Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)

22/09/201306:59(Xem: 14330)
Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)
HT-Thich-Chi-Tin doc sach-760

Nhớ Lại Ân Xưa

Thành kính đảnh lễ
Giác Linh Hòa Thượng Bổn Sư thùy từ chứng giám

Bài của HT Nguyên Siêu, đệ tử của HT Thích Chí Tín

Do Tâm Tú diễn ngâm

Đồi Trại Thủy ngày buồn đêm thảm

Chùa Long Sơn ảm đạm màu tang

Thầy về lại chốn Lạc Bang

Đàn con trong cảnh bàng hoàng ngẩn ngơ.

Nhớ Giác Linh xưa

Từ thuở khai sơn

Chùa tranh vách đất

Nằm cạnh ven rừng

Linh địa chốn Già Lam

Rồi từ dạo đó

Thầy nuôi chí xuất trần thượng sĩ

Ngày muối dưa cơm hẩm thuở cơ hàn

Sớm công phu Lăng Nghiêm năm đệ từng hàng

Chiều bái sám mời nhơn thiên câu hội.

Phước duyên tích tụ làu làu

Trí tánh ngần soi tỏ tỏ

Hương thơm giới đức như vầng trăng soi ngõ

Từng bước chân thành Thạch Trụ Tòng Lâm.

Thầy không đi học

Chữ nghĩa thế trần

Làm loạn tâm tu mật hạnh

Khẩu từ chân chánh

Thân hiện oai nghi

Giữ mình giới đức

Bất khả tư nghì

Sạch như băng tuyết lưu ly,

Sáng ngời tâm Phật

Lúc đứng khi đi

Thầy là tàng cây đại thọ

Rợp mát một đời Tăng Ni

Kể từ thời Chùa xưa nho nhỏ

Cạnh cây Bồ Đề xanh um hứng gió

Thầy trồng từ thuở lên mười.

Nhưng giờ đây

Tàng cây Bồ Đề không còn nữa

Thầy buồn một thủa ai hay?

Sinh lòng thương xót

Như đóa sen đầy

Thầy cho hương thêm sắc

Như bấy lâu nay.

Người đi qua

Kẻ ở lại

Tâm Thầy luôn đong đầy.

Mặc cho đời áo mão cân đai.

Thầy luôn hiện tướng

Chiếc áo tràng đà chỉ xỏ một tay

Thầy ngồi nơi nhà Thiền

Phật tử sum vầy

Ngày Rằm mồng Một

Mỗi tháng lưng đầy

Có tịnh tài nuôi chúng Tăng ăn học.

Mà chẳng lo chi cho Thầy

Tay nải vơi đầy

Cam tươi sữa ngọt

Cỡi chiếc xe đạp đem ngay cho người

Chẳng giữ trong tay

Những gì Thầy có

Thầy học hạnh buông xả

Bềnh bồng như mây.

Thầy đi tìm hang kiến

Cho đồ ăn thật đầy

Cơm nguội bánh mì đường cát

Ấy là việc làm xưa nay.

Thầy thương loài vật

Thầy giúp người ngay

Thầy làm Bồ Tát hạnh

Trong cuộc đời này.

Nhưng bạch Thầy!

Thân Đại thọ đã ngả về Tây!

Đàn con ríu rít xé cay nát lòng.

Thầy đi như bóng thu không

Hình hài ẩn hiện lối mòn quạnh hiu.

Vách đá lưng trời

Chùa xưa vắng bóng

Bậc Ân sư muôn thuở nào phai.

Lời vàng thước ngọc

Thầy để lại hôm nay

Cho nghìn sau

Và mãi mãi nghìn sau

Như tấm thân già tứ đại

Hơn 30 năm ngày tháng qua

Thầy ngồi nơi đó!

Chiếc xích đu giờ như bỏ ngỏ.

Thầy đã đi và đi mãi không về

Đàn con buồn tái tê

Giọt sầu rơi xuống trăng thề đầu non.

Long Sơn! Long Sơn!

Tên Chùa Thầy đặt

Hôm nay vẫn còn

Dựa lưng vào vách đá

Trên đỉnh non ngự tọa Kim Thân.

Tâm Thầy như áng phù vân

Đến đi chẳng buộc ai vần chẳng lay.

Chúng con ở lại chốn này

Để học và học hạnh Thầy

Nghìn sau vẫn học thân này dù tan.

Kính nguyện Thầy Cao Đăng Thượng Phẩm

Lễ Nhập Kim Quan 20/9/2013

Đệ tử Nguyên Siêu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2021(Xem: 18934)
Hai mươi ba năm qua nhìn lại di ảnh Thầy Nước mắt trào dâng lòng con thổn thức " Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật" Tâm con dâng niệm để lòng con an " Nam Mô từ Phụ Huệ Hưng" Niệm theo hơi thở Thầy về bên con. Thầy ơi, con trẻ mỏi mòn Bao năm xa cách cố hương ngàn trùng! Hàng cây đó năm nào còn mãi
20/09/2021(Xem: 7757)
Ni Trưởng thế danh Hoàng Thị Bút, pháp danh Tâm Quang, tự Đàm Minh, hiệu Minh Đức, sinh ngày 20 tháng 4 năm Nhâm Tý (năm 1912) tại xã Hưng Yên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân sinh là cụ ông Hoàng Nguyên Hoa-pháp danh Tâm Chánh, thân mẫu là cụ bà Lý Thị Hợp. Gia đình có 5 người con gồm 1 trai 4 gái và Ni trưởng là chị cả. Vốn xuất thân trong gia đình khoa bảng, thấm nhuần giáo lý đạo Phật, trong gia tộc có người cô ruột xuất gia tại chùa Điệt, thành phố Vinh là Sư bà Đàm Thanh. Nhờ có nhân duyên quá khứ cùng với thiện duyên hiên tại tạo nên cơ duyên thuận lợi cho Ni trưởng xuất gia, tầm sư học đạo .
19/09/2021(Xem: 15331)
Đầu thập niên sáu mươi tôi rời trường Chu-Văn-An khi Trường vừa mới chuyển xuống đường Minh-Mạng trong Chợ Lớn. Giã từ Thầy học, chia tay bạn bè để đi con đường mới. Dẫu có học chung trên Đại Học cũng không còn thân thiết như xưa. Hồi đó tôi chia các Giáo-Sư trong Trường Chu-Văn-An làm 2 loại: Một loại “khó đăm đăm”, luôn luôn nghiêm khắc, không bao giờ cười dù chỉ mỉm miệng. Điển hình là Giáo-Sư Đào Văn Dương. Loại thứ hai luôn luôn vui cười, hay đùa giỡn với học sinh. Điển hình là Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Quỳnh. Tôi rất kính trọng cụ Đào Văn Dương ở tính ngay thẳng, chừng mực. Tôi thân mật với cụ Nguyễn Ngọc Quỳnh dĩ nhiên vì tính vui vẻ, cởi mở, dễ thân mật. Đặc biệt cụ còn là một Cư-Sĩ Phật-Giáo mà tôi thường được nghe cụ thuyết pháp ở chùa Phước-Hòa cuối thập niên năm mươi (Con trai cụ hiện là một vị Hòa-Thượng ở vùng Houston, Texas).
04/09/2021(Xem: 8584)
Hòa thượng Thích Minh Thông, Quyền Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa thay mặt Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, môn đồ pháp quyến, chùa Thiên Xá, TP.Nha Trang cáo bạch kính tiếc báo tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Liễu Pháp, Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN viên tịch. Trưởng lão Hòa thượng Thích Liễu Pháp, Thành viên Hội đồng Chứng Minh GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, khai sơn - trú trì chùa Thiên Xá, TP.Nha Trang.
23/08/2021(Xem: 7395)
Hòa thượng thế danh là Trần Đại Quảng, pháp danh Tâm Trí, tự Viên Giác, hiệu Chiếu Nhiên, thuộc đời thứ 43 dòng Lâm Tế, Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình Nho phong đức hạnh nhưng có chí cách tân, theo hướng Tây học. Thân phụ là cụ ông Trần Đại Dật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mĩu (pháp danh Tâm Mỹ). Ngài lớn lên theo truyền thống giáo dục gia phong, được tiếp xúc với nhiều bậc thân hữu trí thức của thân phụ trong những lúc hàn huyên hay luận bàn văn sách. Do đó Ngài đã sớm tiếp thu kiến thức sâu rộng, lý giải sự việc nhanh chóng, đạt lý thuận tình nên rất được lòng quần chúng. Ngài ham học hỏi, hiếu khách, nhất là được kết thân với các bậc thiện hữu tri thức, chính vì thế mà Ngài phát huy trí tuệ rất nhanh. Nhờ tính năng động và chí phấn đấu trong học tập và lao động nên dù nghiêm thân mất sớm, Ngài, với tư cách con trưởng, vẫn giữ vững gia nghiệp, phụ giúp mẫu thân dưỡng dục các em học hành t
20/08/2021(Xem: 16173)
Sư Phụ Tôi người hiền hoà chất phát Sống một đời giản dị rất bình dân Bất cứ ai dù ở chốn xa gần Khi cần đến Ngài sẵn sàng cứu giúp. Ngài thuộc bậc hàng cao Tăng thạc đức Nhưng lúc nào cũng tỏ hạ khiêm cung Sống giản đơn nhưng sắc thái kiêu hùng Bình thuận tỉnh, đệ huynh đều kính mến. Không phung phí của Đàn na tín thí Từng hạt cơm, hạt đậu cả hạt mè Quần áo thì vài ba bộ che thân. Ngày ba bữa cháo rau cùng tương đậu. Thời khoá biểu Ngài luôn thường nhắc nhở
11/08/2021(Xem: 10205)
Toàn tập Kinh Tạng Nikaya cho Iphone & Ipad (cảm ơn TT Tâm Hải đã gởi tặng, mời đại chúng vào download để đọc kinh Tạng)
04/08/2021(Xem: 12603)
Sông Thạch Hãn, Ngân Thiền Tâm Mộ Phật. Chốn Trà Trì, Gương Học Hạnh Xuất Gia. Nhỏ Tầm Chơn, Quyết Chí Xa Thế Tục. Khoác Áo Nâu Sòng, Học Lối Thích Ca. Chào Song Thân, Xứ Bảo Lộc Quê Nhà. Nương Thầy Tổ, Giữ Gìn Tâm Hướng Đạo. Mùi Kinh Kệ, Tháng Ngày Xông Cõi Tịnh. Thuộc Luật Nghi, Từ Góc Hạnh Trăng Sao.
26/07/2021(Xem: 16465)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Minh Có, pháp danh Huệ Đạt, pháp hiệu Hoàn Thông, sinh năm Đinh Tỵ (1917) triều Khải Định năm đầu, tại ấp Hội An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Phuông, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sửu, Ngài mồ côi cha lúc 13 tuổi. Thiện duyên đưa đến cho hạt mầm Bồ đề trong tâm Ngài phát triển. Năm 1930, trong thân tộc có ông Hồ Trinh Tương, gia tư khá giả, phát tâm phụng sự Tam Bảo, xuất tiền của xây một ngôi chùa, lấy hiệu là Hội Thắng Tự. Ông xuất gia đầu Phật, húy là Tường Ninh, pháp danh Đắc Ngộ, pháp hiệu Niệm Hưng và làm trú trì chùa này để hoằng dương đạo pháp. Ngài được thân mẫu cho phép xuất gia với Sư cụ trú trì chùa Hội Thắng khi vừa mồ côi cha, được ban pháp danh Huệ Đạt. Năm 16 tuổi (1933) Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa Di.
12/07/2021(Xem: 7298)
Trăm Năm Cõi Mộng Phù Hương, Vọng Lời Kinh Phật, Mở Đường Pháp Sinh. Lời Thầy Còn Đọng Chút Tình, “Sông Bờ” Ai Đợi, Dáng Hình Trí Yên. Quê Quảng Bình, Dấu Phật Thiên. Nuôi Mầm Học Hạnh, Giãi Niềm Gia Lai. Thầy Dụng Võ, Ngọc Liên Đài, Thâu Lời Kinh Luận, Bỏ Ngoài Tục Danh.