Như áng mây bay

14/08/201308:00(Xem: 10974)
Như áng mây bay

HT_Tri_Thu_8NHƯ ÁNG MÂY BAY

(Ngưỡng vọng hòa thượng ân sư Thích Trí Thủ)

Pháp tử: TỊNH MINH




Những ai đã được Ôn Già Lam dưỡng dục tại ba Phật Học Viên: Báo Quốc Huế, Hải Đức Nha Trang, và Quảng Hương Già Lam Sài Gòn thì khó mà bộc bạch hết tâm tư tình cảm của mình về ân đức sâu dày của Người. Riêng Tịnh Minh thì được Ôn hạ cố về nhiều phương diện, trong đó có một việc mà lâu nay Tịnh Minh muốn giữ kín, muốn che dấu đi cái lỗi lầm vụng dại của chính mình, nhưng nó cứ râm ran, nhoi nhói mỗi khi nghĩ đến Ôn Già Lam. Vốn là thế này:

Khoảng năm 1972 hay 1973 gì đó, tôi phụ trách việc hô canh khuya, thay thầy Đồng Tiến đi làm Hiệu trưởng Trường Trung Học Bồ Đề Phú Yên. Một hôm, sau khi xả chuông thiền tọa, tôi vừa bước ra khỏi cửa chánh điện chùa Già Lam thì thấy Ôn ngồi trên thềm tam cấp. Tôi chắp tay định vái chào thì Ôn vẫy vẫy tay ra hiệu tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi làm theo tín hiệu và hỏi nhỏ:

- Bạch Ôn có chuyện gì mà Ôn đợi con sớm quá vậy?

- Ngồi đây nghe ta hô canh. Lúc ở Báo Quốc, mỗi khi ta hô canh khuya thì ai cũng phải thức dậy ngồi niệm Phật, kể cả Ôn Trúc Lâm hay Ôn Linh Mụ, nằm ngủ nướng không được mô! Rồi Ôn cất giọng hô:

“Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai

Phổ nguyện đồng đăng bát nhã đài

Liễu triệt tam thừa dung nhị đế

Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai.”

Giọng Ôn hô canh thật là độc đáo: chậm rãi, trầm hùng, uyển chuyển, truyền cảm, nói chung là đầy ắp hương vị thiền môn. Tôi đã âm thầm nhại theo âm điệu luyến láy của Ôn bài hô canh này, đặc biệt là câu “Liễu triệt tam thừa dung nhị đế”. Hai từ “nhị đế” được Ôn đưa hơi lên cao theo dạng tột đỉnh Parabole bên này rồi chuyển tông qua “Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai” xuống đường Parabole bên kia cho đến khi âm vọng lan xa, xa mãi theo nhịp chuông đổ hồi. Ôn biết tôi thích bắt chước theo tiết tấu của Ôn nhưng chưa đạt nên Ôn thương mến, muốn truyền lại cái âm hưởng đặc thù ấy cho tôi. Vậy mà trong thâm tâm tôi quả thật còn có chỗ vướng mắc, nên khó thẩm thấu và diễn đạt ngữ điệu một cách trọn vẹn. Ôn thấy ngay cái vô duyên vụng dại của tôi, nói trắng ra là cái tập khí u mê, ngu si dại dột của một thằng “mọi” chưa biết quý trọng kim cương hột xoàng. Ôn vỗ vai tôi, nói: “Thôi được rồi! Hôm sau tập tiếp”, rồi Ôn đứng lên về căn phòng bé nhỏ bên hông chánh điện. Từ đó đến nay, cứ mỗi lần nghĩ đến Ôn Già Lam thì lòng tôi lại dâng lên một niềm xấu hổ, tự trách mình không xứng đáng với những ân huệ mà Ôn đã dành cho mình. Nhất là khi Thầy Trí Hoằng bảo lãnh tôi đi tham quan Hoa Kỳ, nghe nói họ đòi biên lai thu thuế bất động sản của chùa, trong khi Thầy Trí Hoằng không còn ở chùa Hải Ấn, bang Connecticut nữa! Trong lúc tôi đang phân vân, buồn buồn, thì Thầy Trí Hoằng gởi Email, khích lệ: “Cứ nạp hồ sơ! Tịnh Minh đi đâu cũng có Ôn Già Lam nắm tay chỉ đường mà sợ gì!” Và đúng như vậy, khi phỏng vấn, họ chỉ hỏi tôi vài câu đại khái rồi chấp thuận hồ sơ ngay. Nhắc lại lời thầy Trí Hoằng, hai mắt tôi lại cay xè, nhòe nhoẹt, không thấy rõ nét chữ trên màn hình Computer.

Kính lạy giác linh Ôn, ước gì bây giờ được Ôn dạy hô canh trong một không gian tĩnh mịch như năm xưa, thì con sẽ ôm đầu gối Ôn, áp má lên đó mà nghe, mà luyện từng âm ba luyến láy. Tiếc thay: “Thời gian không chờ đợi ai” (Time waits for no one).

Nhân ngày về cội, và cũng là dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ôn (1909-2009), xin Ôn tha thứ cho con về cái tôi vụng dại đó để tâm tư con được nhẹ nhàng thanh thản như áng mây bay, không còn bị vướng kẹt trong vòng tư duy áy náy nữa. Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cuối Đông Mậu Tý, 2008

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 25149)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8557)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9829)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18270)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 18002)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11126)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25115)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9046)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12379)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9208)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1