Tiết III

02/05/201317:25(Xem: 7589)
Tiết III


TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

CHƯƠNG III

TIẾT III

GIẢI-THÍCH BÀI KỆ SÁM-HỐI

Trong phần giải-thích nầy, xin được giải-thích sơ qua về ý-nghĩa của bài kệ SÁM-HỐI:

1. QUY-MẠNG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT:

- Quy là quy-y,

- Mạng là thân-mạng - Ðây tức là thân tứ đại của mình.

Hai chữ QUY-MẠNG nầy có nghĩa là:

- Ðem cả thân-mạng của mình mà quy-y, nương-tựa vào nơi PHẬT.

- MƯỜI PHƯƠNG PHẬT: Tức là chư PHẬT ở trong tất-cả quốc-độ khắp mười phương.

Như vậy câu kệ trên có ý dạy rằng:

- Nay con đem hết cả thân-mạng của con mà quy-y, nương về nơi chư PHẬT khắp mười phương (nói chung)- và riêng về đức A-DI-ÐÀ Như-lai nơi cõi Cực-Lạc.

Ðây là quy-y PHẬT bảo.

2. TÔN PHÁP, HIỀN THÁNH TĂNG:

Trên đã quy-y ơi PHẬT bảo rồi, thì kế tiếp đây con cũng xin (nguyện đem cả thân-mạng mình) mà quy-y nơi PHÁP-BẢO và TĂNG BẢO nữa.

Hai câu kệ nầy đã nêu rõ lên sự thành-tâm "QUY TAM-BẢO" của mình - và của chư liên-hữu, bổn-đạo khác nữa.

3. TAM THÁNH Cõi Cực-Lạc:

Câu kệ nầy ý dạy như sau:

- Vì con đang tu theo giáo-môn TỊNH-ÐỘ, nguyện "Một đời đới nghiệp vãng-sanh, được bất thối-chuyển" về cõi Cực-lạc nên sau khi quy-y TAM-BẢO khắp 10 phương xong rồi... Kế tiếp đây con cũng xin nguyện đem thân-mạng của mình, riêng quy-y và nương về nơi "Tây-Phương tam-thánh" là: A-DI-ÐÀ PHẬT, QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT, ÐẠI THẾ-CHÍ BỒ-TÁT...

4. XIN THƯƠNG-XÓT CHỨNG-MINH:

Câu kệ nầy ý dạy như sau:

a. Nguyện xin 10 phương Tam-bảo thương xót con, chứng-minh cho tâm tha-thiết quy-mạng của con (về ba ngôi Tam-bảo).

b. Nguyện xin Tây-phương Tam đại Thánh Từ-Tôn, chứng-minh cho tâm của con (lúc nào cũng) quy-hướng về nơi Cực-lạc (Mà tiếp-dẫn, dắt-dìu cho con được vãng-sanh).

5. VÔ-THỈ KIẾP ÐẾN NAY:

Câu kệ nầy ý dạy như sau:

- Nguyên con đây từ đời vô-thỉ xa-xưa (tức là thời-gian cực-kỳ lâu xa về trước, không thể nào tính đếm hay nghĩ-tưởng biết được cho đến kiếp đời hiện tại hôm nay)....

6. CON MÊ-LẠC LUÂN-HỒI:

Con vì mê tâm, muội tánh, nên cứ mãi chạy theo thói đời điên-đảo của phàm tình chúng-sanh, đam-mê nơi ngũ-dục (1), lục trần (2). Do vì như thế nên phải bị luân-hồi trong sáu nẻo: Trời, thần, người, địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh, mãi cho đến bây-giờ đây, nơi kiếp hiện tại nầy, cũng chưa giải-thoát được.

7. DO BỞI THAM, SÂN, SI:

Sở-dĩ như thế là vì con cứ mãi để cho tâm mình luôn-luôn:

a. THAM: Tham ngũ-dục, tham lục trần ... (Sắc, tài, danh, lợi, vv...)

b. SÂN:Sân-hận, nóng giận, chẳng có từ-bi.

c. SI: Ngu muội, vô-minh, không có trí-huệ, không chịu gần minh-sư, thiệu-hữu vv....

8. TỪ NƠI THÂN KHẨU Ý:

Các tội-lỗi đó, nó làm cho con cứ mãi bị luân-chuyển nơi ba cõi, sáu đường, thật ra không phải là do ai mang đến cho con hết, mà chính là tự nơi con (vì ngu muội)mà gây tạo ra thôi.

Như là:

- Thân con (vì ngu muội) mà sanh ra: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm.

- Khẩu con (vì ngu muội) mà sanh ra: Nói dối, nói hung ác, nói thêu-dệt, nói đôi chiều.

- Ý con (vì ngu muội) mà sanh ra: Tham-lam, nóng giận, si mê.

Các tội như thế thiệt là do ở nơi con: Tự mình tạo ra hết cả.

9. TẠO TỨ TRONG, NGŨ NGHỊCH:

Ngoài các tội của: Thân, khẩu, ý ra, con còn gây-tạo thêm các tội ác khác nữa như là:

a. Tứ trọng: Dâm tà (tà dâm), Sát (giết hại), Ðạo (trộm cắp), vọng (nói dối).

b. Ngũ-nghịch: Giết cha, giết mẹ, làm cho thân PHẬT ra máu, phá hoại hòa-hợp tăng, làm ô-nhục người tu tịnh-hạnh.

10. THẬP ÁC VÔ-BIÊN TỘI:

- Thập ác là 10 điều ác do thân, khẩu, ý gây ra (giảng ở câu kệ thứ 8 trên).

Ngoài các tội căn bản là: Tứ trọng, ngũ-nghịch, thập-ác trên, con vì vô-minh ngu muội, nên còn gây tạo ra thêm vô-lượng, vô-biên các tội-nghiệp khác nữa, không làm sao mà kể ra cho xiết được (Nếu các tội ấy mà có hình-tướng thì 10 phương hư không chẳng thể nào dung chứa cho hết).

11. NAY ÐEM TÂM CHÍ THÀNH:

Nay con:

- Ðối trước Tam-bảo khắp 10 phương,

- Ðối trước Tây-phương Tam-đại thánh Từ-tôn. (là DI-ÐÀ, QUÁN ÂM, THẾ-CHÍ)đem hết tất-cả tâm chí thành, trân-trọng, dâng lên Tam-bảo để xin được ...

12. PHÁT LỒ CẦU SÁM-HỐI:

Chứng-minh cho con, để con được:

- Bày-tỏ ra các tội ác của mình, không dám che giấu - Bởi vì chư PHẬT, chư Bồ-tát, chư hiền thánh tăng, có "tha tâm thông" biết rõ từng ý-niệm, thấy rõ từng tội-ác của con, không phải chỉ trong một đời mà là trong nhiều đời đã qua, thảy đều thấy biết rõ-ràng... như chính những tội-ác mà con mới tạo ra ngay trong ngày hôm nay vậy.

Các tội-ác như thế, nay con thành-tâm phát-lồ và cầu xin được sám-hối.

Nguyện chư PHẬT chứng-minh cho.

13. NGUYỆN NHỜ SỨC GIA-TRÌ:

Con nguyện xin chư PHẬT, chư BỒ-TÁT, chư Hiền Thánh-Tăng thương xót con, dùng sức thần-thông và nguyện-lực của quý NGÀI mà gia-hộ cho con được minh-tâm, kiến-tánh, trí-huệ sáng-suốt để con mãi-mãi được lánh ác, gần lành.

14. CHÚNG-SANH ÐỀU THANH-TỊNH:

Chúng-sanh đây có 2 loại:

a. Nội chúng-sanh: Là các sân-si, phiền-não, điên-đảo, vọng-tưởng, sân-hận vv... trong tâm của mình.

b. Ngoại chúng-sanh: Là các sân-si, phiền-não, điên-đảo, vọng-tưởng, sân-hận vv... của các người khác chung-quanh mình.

Nguyện xin gia-hộ cho con được:

- Trong thân, tâm con thanh-tịnh.

- Ngoài thì tất-cả chúng-sanh thân-tâm cũng thảy đều thanh-tịnh.

15. XIN PHÁT ÐẠI BỒ-ÐỀ:

Con nay xin đối trước chư PHẬT, và riêng nơi đức A-DI-ÐÀ thế-tôn, nguyện phát-tâm vô-thượng Bồ-đề, trên cầu thành Phật-quả, dưới thề nguyền độ khắp chúng-sanh.

16. ÐỘ MÌNH, NGƯỜI GIẢI-THOÁT:

Vì Tổ-sư có dạy:

Tu đức độ mình,

Ðộ khắp thế nhân ...

Nên hôm nay con xin phát nguyện:

- Sẽ y theo lời PHẬT dạy, lánh dữ, làm lành và chăm lòng tu-tập, gìn một câu niệm A-DI-ÐÀ PHẬT, cầu được vãng-sanh. Khi con đã vãng-sanh về cõi Cực-lạc rồi, con sẽ nương theo đại nguyện của PHẬT và của chính-mình, hiện-thân trở lại cõi Ta-bà (nói riêng) và khắp cả mười phương (nói chung)để độ hết các loài hàm-thức, khiến cho tất-cả đồng nhau thoát ra khỏi biển khổ, sông mê nơi ba cõi, sáu đường, sanh về Cực-lạc.

Nam-mô

Cầu SÁM-HỐI BỒ-TÁT

Ðến đây, là phần đảnh-lễ để cầu xin chứng-minh, gia-hộ ở nơi:

- CẦU SÁM-HỐI BỒ-TÁT là một vị Ðại Bồ-tát, mà mỗi khi mình đọc đến tên Ngài và trong tâm phát khởi ra ý-niệm tha-thiết sám-hối, thì lập-tức phát sanh ra một sự "cảm-ứng đạo-giao" đến NGÀI và NGÀI liền hiện đến chứng-minh.

Vị Bồ-tát nầy có một nguyện-lực là:

- "Nếu có chúng-sanh nào nghe danh-hiệu hoặc thấy hình tôi, thì đều được tiêu-trừ hết tất-cả các tội - Kẻ đó trong hiện-tại và tương-lai sẽ được vĩnh-viễn xa lìa ba ác-đạo, mãi-mãi sanh về các nẻo an-vui cho đến ngày giải-thoát".

Cho nên sau phần sám-hối, tất-cả các Phật-tử chúng-ta đều cung-kính xưng-niệm danh hiệu của NGÀI là như vậy.

---------------

(1)- Ngũ-dục: Là 5 điều ham-muốn không biết chán của chúng-sanh là: Tài (tiền bạc), sắc (sắc đẹp), danh (danh lợi), thực (ăn uống), thùy (ham mê ngủ-nghỉ).

(2)- Lục-trần:Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (phàm-phu pháp)

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2021(Xem: 18752)
Hai mươi ba năm qua nhìn lại di ảnh Thầy Nước mắt trào dâng lòng con thổn thức " Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật" Tâm con dâng niệm để lòng con an " Nam Mô từ Phụ Huệ Hưng" Niệm theo hơi thở Thầy về bên con. Thầy ơi, con trẻ mỏi mòn Bao năm xa cách cố hương ngàn trùng! Hàng cây đó năm nào còn mãi
20/09/2021(Xem: 7703)
Ni Trưởng thế danh Hoàng Thị Bút, pháp danh Tâm Quang, tự Đàm Minh, hiệu Minh Đức, sinh ngày 20 tháng 4 năm Nhâm Tý (năm 1912) tại xã Hưng Yên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân sinh là cụ ông Hoàng Nguyên Hoa-pháp danh Tâm Chánh, thân mẫu là cụ bà Lý Thị Hợp. Gia đình có 5 người con gồm 1 trai 4 gái và Ni trưởng là chị cả. Vốn xuất thân trong gia đình khoa bảng, thấm nhuần giáo lý đạo Phật, trong gia tộc có người cô ruột xuất gia tại chùa Điệt, thành phố Vinh là Sư bà Đàm Thanh. Nhờ có nhân duyên quá khứ cùng với thiện duyên hiên tại tạo nên cơ duyên thuận lợi cho Ni trưởng xuất gia, tầm sư học đạo .
19/09/2021(Xem: 15212)
Đầu thập niên sáu mươi tôi rời trường Chu-Văn-An khi Trường vừa mới chuyển xuống đường Minh-Mạng trong Chợ Lớn. Giã từ Thầy học, chia tay bạn bè để đi con đường mới. Dẫu có học chung trên Đại Học cũng không còn thân thiết như xưa. Hồi đó tôi chia các Giáo-Sư trong Trường Chu-Văn-An làm 2 loại: Một loại “khó đăm đăm”, luôn luôn nghiêm khắc, không bao giờ cười dù chỉ mỉm miệng. Điển hình là Giáo-Sư Đào Văn Dương. Loại thứ hai luôn luôn vui cười, hay đùa giỡn với học sinh. Điển hình là Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Quỳnh. Tôi rất kính trọng cụ Đào Văn Dương ở tính ngay thẳng, chừng mực. Tôi thân mật với cụ Nguyễn Ngọc Quỳnh dĩ nhiên vì tính vui vẻ, cởi mở, dễ thân mật. Đặc biệt cụ còn là một Cư-Sĩ Phật-Giáo mà tôi thường được nghe cụ thuyết pháp ở chùa Phước-Hòa cuối thập niên năm mươi (Con trai cụ hiện là một vị Hòa-Thượng ở vùng Houston, Texas).
04/09/2021(Xem: 8451)
Hòa thượng Thích Minh Thông, Quyền Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa thay mặt Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, môn đồ pháp quyến, chùa Thiên Xá, TP.Nha Trang cáo bạch kính tiếc báo tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Liễu Pháp, Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN viên tịch. Trưởng lão Hòa thượng Thích Liễu Pháp, Thành viên Hội đồng Chứng Minh GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, khai sơn - trú trì chùa Thiên Xá, TP.Nha Trang.
23/08/2021(Xem: 7353)
Hòa thượng thế danh là Trần Đại Quảng, pháp danh Tâm Trí, tự Viên Giác, hiệu Chiếu Nhiên, thuộc đời thứ 43 dòng Lâm Tế, Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình Nho phong đức hạnh nhưng có chí cách tân, theo hướng Tây học. Thân phụ là cụ ông Trần Đại Dật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mĩu (pháp danh Tâm Mỹ). Ngài lớn lên theo truyền thống giáo dục gia phong, được tiếp xúc với nhiều bậc thân hữu trí thức của thân phụ trong những lúc hàn huyên hay luận bàn văn sách. Do đó Ngài đã sớm tiếp thu kiến thức sâu rộng, lý giải sự việc nhanh chóng, đạt lý thuận tình nên rất được lòng quần chúng. Ngài ham học hỏi, hiếu khách, nhất là được kết thân với các bậc thiện hữu tri thức, chính vì thế mà Ngài phát huy trí tuệ rất nhanh. Nhờ tính năng động và chí phấn đấu trong học tập và lao động nên dù nghiêm thân mất sớm, Ngài, với tư cách con trưởng, vẫn giữ vững gia nghiệp, phụ giúp mẫu thân dưỡng dục các em học hành t
20/08/2021(Xem: 16083)
Sư Phụ Tôi người hiền hoà chất phát Sống một đời giản dị rất bình dân Bất cứ ai dù ở chốn xa gần Khi cần đến Ngài sẵn sàng cứu giúp. Ngài thuộc bậc hàng cao Tăng thạc đức Nhưng lúc nào cũng tỏ hạ khiêm cung Sống giản đơn nhưng sắc thái kiêu hùng Bình thuận tỉnh, đệ huynh đều kính mến. Không phung phí của Đàn na tín thí Từng hạt cơm, hạt đậu cả hạt mè Quần áo thì vài ba bộ che thân. Ngày ba bữa cháo rau cùng tương đậu. Thời khoá biểu Ngài luôn thường nhắc nhở
11/08/2021(Xem: 10158)
Toàn tập Kinh Tạng Nikaya cho Iphone & Ipad (cảm ơn TT Tâm Hải đã gởi tặng, mời đại chúng vào download để đọc kinh Tạng)
04/08/2021(Xem: 12492)
Sông Thạch Hãn, Ngân Thiền Tâm Mộ Phật. Chốn Trà Trì, Gương Học Hạnh Xuất Gia. Nhỏ Tầm Chơn, Quyết Chí Xa Thế Tục. Khoác Áo Nâu Sòng, Học Lối Thích Ca. Chào Song Thân, Xứ Bảo Lộc Quê Nhà. Nương Thầy Tổ, Giữ Gìn Tâm Hướng Đạo. Mùi Kinh Kệ, Tháng Ngày Xông Cõi Tịnh. Thuộc Luật Nghi, Từ Góc Hạnh Trăng Sao.
26/07/2021(Xem: 16295)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Minh Có, pháp danh Huệ Đạt, pháp hiệu Hoàn Thông, sinh năm Đinh Tỵ (1917) triều Khải Định năm đầu, tại ấp Hội An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Phuông, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sửu, Ngài mồ côi cha lúc 13 tuổi. Thiện duyên đưa đến cho hạt mầm Bồ đề trong tâm Ngài phát triển. Năm 1930, trong thân tộc có ông Hồ Trinh Tương, gia tư khá giả, phát tâm phụng sự Tam Bảo, xuất tiền của xây một ngôi chùa, lấy hiệu là Hội Thắng Tự. Ông xuất gia đầu Phật, húy là Tường Ninh, pháp danh Đắc Ngộ, pháp hiệu Niệm Hưng và làm trú trì chùa này để hoằng dương đạo pháp. Ngài được thân mẫu cho phép xuất gia với Sư cụ trú trì chùa Hội Thắng khi vừa mồ côi cha, được ban pháp danh Huệ Đạt. Năm 16 tuổi (1933) Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa Di.
12/07/2021(Xem: 7241)
Trăm Năm Cõi Mộng Phù Hương, Vọng Lời Kinh Phật, Mở Đường Pháp Sinh. Lời Thầy Còn Đọng Chút Tình, “Sông Bờ” Ai Đợi, Dáng Hình Trí Yên. Quê Quảng Bình, Dấu Phật Thiên. Nuôi Mầm Học Hạnh, Giãi Niềm Gia Lai. Thầy Dụng Võ, Ngọc Liên Đài, Thâu Lời Kinh Luận, Bỏ Ngoài Tục Danh.