16. Một Vinh Dự Trong Đời

05/06/201307:55(Xem: 11440)
16. Một Vinh Dự Trong Đời

Đại lễ 50 năm tưởng niệm triân
Bồ Tát Thích Quảng Đức
Chư Thánh Tử Đạo vị phápthiêu thân
Chư Phật Tử vị pháp vong thân
Để cho Phật Giáo được sốngcòn
Để ngọn cờ Phật Giáo đượctiếp tục tung bay
Để Phật Giáo tồn tại đến hômnay
Và truyền lưu đến tận tươnglai
Được tham dự
Đó là một vinh dự
Hãy trân trọng phủ phụcnghiêng mình
Tâm tâm niệm niệm tôn vinh
Như như nhất nhất nghiêm minh
Hòa cùng đại thể cung cung bái bái
Ngọn lửa thiêng bất tuyệt, như Diệu Cao đỉnh núi
Tim Bồ Tát bất tử, như chót ngọn Tu Di
Ân Chư Thánh Tử Đạo, bất khả tư nghì
Đức Chư Thánh Tử Đạo, trùm vô biên xứ
Ngân hà lặng thinh
Xuyến xao vũ trụ
Trăng sao vần vũ
Trầm lắng thái hư
50 năm trước, nửa thế kỷ ư
50 năm sau, lại tròn thế kỷ
Được tham dự
Đó là một vinh dự
Hãy bặt tâm bặt ý
Hãy bặt niệm vô ngôn
Hãy khép mình như cá thể quyện càn khôn
Chứ sao hỏi đứng ở đâu và làm gì trong đó
Nhỏ, thử nhìn hạt bụi li ti cho rõ
Lớn, thiên hà đại địa lọt bũm chân lông
Nhìn xem sắc sắc không không
Hỏi xem có có không không là gì
50 năm, là dấu ấn
Dấu ấn, nửa thế kỷ đi qua
Dấu ấn, 50 năm nhìn lại
Thời nào cũng qua
Thế nào cũng qua
Nhưng
Phật Pháp trường tồn
Pháp luân thường chuyển
Tăng Tín đồ tâm tâm nguyện nguyện
Người con Phật nhất nhất như như
Vô thỉ không dư
Vô chung không thiếu
Ngọn lửa thiêng thường hằng phổ chiếu
Thánh Tử Đạo vĩnh trụ ngưỡng tôn
Lửa thử vàng, vàng thật mới son
Tâm thử sức, tâm như bất hoại
Tri ân tưởng niệm Thánh Tử Đạo
Nếu có hỏi, phải hỏi
Đã đóng góp được gì và làm gì cho trọn
Đã cống hiến được gì và làm gì cho tròn
Chứ sao mang bọt bèo cặn bã phết son
Những hư vinh giả huyễn đẳng đeo phù thế
Hãy khép mình vào cùng đại thể
Hãy hòa cùng đại chúng ngưỡng tôn
Tay chung tay, lòng chung lòng
Tâm hiệp tâm, ý hiệp ý
Chư Thánh Tử Đạo, Tu Di đỉnhnúi
Gương Thánh Tử Đạo, bất tuyệtDiệu Cao
Năm mươi năm trước, rúng độngtrăng sao
Năm mươi năm sau, ngân hà xaoxuyến
Tâm nguyện lực, trùng trùnghóa chuyển
Đại đức ân, thế thế truyềnlưu
Hoa Đàm vĩnh trụ Vô Ưu
Ta Bà kham nhẫn, Phật từ độsanh.
1963 – 2013
T Nhật Tân
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/05/2012(Xem: 26199)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9224)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12495)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9305)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 24677)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 13340)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8805)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.
31/03/2012(Xem: 9746)
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, tự Liễu, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chơn Loan. Năm lên 3 tuổi, thân phụ Ngài qua đời, thân mẫu tảo tần nuôi con và cho Ngài theo học chữ Nho với các cụ đồ trong làng, được 5 năm mới chuyển sang học Việt văn.
23/03/2012(Xem: 8910)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
21/03/2012(Xem: 9193)
Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng của các Phật học viện Báo Quốc Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn. Cuộc đời của Ngài phần nhiều cống hiến cho việc đào tạo tăng tài và sự nghiệp hoằng pháp cho Đạo Phật Việt Nam hơn là những lãnh vực phật sự khác.