Như áng mây bay

14/08/201308:00(Xem: 11213)
Như áng mây bay

HT_Tri_Thu_8NHƯ ÁNG MÂY BAY

(Ngưỡng vọng hòa thượng ân sư Thích Trí Thủ)

Pháp tử: TỊNH MINH




Những ai đã được Ôn Già Lam dưỡng dục tại ba Phật Học Viên: Báo Quốc Huế, Hải Đức Nha Trang, và Quảng Hương Già Lam Sài Gòn thì khó mà bộc bạch hết tâm tư tình cảm của mình về ân đức sâu dày của Người. Riêng Tịnh Minh thì được Ôn hạ cố về nhiều phương diện, trong đó có một việc mà lâu nay Tịnh Minh muốn giữ kín, muốn che dấu đi cái lỗi lầm vụng dại của chính mình, nhưng nó cứ râm ran, nhoi nhói mỗi khi nghĩ đến Ôn Già Lam. Vốn là thế này:

Khoảng năm 1972 hay 1973 gì đó, tôi phụ trách việc hô canh khuya, thay thầy Đồng Tiến đi làm Hiệu trưởng Trường Trung Học Bồ Đề Phú Yên. Một hôm, sau khi xả chuông thiền tọa, tôi vừa bước ra khỏi cửa chánh điện chùa Già Lam thì thấy Ôn ngồi trên thềm tam cấp. Tôi chắp tay định vái chào thì Ôn vẫy vẫy tay ra hiệu tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi làm theo tín hiệu và hỏi nhỏ:

- Bạch Ôn có chuyện gì mà Ôn đợi con sớm quá vậy?

- Ngồi đây nghe ta hô canh. Lúc ở Báo Quốc, mỗi khi ta hô canh khuya thì ai cũng phải thức dậy ngồi niệm Phật, kể cả Ôn Trúc Lâm hay Ôn Linh Mụ, nằm ngủ nướng không được mô! Rồi Ôn cất giọng hô:

“Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai

Phổ nguyện đồng đăng bát nhã đài

Liễu triệt tam thừa dung nhị đế

Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai.”

Giọng Ôn hô canh thật là độc đáo: chậm rãi, trầm hùng, uyển chuyển, truyền cảm, nói chung là đầy ắp hương vị thiền môn. Tôi đã âm thầm nhại theo âm điệu luyến láy của Ôn bài hô canh này, đặc biệt là câu “Liễu triệt tam thừa dung nhị đế”. Hai từ “nhị đế” được Ôn đưa hơi lên cao theo dạng tột đỉnh Parabole bên này rồi chuyển tông qua “Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai” xuống đường Parabole bên kia cho đến khi âm vọng lan xa, xa mãi theo nhịp chuông đổ hồi. Ôn biết tôi thích bắt chước theo tiết tấu của Ôn nhưng chưa đạt nên Ôn thương mến, muốn truyền lại cái âm hưởng đặc thù ấy cho tôi. Vậy mà trong thâm tâm tôi quả thật còn có chỗ vướng mắc, nên khó thẩm thấu và diễn đạt ngữ điệu một cách trọn vẹn. Ôn thấy ngay cái vô duyên vụng dại của tôi, nói trắng ra là cái tập khí u mê, ngu si dại dột của một thằng “mọi” chưa biết quý trọng kim cương hột xoàng. Ôn vỗ vai tôi, nói: “Thôi được rồi! Hôm sau tập tiếp”, rồi Ôn đứng lên về căn phòng bé nhỏ bên hông chánh điện. Từ đó đến nay, cứ mỗi lần nghĩ đến Ôn Già Lam thì lòng tôi lại dâng lên một niềm xấu hổ, tự trách mình không xứng đáng với những ân huệ mà Ôn đã dành cho mình. Nhất là khi Thầy Trí Hoằng bảo lãnh tôi đi tham quan Hoa Kỳ, nghe nói họ đòi biên lai thu thuế bất động sản của chùa, trong khi Thầy Trí Hoằng không còn ở chùa Hải Ấn, bang Connecticut nữa! Trong lúc tôi đang phân vân, buồn buồn, thì Thầy Trí Hoằng gởi Email, khích lệ: “Cứ nạp hồ sơ! Tịnh Minh đi đâu cũng có Ôn Già Lam nắm tay chỉ đường mà sợ gì!” Và đúng như vậy, khi phỏng vấn, họ chỉ hỏi tôi vài câu đại khái rồi chấp thuận hồ sơ ngay. Nhắc lại lời thầy Trí Hoằng, hai mắt tôi lại cay xè, nhòe nhoẹt, không thấy rõ nét chữ trên màn hình Computer.

Kính lạy giác linh Ôn, ước gì bây giờ được Ôn dạy hô canh trong một không gian tĩnh mịch như năm xưa, thì con sẽ ôm đầu gối Ôn, áp má lên đó mà nghe, mà luyện từng âm ba luyến láy. Tiếc thay: “Thời gian không chờ đợi ai” (Time waits for no one).

Nhân ngày về cội, và cũng là dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ôn (1909-2009), xin Ôn tha thứ cho con về cái tôi vụng dại đó để tâm tư con được nhẹ nhàng thanh thản như áng mây bay, không còn bị vướng kẹt trong vòng tư duy áy náy nữa. Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cuối Đông Mậu Tý, 2008

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/06/2013(Xem: 10332)
Cái khó nhứt của tôi là viết về cha tôi , một người rất nổi tiếng trong giới nghiên cứu nhạc Việt Nam và Á châu . Nếu viết khen nhiều hơn chê thì thiên hạ sẽ cho là thiên vị, là người trong nhà khen lẫn nhau . Dù ai có muốn nói gì, nghĩ gì, đối với tôi không quan trọng . Tôi viết về cha tôi cũng như tôi đã viết về nhiều nhạc sĩ, ca sĩ khác . Tôi chỉ ghi những gì tôi biết về cha tôi với một cái nhìn khách quan tối đa . Nhân dịp Lễ Các Người Cha (Father's Day), tôi ghi lại một số hình ảnh của một người cha, một người thầy và một nhà nghiên cứu âm nhạc đã mang lại cho nền âm nhạc Việt Nam những hào quang rực rỡ chói sáng trên thế giới mà chưa có ai có thể làm được cho tới ngày hôm nay.
30/05/2013(Xem: 17908)
Trong suốt gần hai nghìn nămhiện diện trên quê hương, chưa bao giờ Phật giáo Việt Nam phải đối diện vớinhững đe dọa và thách thức trầm trọng như trong gần bốn mươi năm giữa thế kỷthứ 20. Đó là giai đoạn mà Phật giáo phải chịu tác động của 3 cuộc khủng hoảnglớn
25/05/2013(Xem: 20578)
Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát mà chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử quen biết xa gần đều rất khó quên : Nơi các Đại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chẩn tế trong những ngày lễ hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đai chúng; nơi các bịnh nhân, Thầy là vị lương y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu Kinh ngắn chú nguyện, người bịnh mang về uống là có thể hết bịnh (đã có nhiều người hết bịnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…
12/05/2013(Xem: 8503)
Lời Người Dịch: Hồ sơ này đã giải mật theo luật Hoa Kỳ -- tuy vẫn còn xóa trắng 2 dòng ở trang 1, và xóa trắng hai trang 3 và 4 -- sẽ cho thấy cách nhìn từ chính phủ Mỹ về tình hình Việt Nam trong thập niên 1960s. Hồ sơ này cho thấy đánh giá từ phía tình báo Hoa Kỳ về Thầy Thích Trí Quang và hoạt động của Phật Giáo VN trong năm 1966, tức là ba năm sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Một vài đánh giá trong bản văn này bây giờ đã thấy là không chính xác, khi Mỹ dựa vào suy đoán để gán ghép một mục tiêu chính trị nào đó cho một hay nhiều vị sư. Tuy nhiên, bản văn này cho thấy cái nhìn từ phía tình báo Hoa Kỳ đối với Phật Giáo trong tình hình lúc đó đang gay gắt, và sẽ chiếu rọi thêm một phần vào lịch sử phong trào Phật Giáo.
23/04/2013(Xem: 13625)
Quyển NGỮ LỤC này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư DUYÊN LỰC trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hằng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi Thiền đường cho các hành giả tu Thiền, gọi là “đả thiền thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại để làm tài liệu tham khảo.
23/04/2013(Xem: 9180)
Như đã kết thiện duyên từ thuở ấy, Giọt mưa trời tưới ngọt đất Hồ Nam. Tiêu phụ thân và từ mẫu họ Nhan Dòng vọng tộc, làm quan Thanh triều đại.
22/04/2013(Xem: 9623)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 26415)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 8309)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 18383)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái