng Nikaya cho Iphone & Ipad (cảm ơn TT Tâm Hải đã gởi tặng, mời đại chúng vào download để đọc kinh Tạng)
04/08/2021(Xem: 12476)
Sông Thạch Hãn, Ngân Thiền Tâm Mộ Phật. Chốn Trà Trì, Gương Học Hạnh Xuất Gia. Nhỏ Tầm Chơn, Quyết Chí Xa Thế Tục. Khoác Áo Nâu Sòng, Học Lối Thích Ca. Chào Song Thân, Xứ Bảo Lộc Quê Nhà. Nương Thầy Tổ, Giữ Gìn Tâm Hướng Đạo. Mùi Kinh Kệ, Tháng Ngày Xông Cõi Tịnh. Thuộc Luật Nghi, Từ Góc Hạnh Trăng Sao.
26/07/2021(Xem: 16280)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Minh Có, pháp danh Huệ Đạt, pháp hiệu Hoàn Thông, sinh năm Đinh Tỵ (1917) triều Khải Định năm đầu, tại ấp Hội An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Phuông, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sửu, Ngài mồ côi cha lúc 13 tuổi. Thiện duyên đưa đến cho hạt mầm Bồ đề trong tâm Ngài phát triển. Năm 1930, trong thân tộc có ông Hồ Trinh Tương, gia tư khá giả, phát tâm phụng sự Tam Bảo, xuất tiền của xây một ngôi chùa, lấy hiệu là Hội Thắng Tự. Ông xuất gia đầu Phật, húy là Tường Ninh, pháp danh Đắc Ngộ, pháp hiệu Niệm Hưng và làm trú trì chùa này để hoằng dương đạo pháp. Ngài được thân mẫu cho phép xuất gia với Sư cụ trú trì chùa Hội Thắng khi vừa mồ côi cha, được ban pháp danh Huệ Đạt. Năm 16 tuổi (1933) Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa Di.
12/07/2021(Xem: 7239)
Trăm Năm Cõi Mộng Phù Hương, Vọng Lời Kinh Phật, Mở Đường Pháp Sinh. Lời Thầy Còn Đọng Chút Tình, “Sông Bờ” Ai Đợi, Dáng Hình Trí Yên. Quê Quảng Bình, Dấu Phật Thiên. Nuôi Mầm Học Hạnh, Giãi Niềm Gia Lai. Thầy Dụng Võ, Ngọc Liên Đài, Thâu Lời Kinh Luận, Bỏ Ngoài Tục Danh.