Quyển 83: Phẩm Thọ Giáo 2

07/07/201516:24(Xem: 20809)
Quyển 83: Phẩm Thọ Giáo 2

Kinh Dai Bat Nha- HT Thich Tri Nghiem_2_a
Tập 02
Quyển 83
Phẩm Thọ Giáo 2
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí


 

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bố thí Ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy bố thí Ba-la-mật-đa để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, cũng chẳng lấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bốn tịnh lự, cũng chẳng lấy bốn tịnh lự để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bốn vô lượng, bốn định vô sắc, cũng chẳng lấy bốn vô lượng, bốn định vô sắc để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt tám giải thoát, cũng chẳng lấy tám giải thoát để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, cũng chẳng lấy tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bốn niệm trụ, cũng chẳng lấy bốn niệm trụ để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, cũng chẳng lấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt pháp môn giải thoát không, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát không để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, cũng chẳng lấy pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt năm loại mắt, cũng chẳng lấy năm loại mắt để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt sáu phép thần thông, cũng chẳng lấy sáu phép thần thông để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt mười lực của Phật, cũng chẳng lấy mười lực của Phật để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chẳng lấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt pháp không quên mất, cũng chẳng lấy pháp không quên mất để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt tánh luôn luôn xả, cũng chẳng lấy tánh luôn luôn xả để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt tất cả pháp môn Đà-la-ni, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Đà-la-ni để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng chẳng lấy tất cả pháp môn Tam-ma-địa để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt trí nhất thiết, cũng chẳng lấy trí nhất thiết để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, cũng chẳng lấy trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Thanh-văn thừa, cũng chẳng lấy Thanh-văn thừa để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa, cũng chẳng lấy Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Dự-lưu, cũng chẳng lấy Dự-lưu để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, cũng chẳng lấy Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cũng chẳng lấy Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, cũng chẳng lấy Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Độc-giác, cũng chẳng lấy Độc-giác để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Độc-giác hướng, Độc-giác quả, cũng chẳng lấy Độc-giác hướng, Độc-giác quả để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy đại Bồ-tát để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt Tam-miệu-tam Phật-đà, cũng chẳng lấy Tam-miệu-tam Phật-đà để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt pháp của đại Bồ-tát, cũng chẳng lấy pháp của đại Bồ-tát để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt quả vị giác ngộ cao tột, cũng chẳng lấy quả vị giác ngộ cao tột để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

Những người như vậy, hoàn toàn chẳng lấy không, bất không để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt không, bất không; chẳng lấy không, bất không để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt không, bất không; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu tướng, vô tướng để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt hữu tướng, vô tướng; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy hữu nguyện, vô nguyện để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt hữu nguyện, vô nguyện; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy sanh, bất sanh để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt sanh, bất sanh; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy diệt, bất diệt để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt diệt, bất diệt; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy tịch tịnh, bất tịch tịnh để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt tịch tịnh, bất tịch tịnh; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bậc Cực hỷ, cũng chẳng lấy bậc Cực hỷ để phân biệt viễn ly, bất viễn ly; chẳng lấy viễn ly, bất viễn ly để phân biệt bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, cũng chẳng lấy bậc Ly cấu, bậc Phát quang cho đến bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân để phân biệt viễn ly, bất viễn ly.

 
Quyển thứ 83

Hết

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/12/2015(Xem: 22455)
Lời lẽ văn thư tỏ ra Giáo Hội này hết sức bối rối vì Tâm Tràng là Phó Đại diện Miền Liễu Quán, Bắc California, Nguyên Trung lại là Vụ Phó Vụ Truyền Thông mà Vụ Trưởng là Bùi ngọc Đường và Chánh Đạo là cơ quan phát ngôn của Giáo Hội này. So sánh thực tế hành động của Nguyên Trung, Tâm Tràng và của chính Giáo Hội này với lời lẽ của văn thư tôi không khỏi có cảm tưởng như đang chứng kiến cảnh người điếc đàm đạo cùng người câm.
01/12/2015(Xem: 11490)
Trước đây, nhân dịp về đám tang Ba tôi; sau khi ghé Đại học Vạn Hạnh nghe Ni Sư Trí Hải thuyết pháp, chúng tôi đã được Ni Sư dẫn về thăm Tịnh thất ở Nhà Bè mà dân cư ngụ quanh vùng gọi là "Chùa các Sư Cô".
14/11/2015(Xem: 39514)
Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới Nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Viện Chủ Tổ Đình Từ Quang, Tu Viện Viên Quang, Tu Viện Thanh Quang đã thu thần thị tịch tại phương trượng Tổ Đình Từ Quang, Canada vào lúc 10 giờ 20 phút sáng thứ Năm ngày 20 tháng 08 năm 2015 (nhằm ngày 07 tháng 07 năm Ất Mùi).
14/11/2015(Xem: 13923)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em.
13/11/2015(Xem: 19777)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin: Hòa Thượng Thích Tâm Thọ Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới Viện Chủ Chùa Giác Hoàng, Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, đã viên tịch lúc 2 giờ sáng hôm nay, Thứ Tư, ngày 11 tháng 11, 2015. Chúng con xin đê đầu đảnh lễ và cầu nguyện Giác Linh Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc và sớm hồi nhập Ta Bà để tiếp tục công cuộc hoằng pháp lợi sinh.
07/11/2015(Xem: 9838)
Con về trong nắng cuối thu Phước Hoa đứng lặng ngậm ngùi lệ rơi Quỳ bên pháp thể ân sư Con nghe sâu lắng thâm ân của thầy Đêm nay phương trượng thật buồn Con ngồi lặng lẻ nghe bao nỗi niềm Thầy ơi! Cơn lốc tử sinh An nhiên thị tịch thầy đi xa rồi Mất còn tan hợp hư vô Pháp thân thầy đó mênh mông lối về…
01/11/2015(Xem: 23021)
Tin Viên Tịch Trang Nhà Quảng Đức vừa nhận được tin : HT Thich Tinh Hanh Đức Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thế Giới Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh vừa viên tịch vào lúc 11.30am ngày thứ sáu, 10/04/2015 tại Đài Bắc, Đài Loan. Lễ Nhập Kim Quan lúc 9 giờ tối thứ bảy 11/4/2015 Lễ Cung Tống Kim Quan Trà Tỳ ngày 25/04/2015 Chi tiết về tang lễ sẽ cập nhật trong những ngày tới.
31/10/2015(Xem: 53176)
Hòa Thượng Thích Hạnh Tuấn, sinh năm Bính Thân, 1956, tại Thôn Giáo Đông, Xã Lộc Xuân, Huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam, Đời Thứ 42 Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên, Trú Trì Chùa Trúc Lâm, Thành Phố Chicago, Tiểu Bang Illinois, Hoa Kỳ, đã viên tịch lúc 1 giờ sáng ngày 30 tháng 10 năm 2015, nhằm ngày 18 tháng 9 năm Ất Mùi, tại Thành Phố Freeport, Tiểu Bang Illinois, Hoa Kỳ, trụ thế 60 tuổi, 39 hạ lạp. Lễ Nhập Liệm vào ngày thứ 4, 4/11/2015; Lễ Trà Tỳ vào ngày Chủ Nhật, 8/11/2015. Hòa Thượng tân viên tịch là một bậc Tăng tài của Giáo hội cũng như Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh; Thầy là một vị Sa môn tài đức, phước trí vẹn toàn mà xả bỏ nhục thân quá sớm để Giáo Hội mất đi một Thích tử kế thừa mạng mạch, tục diệm truyền đăng, hàng Phật tử mất đi một vị Thầy đức độ khả kính.
28/10/2015(Xem: 15030)
Xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc nhiều đời thâm tín Phật giáo. Ni trưởng sinh ngày 9 tháng 3 năm 1938, tại Vĩ Dạ, Tỉnh Thừa Thiên, Huế, miền Trung Việt Nam trong một gia đình có sáu anh em. Thân phụ của Ni trưởng là cụ Nguyễn Phước Ưng Thiều thuộc dòng dõi vua chúa thời nhà Nguyễn, và thân mẫu là Đặng thị Quê, một người mẹ quá đỗi tuyệt vời mà theo lời tự sự của một nhà văn Việt Nam khi nhắc đến mẹ của Ni trưởng đã viết: “Mệ ơi! Mệ hiền như Phật và chu đáo nhất trên đời”. Khi Ni trưởng tượng hình trong bào thai mẹ mới 3 tháng, thì bà mẹ đã lên chùa Tường Vân, Huế xin Hòa thượng Tăng thống Thích Tịnh Khiết ban cho thai nhi pháp danh Tâm Hỷ. Người thiếu nữ lớn lên xinh đẹp, dịu dàng với cái tên Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh đã làm rung động bao trái tim của những chàng trai thuở ấy… Nhưng vượt thoát ra khỏi tất cả những cám dỗ và dục vọng tầm thường, Phùng Khánh đã chọn cho mình một con đường thanh cao nhất với thiên tư thông tuệ, tài hoa, phẩm cách thanh cao đã nuôi chí xu
27/10/2015(Xem: 10946)
Tin thầy Thích Nhất Hạnh được nhận giải Pacem in Terri năm 2015 [*] – giải Hoà Bình Thế Giới hằng năm phổ biến nhất của Thiên Chúa Giáo toàn cầu – đã trực tiếp hay gián tiếp gởi một thông điệp hòa bình, an lạc, hiệp thông của hai tôn giáo có đông tín đồ nhất Việt Nam. Thiền sư Thích Nhất Hạnh được vinh danh do thành quả “công phu xây dựng được nhịp cầu tâm linh nối liền giữa phương Đông và phương Tây.” Lịch sử Giải thưởng Hòa Bình Thế Giới của Thiên Chúa giáo trao hàng năm kể từ 1964 do đức Giáo Hoàng John XXIII đề xướng với sự xác định tiêu chuẩn rằng: “Đây là giải thưởng vinh danh các nhân vật tạo được những thành tựu về Hòa Bình, Công Lý không chỉ riêng cho đất nước của họ mà cho toàn thế giới.” ("to honor a person for their achievements in Peace and Justice, not only in their country but in the world). Đã có sáu trong 42 người đạt giải thưởng Pacem in Terris nhận được giải Nobel Hòa Bình như Martin Luther King, Mẹ Teresa, Desmond Tutu, Lech Walesa… trong những năm qua.