ÂN SƯ

29/05/201320:21(Xem: 6718)
ÂN SƯ

94nitruongnhuhoa

ÂN SƯ

(Thành kính tưởng niệm Ni Trưởng thượng Như hạ Hoa)

Khi nói đến Ân Sư, Sư trưởng hay Giáo thọ Sư. Tất cả đều là tên gọi chỉ cho những bậc Thầy tinh thần, hình thành nên giới thân huệ mạng của người con Phật. Vị Ân Sư mà tôi muốn nói đó là vị Thầy Bổn Sư, người đã trực tiếp đứng ra tác lễ quy y và thế phát cho tôi. Ni Trưởng thượng Như hạ Hoa. Cầm bút viết về Thầy, khi bên ngoài lất phất những hạt mưa nhẹ, thoáng đâu đó cái lạnh dần đổ về. Trong tôi dâng lên bao nổi hoài niệm, cảm nhớ ơn Thầy và hình ảnh Thầy cứ dần hiển hiện trước mắt tôi.

Nhớ lại từ thuở xuất gia nương Thầy tu học, trong số đệ tử của Thầy, có thể nói tôi là người có tánh dị biệt và ngang bướng nhất. Có lẽ vì vậy mà Thầy tôi đã phải thương lo và quan tâm tôi nhiều hơn trong số huynh đệ. Nói như vậy không có nghĩa là tôi luôn được Thầy cưng chìu và cận kề bên Thầy đâu. Bởi thời đó tôi còn nhiều thô vụn lắm, đã vậy thì đừng mong có được cơ hội hầu Thầy. Tuy không được gần Thầy, nhưng tôi không bao giờ có cảm giác Thầy xa cách mình cả. Ánh mắt từ bi và nụ cười bao dung của Thầy đã nói lên được điều này. Vào mỗi khi Thầy đi Phật sự nhiều ngày mới về lại Bổn tự, thấy bóng Thầy ngoài cổng là tôi mừng vui đến reo hò lớn tiếng như trẻ nhỏ mừng mẹ về. Thầy tôi với ánh mắt đầy tình thương và niềm hoan hỷ, khẻ nhìn tôi nở nụ cười rồi nhè nhẹ nói:

- Con đừng lớn tiếng như vậy, đã là Sa di rồi, oai nghi tế hạnh của một cô Ni, con nhớ cần phải giữ gìn.

Tôi nhoẻn miệng cười tươi rồi lại lớn tiếng thưa vang:

-Dạ thưa Thầy con biết rồi!

Ngay đó, hai tay vội bưng miệng, vì biết mình đã phạm lại lỗi lầm. Thay vì quở rầy, Thầy chỉ lại cười và nhẹ nhàng bước đi. Tôi nối gót theo sau mà nghe lòng vui sướng lạ. Niềm vui sướng được đi bên Thầy dù chỉ vài mươi bước...!

Trong sự tu hành, tuy tôi có được nhiều may mắn hơn người, nhưng cạnh đó vẫn là trùng trùng nghiệp chướng luôn bủa vây, khiến cuộc sống tu hành của tôi luôn rất nhiều chìm nổi, lênh đênh, hoạn họa, oan khiên luôn tìm đến tôi không một chút nhân nhượng. Đã đôi lần tôi muốn bỏ cuộc vì mệt mõi, chán chường và tuyệt vọng. Bởi con đường tu sao mà gian nan quá! Nhưng không hiểu sao mỗi lần gặp nạn, mỗi khi có ý định buông xuôi tất cả thì Thầy luôn là người duy nhất bên cạnh giải nạn cho tôi, vực tôi đứng dậy mỗi khi tôi ngã dài trong lý tưởng tu hành. Và với tất cả tình thương, sự kiên nhẫn, Thầy luôn từng bước dắt dìu,an ủi, động viên, khuyến tấn :

- Huệ Nhật, con không được ngã, con hãy cố gắng vững tin mà đi tới…!

Câu nói tuy ngắn gọn nhưng nơi đó dung đầy tình thương của Thầy và tôi luôn nương vào đó mà lần bước đi tới, mãi đến bây giờ , hai mươi sáu năm rồi..!

Hai mươi sáu năm, ngần ấy thời gian, thế mà tôi vẫn chưa có được thành quả lớn lao gì trong tu học, để có thể kính dâng lên Thầy, như một món quà thay cho lòng hiếu đạo.

Người xưa nói : “Khi Thầy còn sống, đệ tử nên theo hạnh Thầy mà hành theo. Khi Thầy qua đời, nên xem nguyện Thầy mà noi theo”

Khi Thầy tôi còn hiện thế, lập hạnh, lập nguyên của Thầy nhiều lắm. Với đức tính nhẫn hòa, khiêm nhượng, nhân từ và độ lượng, Thầy luôn là hình ảnh tiêu biểu của một Đức Ni mô phạm khả kính được bao người ngưỡng quý, mến thương. Không biết phước duyên bao đời, tôi may mắn được nương Thầy thế độ. Nhưng có lẽ, trong đời tôi vẫn còn quá nhiều nghiệp chướng sâu dày, thế nên, dù cố gắng nhiều trong tu tập, nhưng tôi vẫn không thể noi theo được hạnh sáng của thầy. Có lẽ vì vậy mà trên bước đường tu hành tôi luôn gặp thất bại nhiều hơn là thành công, bị khiển trách nhiều hơn là khích lệ. Thật hổ thẹn thay khi nói lên lời này !

Nhiều lần tôi tự hỏi lòng mình :Mình phải thế nào đây đểđáp ân Thầy Tổ ?

Một vai trò trụ trì với mái cong Phật lớn, đệ tử đông vầy ?

Một giảng sư thuyết pháp (đó đây ) được nhiều người biết đến ?

Một vài học vị cao trong Phật học ? hay một thành đạt nào đó trong địc vị Giáo hội ?

Mọi điều như thế, có thể nói lên được lòng hiếu đạo của đệ tử đối với Ân Sư hay không ?

Nhớ thuở xưa kia, thiền sư Thần Tán sau nhiều năm du phương tham học với Tổ Bách Trượng. Sau khi ngộ được bản tâm, được tổ Bách Trượng Ấn chứng, liền đó Ngài trở về ngôi chùa củ, nơi chốn của Thầy bổn sư, tiếp tục lặng lẽ với công việc hầu Thầy, làm điệu.

Để đáp ơn Thầy thế độ, thiền sư Thần tán rất muốn giúp Thầy mình cũng được kiến tánh như Ngài. Thế nên, Ngài đã vận dụng mọi phương tiện hết lần này đến lần khác, với hy vọng một ngày rất gần Thầy mình sẽ liễu ngộ bản tâm.

Một hôm, nhân lúc vị Thầy đang chăm chú xem kinh. Ngài Thần Tán đứng bên hầu quạt, chợt thấy con ruồi đang lui hui nhủi đầu vào cửa sổ để tìm lối ra., Ngài Thần Tán liền lớn tiếng nói:

- Thế giới thênh thang rộng mở, sao không chịu ra, lại cứ dùi đầu vào cánh cửa biết đến khi nào mới ra được ?

Liền đó Ngài tiếp bài kệ :

Không môn bất khẳng xuất

Đầu song giả tự si

Bách niên toàn cố chỉ

Hà nhật xuất đầu thì

Tạm dịch:

Cửa trống chẳng chịu ra

Chui cửa sổ thật si

Trăm năm dùi giấy cũ

Ngày nào thoát ra được.

Vị Thầy nghe đệ tử mình nói thế, ngẩng đầu lên nhìn Ngài với đầy vẻ ngạc nhiên, rồi sau đó cuối đầu xem tiếp trang kinh mà không nói lời gì.

Lại một lần khác, nhân khi kỳ lưng cho Thầy, Ngài vỗ nhẹ trên lưng Thầy mà nói:

- Điện Phật tuy đẹp mà thánh không linh

Vị Thầy nghe thế liền nhìn Ngài, Thiền sư Thần Tán lại nói tiếp:

- Tuy Phật không thánh linh, nhưng vẫn có thể phóng quang..!

Sau khi tắm xong, vị Thầy liền hỏi Ngài Thần Tán :

Ngươi đi phương xa học đạo đã ngộ được gì ?

Ngài Thần Tán liền thưa:

- Con ở chỗ của Tổ Bách Trượng đã thấy được con đường tu hành, nay muốn báo đáp ơn Thầy.Liền đọc bài kệ của Tổ Bách Trượng :

Linh quang độc chiếu, quýnh thoát căn trần

Thể lộ chơn thường , bất cầu văn tự

Tâm tánh vô nhiễm, bổn tự viên thành

Đản ly vọng duyên, tức như Chư Phật.

Sau khi nghe xong bài kệ, vị Thầy liền tỏ ngộ khai tâm, bèn trãi tọa, theo pháp thỉnh Ngài Thần Tán đăng tòa thuyết Pháp.

Trong tâm mắt tôi, hình ảnh đó đẹp và cao vút làm sao! Việc làm đáp đền ân Thầy của thiền sư thần tán, nếu không là Bậc Đại khí, Đại lực, Đại hiếu thì sao có được hiếu Đạo, hiếu Tâm tuyệt vời như thế !

Ôn lại gương sáng người xưa, trong tôi dấy lên bao niềm ưu tư, vẫn câu tự vấn: “Phải thế nào đây để cân xứng ân Thầy ?”

Những Bậc đại tu xưa kia dùng sự đạt ngộ để báo đền thâm ân. Còn đối với tôi, một người tối căn, đa nghiệp, mạt hoc… Phải chăng tôi chỉ có thể bắt đầu bằng vào sự tu hành với tất cả thật tâm, thật nguyện, luôn phản hồi chính mình, từng bước đi tới trong sự dắt dìu đầy tình thương của Thầy, dù rằng Thầy nay đã đi rồi.

Một nổi hoài niệm, một nổi ngậm ngùi. Đốt nén tâm hương, con thành tâm khấn nguyện Giác Linh Thầy chứng tri !

Mây đi ai biết bao giờ lại

Xa cách chân trời dấu nhạn bay

Ánh lửa về đâu khi diêm tắt

Ai nghe tiếng vỗ một bàn tay …!

Perth. Tháng 4 năm 2007

Như Nhật

DSC00016

KHOẢNG CÁCH

Mỗi buổi sáng đi học, thay vì ngồi xe đến trường thì tôi lại chỉ thích đi bộ mà thôi. Những lúc như thế tôi có dịp tiếp xúc với bầu trời xanh, ngắm nhìn mây trắng bay và từng đàn chim lượn cánh hót vang, hít thở không khí trong lành của xứ Úc, ngưởi được mùi thơm của cỏ cây và vui cười cùng hoa lá. Tất cả tạo nên bức tranh thiên nhiên đầy sức sống.

Đi dọc theo những lối nhỏ, tôi lại có dịp ngắm nhìn những dãy nhà rất đẹp, rất xinh và trang nhã. Nhà cửa nơi xứ Úc được dựng xây một cách rất thanh nhã và thoáng mát, mà không nhiều cầu kỳ, lộng lẫy như những nơi khác, khiến người nhìn vào luôn có được cảm giác nhẹ nhàng và yên tỉnh. Mỗi nhà đều cách nhau bởi những khoảng đất rộng và được phân chắn bởi những bờ tường khá cao, không nhiều kiên cố nhưng đầy khoảng cách cho nhau.

Khác hẳn với quê hương mình, người ở đây nhà ai nấy ở, không ai qua lại với ai cả. Người ta có thể cả năm suốt tháng không biết mặt nhau, không nói với nhau một lời, dù hai nhà sát cạnh bên. Họ thật sự không có thời gian để nhìn nhau, phần lớn tất cả đều đổ dồn cho việc kiếm ra tiền, phần thời gian còn lại quá ít ỏi, không đủ để trang trãi cùng với người thân là vợ hay chồng, là con hay Mẹ… nói chi đến những người đâu đó cạnh nhà. Có qua đây rồi, tôi mới thấy được giá trị và sức mạnh của đồng tiền là như thế nào. Tất cả mọi người đều phải làm việc hết sức mình để đáp ứng cho nhu cầu sống quanh mình. Nhìn ra cuộc sống bên ngoài, ai ai cũng quá nhiều lo toan, chạy đuổi theo cơm áo, bạc tiền, danh thơm tiếng tốt và sự hưởng thụ nào đó. Còn những người như chúng tôi lẽ ra phải nhiều thảnh thơi lắm, bởi là con Phật mà. Ấy thế mà chúng tôi cũng phải bộn bề, lo tính bởi viêc dựng chùa, xây đạo tràng và cái gì đó gọi là Phật sự. Rồi thì cùng phải mọi điều cần phải có cho một ngày mai… Và thế là cũng như bao người, phải phương tiện hóa, với mọi diệu dụng quyền biến để có ra thu vào. Cuối cùng nhìn chung chẳng ai thoát ra khỏi lưới giăng của bạc tiền !

Như vậy cũng hay, bởi vì không còn ai còn nhiều sự ỷ lại bởi sự ban cho từ người, hay từ đấng thần linh, Phật trời. Và cũng nơi đây mọi người đều nhận ra được khả năng tự lực vốn có nơi chính mình.

Cuộc sống nơi đất Úc rất nhiều ổn định so với những quốc gia khác và thật sự là một nơi rất an bình, hiền hòa. Tôi có cảm giác hình như bao điều tốt lành đều đổ dồn cho xứ sở này. Một nơi có rất nhiều chủng tộc chung sống với nhau. Có quá nhiều sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, truyền thống… Ấy vậy mà tất cả đều có thể đến với nhau trong công việc một cách trôi chảy, từ đó dễ dàng có ra mọi điều cho chính mình và gia đình mình. Tuy nhiên, đời sống vật chất càng dư thừa bao nhiêu thì tình người càng thu hẹp lại bấy nhiêu. Người ta có thể cho ra bao lời nói vui đầy khách sáo, đẩy đưa ngoài miệng, nhưng lời nói thật và để đến với nhau trong chơn tình thì hiếm hoi quá, khó quá..! Trong vô tình hay dường như là một nguyên tắc chung của cuộc sống, ai nấy cũng đã và tự giam thêm mình trong những lồng son sơn thếp mà nơi đó chỉ có mặt dẫy đầy của sự ích kỷ, hơn thua, toan tính, của tranh chấp được còn… và để rồi không ai có thể đến cùng ai.

Mọi người thật sự đã quên mất một điều, chúng ta đang cùng đứng chung một mảnh đất và cùng thở bầu không khí chung của cả nhân loại.

Ước mong sao nhà với nhà chỉ ngăn cách bởi bờ tường, hay chỉ là hàng rào, bờ cỏ dại, mà không ngăn cách bởi tình người biết sống cho nhau

Để mỗi khi bình minh trở giấc, ánh mặt trời chiếu sáng, cả hai bên đều có thể chia cho nhau nụ cười và màu tươi của cuộc sống.

Như Nhật

(xem tiếp)

----o0o---


Vi tinh & trình bày: Thanh Phi - Như Trí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2016(Xem: 14667)
Không hiểu vì sao khi chú mất, tôi lại nghĩ mình cần phải viết điều gì đó cho chú, và chính tôi mới hợp nhất trong vai trò người viết này. Có lẽ vì trong quan hệ giữa tôi và chú có cả hai cực Dương và Âm thuần tịnh nhất để tạo nên một khối chân thực. Chính tôi là người chống và phê bình chú nhiều nhất và cũng chính tôi đã thấu được lòng yêu thương chân thành của chú đến người Việt ở đây và nỗi khát khao đem Phật pháp đến cho họ. Và tôi viết những dòng này cho chú.
17/05/2016(Xem: 23657)
Ngày Hoan Hỷ, Tập Văn Kỷ Niệm Khóa Huấn Luyện Trụ Trì năm Đinh Dậu 1957_HT Thích Thiện Hòa
01/05/2016(Xem: 11365)
HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG BỬU - Tự TRÍ BIỆN Hiệu MINH TRÍ - Đệ Nhị Trú Trì Tu Viện Nguyên Thiều - Giám luật – Giáo thọ Trường Trung Cấp Phật Học Bình Định Thôn Đại Lễ, Xã Phước Hiệp, Huyện Tuy Phước, Tỉnh Bình Định. Qua thời gian lâm bệnh, Hòa thượng đã thuận thế vô thường thâu thần thị tịch vào lúc: 00 giờ 55 phút, ngày 01 tháng 05 năm 2016 (Nhằm ngày 25 tháng 03 năm Bính Thân), tại Tu viện Nguyên Thiều. Trụ thế 73 năm – Tăng lạp 44 năm. - Lễ Nhập Kim Quan vào lúc 15 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 05 năm 2016. (ngày 25 tháng 03 năm Bính Thân) - Lễ Viếng bắt đầu vào lúc 19 giờ ngày 01 tháng 05 đến 19 ngày 03 tháng 05 năm 2016 (từ 25-27 tháng 03 năm Bính Thân). - Lễ Nhập Bảo Tháp vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 05 năm 2016 (ngày 28 tháng 03 năm Bính Thân) trong khuôn viên Tu viện Nguyên Thiều.
28/04/2016(Xem: 12256)
Năm 2013 vừa qua, chúng ta vừa cử hành trọng thể Lễ Kỷ Niệm 50 năm Bồ Tát Quảng Đức khắp nơi trên thế giới. Một con người vĩ đại với một hy sinh vĩ đại vì tiền đồ đạo pháp và dân tộc, không bút mực nào tả xiết, không có sự hy sinh nào có thể sánh bằng, thật như lời thơ của thi sĩ họ Vũ: “Một Mặt Trời Mới Mọc“.
25/04/2016(Xem: 20849)
Hôm nay Thứ bảy 23/4/2016, Chúng con môn đồ pháp quyến, đệ tử cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức Tăng, Ni quang lâm Chùa Duyên Giác, San Jose, CA, USA. Chứng Minh Lễ tưởng niệm Cung tiến Giác Linh cố Thượng Tọa Thích Minh Phát, Lễ Giổ tưởng niệm Ân Sư lần thứ 20, có sự Chứng Minh của Chư Tôn Đức: HT. Thích Minh Đạt, HT. Thích Thái Siêu, HT. Thích Nhựt Huệ, TT. Thích Tâm Phương, TT. Thích Đồng Trí, TT. Thích Minh Thiện, cùng Chư Tôn Đại Đức Tăng, Quý Sư Bà, TN. Nguyên Thanh, NS. TN. Như Phương, Ns. Tn. Quảng Tịnh, cùng chư tôn đức Ni, đáp lời cung thỉnh quang lâm chứng minh hộ niệm. Môn đồ Pháp quyến Thành kính đảnh lễ tri ân Quý Ngài, sau đây những hình ảnh được ghi lại.
14/04/2016(Xem: 16680)
HT Tăng Giáo Trưởng còn nổi tiếng là người trực tánh, nói thẳng, nhất là việc phá tà hiển chánh, những điều trái ý nghịch lòng HT ít khi giấu kín trong lòng. Một lần nọ, HT đến dự hội thảo về Giáo Dục tại Victoria Uni do GS Phan Văn Giưỡng mời, trong hội nghị trường có trên 20 Giáo Sư Đại Học khắp thế giới, một bà giáo sư đến từ Anh Quốc đứng lên chỉ trích giáo lý Bát Chánh Đạo của Phật Giáo, ý nói rằng Giáo lý này có gì hay ho đâu mà mỗi lần đến hội nghị cứ nghe các đại diện PG cứ nhắc đi nhắc lại hoài, thật là nhàm chán. HT Tăng Giáo Trưởng không dằn lòng được sự chỉ trích vô minh này, Ngài đã đứng lên hỏi ngay " thưa GS, GS làm nghề gì ? tôi dạy học " , " học trò của GS có hiểu bài GP giảng không ? có, vậy GS có đi ăn trộm không ? bà GS há hốc mồm khi nghe câu hỏi chói lỗ tai này. Nhưng HT đã chúc mừng bà GS đã sống theo giáo lý chánh nghiệp, chánh mạng, chánh ngữ, chánh tư duy của Bát Chánh Đạo rồi mà không hề biết, cả hội trường đều vỗ tay tán thán HT và bà GS sau đó đã đến xin lỗ
12/04/2016(Xem: 16545)
Trong phiên họp của Hội Đồng Điều Hành của GH vừa qua tại Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu kỳ 15 tại Sydney, đã quyết định tổ chức Đại Lễ Tri Ân nhị vị Hòa Thượng Trưởng Lão của Giáo Hội là Trưởng Lão Tăng Giáo Trưởng HT Thích Huyền Tôn và Trưởng Lão Chứng Minh Đạo Sư HT Thích Như Huệ. Buổi lễ sẽ tổ chức long trọng trong dịp Chư Tôn Đức về dự Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17 của GH tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Để cho buổi lễ tri ân được thập phần viên mãn, Ban Biên Tập Trang Nhà Quảng Đức xin gởi Thư Ngỏ này tha thiết kính thỉnh Chư Tôn Đức và quý Phật tử gần xa, hoan hỷ viết bài (thơ, văn, cảm niệm...) và gởi hình ảnh lưu niệm về nhị vị Trưởng Lão Hòa Thượng, nhất là những hình ảnh mang tính lịch sử như Lễ Đặt Đá Xây Dựng Chùa, các Khóa Tu, các kỳ Lễ lớn trong năm... tất cả những tài liệu này đều quý báu, ghi đậm dấu ấn bước chân hoằng pháp lợi sinh của nhị vị Trưởng Lão. Xin quý Ngài và quý vị hoan hỷ gởi tài liệu qua email: [email protected] trước ngày 20-04-2016 để Ban
26/03/2016(Xem: 11633)
Viên Giác tự – Chùa xưa còn đó mà Thầy đã quãy dép quy Tây Chùa Viên Giác tọa lạc trên một khu đất rộng trên đồi cao tại Cầu Đất, xã Xuân Trường, Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm thành phố ngàn hoa khoảng chừng 30 km về hướng Đông Nam, trên độ cao 1650 m. Điểm nhấn của Cầu Đát có đồi chè với màu xanh ngắt ngút ngàn là một trong hai điểm đến mới nổi cực kỳ thu hút khách du lịch Đà Lạt tới tham quan. Trải dài trên diện tích 230 ha, đồi chè Cầu Đất dễ khiến những tín đồ của màu xanh lá phải bàng hoàng ngỡ ngàng trước cảnh sắc “đất xanh ngắt, trời xanh trong”. Thêm vào đó, không gian yên tĩnh, không khí mát lành cùng hương gió vấn vương vị chát chát đặc trưng của chè càng khiến Cầu Đất thêm phần hấp dẫn và lôi cuốn. Năm ở độ cao khoảng trên 1000m so với mực nước biển nên cảm nhận đầu tiên khi dừng chân tại chùa Viên Giác – Cầu Đát chính là nền nhiệt khác hẳn với quãng đường bạn đã băng qua trước đó. Vừa đến chân đồi việc đầu tiên cảm nhận được chính là sương mù. Đặc biệt vào nhữn
21/03/2016(Xem: 16170)
Chùa Đức Viên được Sư Bà Đàm Lựu sáng lập vào năm 1980. Sư Bà người làng Tam xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Việt Nam. Xuất gia từ nhỏ tại chùa Cự Đà, năm 1951, Sư Bà thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1952, Sư Bà học đạo tại chùa Dược Sư, Sài Gòn. Năm 1964, Sư Bà đi du học ở Tây Đức. Năm 1979, Sư Bà đến Hoa Kỳ. Năm 1980, Sư Bà về thành phố San Jose hành đạo và sáng lập chùa Đức Viên. Sau 19 năm tận tụy, chăm lo việc đạo, việc đời, Sư Bà quy Tây năm 1999. Việc tiếp tục kiến tạo ngôi già lam trang nghiêm, an tịnh, nổi tiếng được các Ni sư Đàm Nhật, Ni sư Đức Hòa cùng Ni chúng và quý Phật tử tín tâm thực hiện trong nhiều năm qua.
11/03/2016(Xem: 33435)
Tin từ Thượng Tọa Thích Nguyên Đạt, Chùa Việt Nam, Texas, hôm Thứ Năm, 10-3-2016, cho biết rằng Thầy Thích Nhuận Châu, tại Thành Phố Tampa, Florida đã tịch vì tai nạn xe. Theo bản tin của trang mạng Đài Truyền Hình Bay News 9 hôm Thứ Tư, 9-3-2016, được cập nhật hôm Thứ Năm, 10-3, chi nói đến một người đàn ông 40 tuổi mà không cho biết danh tánh là ai, nhưng tin từ Thầy Nguyên Đạt cho biết đó là Thầy Thích Nhuận Châu. Sau đây là bản dịch tin của trang mạng Bay News 9.