Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chữ Tâm trong công hạnh từ thiện của Sư Bà Như Thanh.

09/04/201311:53(Xem: 2175)
Chữ Tâm trong công hạnh từ thiện của Sư Bà Như Thanh.


CHỮ TÂM TRONG CÔNG HẠNH TỪ THIỆN
CỦA SƯ BÀNHƯ THANH

Dương Kinh Thành 

--- o0o ---

Sinh ra trong cõi trần ai, mỗi một chủng tử đã là một nghiệp dĩ, căn phần thọ nghiệp. Bình đẳng trong đau khổ, trong phúc lạc, trong vòng xoay thập nhị nhân duyên. Cái cõi mà Nguyễn Công trứ đã phải tự vấn: 

Thoát đã sinh ra đà khóc chóe, 

Trần có vui sao chẳng cười khì? 

Và cụ Tiên Điền Nguyễn Du cũng đã khẳng định: 

Đã sinh ra kiếp con người, 

Cũng đừng trách lẫn trời gần hay xa. 

Càng thấm thía mọi khổ đau càng tỏ rạng công ơn Đức Bổn Sư Thích Ca chọn cảnh giới Ta-bà này thị hiện, đem giáo pháp chứng ngộ cao vời cứu độ chúng sanh. Hàng hậu sinh noi theo dấu chân lành tiếp tục đưa nguồn phúc lạc ấy tỏa lan, dẫu cũng vốn mang nghiệp dĩ trần ai nên vừa tiến tu giải thoát nhưng cũng đồng thời dang tay dìu dắt đồng loại bằng nhiều hình thức, trong đó công hạnh Cứu khổ- ban vui là trọng tâm của những người con Phật. Từ đó khái niệm từ thiện được dần hiện ra theo mỗi bước tiến hoá của thời đại .Và nó trờ thành nét đặc trưng của Phật Giáo , đi song hành với hình bóng của một vị xuất gia. Ý nghĩa đó càng về sau như nghiêng hẳn về cho Ni giới, khi giáo đoàn đã có mặt đầy đủ Tăng-Ni; Sẽ ý nghiã hơn khi chúng ta biết rằng hàng Ni chúng đã vốn là một chủng tử kém phước báu về mọi mặt; được xuất gia cũng là một nỗ lực lớn lao và đã phải thọ giới nhiều hơn so với chư Tăng. Vì vậy không lạ gì khi việc từ thiện hầu như chư Ni luôn đặt hàng đầu và tỏ ra xuất sắc trong lãnh vực nàỵ Trộm nghĩ như vậy, vì chư Ni từ trong nghiệp dĩ của mình vẫn biết lo nghĩ vàn thương xót đến tha nhân thì thật không còn gì cao cả hơn. 

Nhận định như trên để sau đây, những dòng này khi viết về công hạnh của sư trưởng Như Thanh, chúng ta sẽ không ngỡ ngàng và đồng hóa với những ý niệm từ thiện khác, mà đã không ít khi nó bị xem thường do những tư tưởng cơ hội gây nên. - Sư Trưởng Như Thanh, nét đáng qúy trong thời gian hành đạo và giáo dục Ni chúng trở nên những người tu Phật có đầy đủ giới hạnh, tài và đức. Khi đạt đến ước mong có một Ni đoàn, có tổ chức, có hữu ích cho Giáo hội, công việc từ thiện vẫn luôn là điều không thể thiếu trong các chương trình nghị sự ở các kỳ Đại Hội Ni đoàn. Đôi khi chính Chư Tôn lãnh đạo Giáo hội còn tỏ ra nghi ngờ khả năng của Sư Trưởng (cũng có nghĩa là Ni giới ), lúc các kế hoạch được trình lên như công tác thuyết giảng, tổ chức giáo dục, nghi lễ dành cho Ni giớI v.v.. thì Sư trưởng Như Thanh vẫn mạnh dạn tỏ rõ quyết tâm sẽ chu toàn được tất cả các mặt Phật sự đó. 

Cuộc đời Sư Trưởng Như Thanh, xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc ở đẳng cấp trên xã hội; xuất gia chẳng vì nghịch cảnh chướng duyên, mà bằng cả ý lực tự giác, nương thừa chính phước báu gia đình, có điều khiện vươn tới tri thức Phật học. Tận dụng khôn khéo thuận lợi gia đình để tìm cầu Phật đạo , rõ là Sư trưởng là một mẫu người hiếm có, để từ đó lòng tận tụy vì đạo vì tương lai Ni chúng mai hậu của sư trưởng, cũng như tất cả nhũng thành quả đạt được, rất đáng trân trọng trong một ý nghiã tròn vẹn. 

Trong quá trình tu học, Sư trưởng lại có một thuận duyên hiếm hoi khác nữa là đã có được những bước chân theo chiều dài đất nước; tìm cầu tham học và gặp gỡ không ít Chư Tôn Đức khả kính, kể cả được chiêm bái các Thánh tích Già-lam. Nhờ vậy có lẽ đã un đúc ý chí Sư trưởng, nên nét đặc trưng riêng mà chư Tôn hay ví von là một Nũ tướng . Cũng nhờ đó, theo những bước chân nhẫn nại là chung quanh biết bao thảm cảnh loạn ly, đau thương của chiến tranh trong một đất nước triền miên chịu phần cộng nghiệp. Khi ước nguyện lớn chưa tròn, cũng như tự lượng đạo lực chưa cao . Sư Trưởng dồn nén lại nỗi chạnh lòng đó vào một góc tim , hứa hẹn một ngày dang ta thể hiện. Thế nhưng , khổ đau nào hẹn , từ thiện nào chờ khi nhân thế Chỉ hồi tử, chỉ hồi sanh- sanh tử du du vô định chỉ luôn diễn ra khốc liệt. tuy vậy, như Lục Tổ Huệ Năng nói Ngột ngột bất tu thiện, đằng đằng bất tạo ác như thế, khi Sư Trưởng Như Thanh còn đang ngổn ngang nỗi đau luôn canh cánh bên lòng ấy , cũng có nghiã là Sư Trưởng đã làm được điều thiện-điều thiện không nói ra Tâm không luôn tạo ác: Đó đã là điều thiện. Sự thôi thúc nhờ đó thêm vững tâm bằng một đồ án tương lai nhất quyết đạt thành. 

Trong công quả tu hành , công việc từ thiện đã từ trong máu thịt Sư Trưởng tự bao giờ, để khi gặp thuận duyên được bộc phát như lẽ đương nhiên mà chính tự thân Sư Trưởng không nghĩ tới. Đó là ý nghĩa từ thiện đúng nghĩa, không câu nệ và dựa dẫm kể cả mang tính cách phong trào thi đua, một bài học rất lớn lao cho những ai chưa thật tâm hiểu và hành động vẹn tròn cho từ thiện. Chúng ta sẽ thấy chi tiết này qua hình ảnh của Sư trưởng ngay giữa lúc chưa đạt thành mong ước họp nhất Ni chúng, ngay giữa lúc Giáo Hội Tăng Già chưa hình thành. Đó là hệ thống giáo dục mang tên Kiều Đàm được bắt đầu khai sinh vào thập niên 50 (1952). Các em thiếu nhi nhà nghèo, hiếu học được học hành miễn phí tại đây . Từ nhân số này hệ thống trường Kiều Đàm được chính bàn tay Sư trưởng nhân rộng, phát triển khắp mọi nơi và đã đi vào sử liệu giáo dục từ thiện của Giáo Hội .- nhũng nơi điều kiện cơ sở vật chất không có hoặc các Ni viện chật hẹp, Sư Trưởng vẫn tổ chức được những lớp học với mục đích tương tự, dù chỉ 5, 10 em học. Một cố gắng rất đẹp và mãi hữu ích quần sanh, khi chưa có tài chánh để thực hiện công việc từ thiện, thì bằng tâm huyết sẵn có, nhân lực sẵn có, Sư trưởng đã làm từ thiện bằng cách đó, nói theo thuật ngữ giáo dục đương đại là Công tác từ thiện mang ý nghĩa thế hệ. 

Khi Giáo HộI Tăng Già Nam Việt hình thành (1952), Ni Bộ Nam Việt cũng được ra đời, thì công việc từ thiện vẫn được đặt trọng tâm và mang tầm vóc lớn hơn cho cả miền Nam lúc bấy giờ. Năm 1964, Giáo HộI Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được khai sinh, thì tầm vóc hoạt động thêm rộng, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Đó cũng là giai đoạn hệ thống trường học từ thiện Kiều Đàm phát triển rộng rãi nhất, như năm 1967 có nơi từ trường Mẫu giáo Kiều Đàm trở thành trường Trung Học Kiều Đàm (từ lớp 1 đến lớp 9 hệ 12 năm ). Chiến tranh không chịu thua để hạn chế bớt phần nào các con số nạn nhân, đã phải khiến Sư trưởng Như Thanh vốn cũng kkhông nhường bước trước đau khổ trần ai; đã thành lập thêm hình thức Ký nhi viện và rồI đến Cô nhi viện, cũng mang tên Kiều Đàm vị Thánh Mẫu của Ni giới. Tất cả đều hoàn toàn miễn phí. 

Điều đặc biệt trong công tác từ thiện của Sư trưởng Như Thanh là tính độc lập, tự lực rất cao, không chịu lệ thuộc vào bất kỳ một tổ chức hay các thế lực nào. Nhờ vậy Sư trưởng rất vững vàng tiến bước bằng chính khả năng tự có của mình. Ngoài các nguồn hỷ cúng của tín thí, các nhà hảo tâm, phần lớn nguồn kinh phí có được để hoạt động là các cơ sở tự túc kinh tế do chính Sư trưởng điều hành và quản lý. Ngay cả khi ở cương vị cao trong tổ chức Ni bộ Bắc Tông, Sư trưởng vẫn bằng ý chí đó, khả năng đó điều hành công tác từ thiện mang đặc tính riêng của Ni bộ, tránh được điều có thể tránh, rất dễ làm lu mờ thiên chức của một người thực thi công hạnh từ thiện. Vì thế kể từ ngày bắt đầu công hạnh từ thiện cho đến tận hôm nay, Sư trưởng Như Thanh vẫn bảo toàn được thanh danh của mình một cách trong sáng. Đến đây có một thoáng suy nghĩ rằng, cho đến tận thời điểm gần nhất, các mặt hoạt động từ thiện rầm rộ, các nơi, các tổ chức và cả ở tận ngõ các nhà tư nhân ...mà Sư trưởng Như Thanh không có mặt? TuổI già sức yếu sẽ không là lý do thu mình hiện tại bởi giờ đây uy tín, đức độ và cả đến các cơ sở trực thuộc của Sư trưởng đã được đều khắp, hoặc có thể là đã đến lúc phải đúc kết các hoạt động này của Sư trưởng ? Theo người viết bài này, hai khả năng đó đều kông có cơ sở kết luận. Như vậy vấn đề được đặt ra sẽ là: Từ thiện như thế nào mới mang đầy đủ ý nghĩa và thiên chức đó và tổ chức hoạt động ra sao? Điều đó, ngay từ đầu bài viết này đã phân tích. 

Sẽ cụ thể hơn bằng các con số choáng ngợp sau đây Sư trưởng Như Thanh đã làm được, và làm được ngay giữa lúc chiến tranh loạn lạc, trong lúc một cánh tay trí huệ khác của Sư trưởng vẫn đang nặng phần trách nhiệm cho giáo dục Ni tài, cho tổ chức Ni bộ mà không có được một nguồn cung cấp nào, mặc dù điều đáng trân trọng là Sư trưởng không đòi hỏi, không tham vọng. Các con số tuy chưa được thống kê đầy đủ vẫn đủ sức bật dậy ý nghĩa tích cực như sau: 

Năm 1961, mở phòng thuốc nam miễn phí, mỗi tháng (theo tích kê) điều trị 600 bệnh nhân. 

Năm 1961, mở phòng thuốc tây miễn phí, cũng với con số xấp xỉ 600 bệnh nhân đến khám và điều trị. 

Năm 1975, mở phòng châm cứu miễn phí, mỗi tháng hơn 300 bệnh nhân được điều trị. 

Về mặt hướng nghiệp, trước nhu cầu của rất đông người dân nghèo đang rất khó khăn và mờ mịt ngày mai do chiến cuộc gây ra, Sư trưởng đã cho tổ chức lớp dạy đan len miễn phí tại chùa Huê Lâm I (năm 1966). Lớp dạy cắt may miễn phí cũng tại chùa Huê Lâm I (năm 1968) v.v... 

Tất cả, kể cả các trường Cô nhi viện, Ký nhi viện, đều do chư Ni đứng ra đảm trách. Điều này nói lên công lao dạy dỗ, đào luyện Ni Tài của Sư trưởng đã có kết quả và đã có không ít chư Ni thành danh trong nhiều lãnh vực, góp phần làm lợi lạc cho ngôi nhà chung Phật giáo. Rất hiếm hoi tìm gặp được một mẫu người nhiệt thành đa năng và có bản lãnh như Sư trưởng Như Thanh, càng hiếm hoi hơn khi vừa thể hiện một vị chân tu có đầy đủ oai nghi tế hạnh, vừa lo lắng tổ chức, vừa ổn định Ni đoàn bằng tri thức như vậy. 

Theo con số báo cáo vào thờI điểm 1972, ở cương vị Vụ trưởng Ni bộ Bắc Tông, Sư trưởng Như Thanh đã điều hành, quản lý, tổ chức Ni giớI trực thuộc gồm có 136 tự viện , 50 tịnh thất và 989 Ni chúng từ vĩ tuyến 17 trở vào. Trong cương vị này, sư trưởng không áp dụng phương cách từ thiện của riêng mình mà còn mở ngõ, tùy nghi cho Ni chúng- tư viện ở các Tỉnh, Miền hoạt động. Nhờ vậy, hầu hết Ni bộ các nơI đều có trung bình một Ký nhi viện, Cô nhi viện và phòng phát thuốc miễn phí như Quaãng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi (miền Vạn Hạnh); Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà , Ninh Thuận (miền Liễu Quán); Tuyên Đức (miền Khuông Việt); Bình Dương-Gia Định (miền Khánh Hòa); 11 Quận Sài Gòn (miền Quảng Đức); Định Tường, Sa Đéc, Vũng Tàu (miền Huệ Quang) v.v... Mỗi một Cô nhi viện trung bình không dướI 150 em. Cá biệt có nơI đến 400 em như Cô nhi viện Tây Lộc (Thừa Thiên). Ký nhi viện cũng trung bình không dướI 100 em. Bên cạnh ba mặt nổI bật đó, có nơI còn thành lập được cả Viện Dưỡng lão trên dướI 50 cụ đến tá túc nương thân. Ngoài ra, như một định luật tất yếu, tất cả các nơI đều có thành lập một đoàn từ thiện, thường xuyên đi ủy lạo đồng bào chiến nạn. Tổng số các cơ sở từ thiện trực thuộc Ni bộ do Sư trưởng Như Thanh tổ chức là:

41 Ký nhi viện (vớI 7.132 em) 

6 Cô nhi viện (vớI 1.125 em) 

4 Viện Dưỡng lão (vớI 340 cụ) 

Mặt trái cuộc đời là khổ đau, được thể hiện bằng những con số lạnh lùng ấy, chỉ riêng của Phật giáo, cụ thể hơn của Ni bộ Bắc tông vụ, đủ để khẳng định điều đó, ai sao tránh khỏi nỗi chạnh lòng. Huống lại là các bậc tu hành, khiến các vị thêm một vai nặng oằn bận bịu giữa chốn trầm luân. Và để hoàn thành các nhiệm vụ đó, ngoài bổn tánh chơn tâm từ bi, Sư trưởng còn phải đích thân can thiệp với Bộ xã hội, với các tổ chức để cho các ni được gởi theo học các kiến thức về dưỡng dục nhi hoặc các lớp tập huấn tâm lý trị liệụ 

Dẫu biết rằng từ thiện cũng tương đồng một cách tu và Bố thí Ba la mật là lý tưởng xả thân; nhưng bằng cách nhìn cảm hoài, người viết bài này vẫn không sao thoát được ý nghĩ con đường tiến tu giải thoát của các vị như thêm nỗI lao xao gập ghềnh và như xa hơn, bước chậm hơn. Thật đáng trân trọng biết dường bao, khi nghĩ đến những điều ngược lại. 

Có thể, ngườI viết chưa có diễm phúc tìm gặp được hình ảnh của một người làm từ thiện có bản lãnh, có kiến thức tổ chức (với Ni bộ thì vận dụng uy đức để can thiệp, vận động Chánh phủ,các cơ quan tổ chức quốc tế nhưng với riêng mình-tức công tác từ thiện ở Huê Lâm và các tự viện của mình, thì nghiêm khắc) như Sư trưởng Như Thanh và cho đó là một điều ngạc nhiên! Nếu không là thế thì Sổ vàng, kêu goị, vận động, kèm theo là cả một kế hoạch có trống chiêng hỗ trợ. Chợt nhớ, người học Nho có nói câu: 

Cầu nhơn bất như cầu kỷ - Nhập sơn cầm hổ dị - Khai khẩu kháo nhơn nan. 

Đại ý nói: mong cầu kêu gọi kẻ khác, không bằng mong cầu kêu gọi chính mình; vào núi bắt hỗ còn dễ, mở miệng ra nhờ người khác rất là khó. Chi tiết này, khiến chúng ta nhớ lại Ngài Nguyễn Văn Thiệu cùng phu nhân, nhân chuyến vận động bầu cử Tổng Thống chế độ cũ, có đến tại chùa Huê Lâm để xin gặp Sư trưởng Như Thanh, vì hơn ai hết Ngài Nguyễn Văn Thiệu thừa hiểu uy tín và công hạnh Sư trưởng trong hàng Ni giới rất cao, có thể đổi lấy một khối lượng không nhỏ lá phiếu ủng hộ và bù lại công tác từ thiện của Sư trưởng sẽ có thêm nguồn tài chánh hoạt động! Rất đáng tiếc cho Ngài và có lẽ Ngài lầm lẫn giữa mục đích đến lễ Phật và mua chuộc Sư trưởng. 

Như đã trình bày, công tác từ thiện nơi Sư trưởng Như Thanh đã vượt lên trên những khái niệm bình thường, đã trở nên máu thịt gắn liền trong cơ thể. Hạnh từ thiện đó không chờ cơ hội, không nhóm họp cờ xí và tất nhiên không mong được ai trao bằng tưởng lệ. Nhận thức được cái khổ đau ngay từ nơi ta đang dung thân thọ nghiệp và tận dụng ngay cái hoàn cảnh khổ đau đó, biến nó thành nguồn phúc lạc phụng sự lại cho chính tha nhân - một ý lực tự tại. Đó chính là cái Tâm tha lực nào phải tìm đâu xa và mong cầu ở ai, bởi: 

Chúng sanh chi tâm du như đại địa, ngũ cốc, ngũ quả tùng đại địa sanh. 

Như thị tâm pháp, cập ư Như Lai (Kinh Tâm Địa Quán). Và lớn hơn cái tâm đó còn: 

Dĩ thử nhơn duyên tam giới, duy tâm tam danh chi địa . Từ cõi trời Sắc Cứu Cánh Đức Thế Tôn từng dạy chúng ta như thế (Kinh Pháp Hoa-Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất). 

Như thế vẫn chưa đủ để tường tận và thấu triệt hai chữ Từ Thiện mà ngay người thực hiện bài này vẫn tỏ vẻ xem thường. Càng viết, càng đi sâu mới vỡ lẽ ra công hạnh ấy vẹn đầy ý nghĩa nơi Sư trưởng Như Thanh để phải thầm thẹn cho mình sao sớm vội khinh mạn. Để rồi giờ đây trùng trùng điệp điệp ý nghĩa từ nơi cái Tâm Đại Địa ấy cùng tuôn trào, đôi lúc giật mình nhìn chung quanh, kể cả bản thân từng xưa kia ôm thùng lạc quyên đi khắp đầu đường cuối hẻm! 

--- o0o ---

Vi tính : Nguyên Khai

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/12/201307:23(Xem: 9132)
Khi mới thành đạo, đức Phật đã nói: “Lạ thay tất cả chúng sanh đều có đức tính trí huệ của Như Lai mà bị vô minh che lấp nên không phát hiện ra được”. Và bản nguyện của Phật là muốn khai thị cho chúng sanh ngộ nhập được tri kiến Phật của
18/06/201417:43(Xem: 4774)
Cổ động cho việc ‘ Phát triển bình đẳng giới và trao quyền cho nữ giới ’ là mục tiêu thứ 3 trong 8 Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ do Liên Hiệp Quốc công bố, và được Hội Đồng Phật Giáo Úc Châu Liên Bang (Federation of Australian Buddhist Councils = FABC) mạnh mẽ ủng hộ. Một trong những vị cao tăng của Úc, ngài Ajahn Brahm, được Việt Nam mời đọc tham luận về “ Bình Đẳng Giới và Trao Quyền cho Nữ Giới ” tại đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam vào tháng 5 , 2014. Thật không may là Ajahn Brahm đã không được phép trình bày bài tham luận này do một lệnh cấm từ Ban Tổ Chức UN Vesak áp đặt chỉ một ngày trước khi hội nghị bắt đầu. Bài tham luận của Ajahn Brahm đã được Ban Tổ Chức Hội Nghị chấp thuận nhiều tháng trước khi hội nghị diễn ra.
09/04/201311:52(Xem: 2977)
Thuở còn thơ ấu, qua những bước chân sáo hồn nhiên, ngây thơ đến chùa lễ Phật, hình ảnh đầu tiên được ghi vào tâm khảm tôi là chân dung một vị Sư cô hiền hòa đôn hậu. Từng được quý sư cô cho phép sa vào lòng, được vuốt đầu khen ngoan và được nghe những âm thanh hiền từ đó truyền cho tôi gương hiếu hạnh của Đức Phật và Tôn Giả Mục Kiền Liên.
10/12/201307:52(Xem: 12462)
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đời của Đức Phật. Chúng ta biết rằng thái tử Siddhattha đã rời bỏ cung điện lộng lẫy của vua cha, để bắt đầu cuộc sống không nhà của người lữ hành lang thang đi tìm con đường tâm linh, và sau nhiều năm tu hành tinh tấn, Ngài đã đạt được giác ngộ khi đang nhập định dưới gốc cây bồ đề. Sau khi xả thiền, Đức Phật đã đi đến thành phố Benares, giờ được gọi là Varanasi. Ở đó, trong Vườn Nai, lần đầu tiên Ngài thuyết pháp về những gì Ngài đã khám phá về con đường đi đến hạnh phúc toàn vẹn. Lời dạy của Đức Phật rất đơn giản nhưng sâu sắc.
01/05/201514:55(Xem: 11555)
Một tập sách với tựa đề như trên, trong xã hội hiện nay, không có gì đặc biệt; so với Kito giáo tại Việt Nam, cũng là việc làm bình thường, vì hàng năm, một số giáo xứ thường xuyên tổ chức các lớp hướng dẫn giáo lý và hôn nhân cho thế hệ trẻ từ tuổi 18 trở lên; nhưng đặc biệt của tập sách nầy nằm trong hai lĩnh vực: 1/ Phật giáo chưa từng xuất hiện sách hoặc lớp hướng dẫn về hạnh phúc gia đình, mặc dù có những kinh điển nói qua vấn đề nầy, quá tổng quát, chưa thích ứng với từng cảnh trạng của từng xã hội biến thái khác nhau hiện nay. 2/ Sách không trực tiếp dạy giáo lý như các lớp “giáo lý và hôn nhân” của các giáo xứ, nhất là giòng Tên; nhưng sách hướng dẫn tháo gỡ nhiều vấn đề mắc mứu liên quan đến tâm lý xã hội và đạo đức nhà Phật.
03/12/201305:18(Xem: 27161)
Người ta thường nói :"Ăn cơm có canh, tu hành có bạn". Đối với tôi, câu nói này thật là quá đúng. Ngày nhỏ chưa biết gì nhưng từ khi làm Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử tôi đã thấy ích lợi của một Tăng thân. Chúng tôi thường tập trung thành từng nhóm 5,7 người để cùng nhau tu học. Giai đoạn khó khăn nhất là sau 75 ở quê nhà. Vào khoảng 1985, 86 các anh lớn của chúng tôi muốn đưa ra một chương trình tu học cho các Huynh Trưởng trong Ban Hướng Dẫn Tỉnh và những Htr có cấp nên đã tạo ra một lớp học Phật pháp cho các Htr ở Sàigòn và các tỉnh miền Nam. Nói là "lớp học" nhưng các Chúng tự học với nhau, có gì không hiểu thì hỏi quý Thầy, các Anh và kinh sách cũng tự đi tìm lấy mà học. Theo qui định của các Anh, Sàigòn có 1 Chúng và mỗi tỉnh có 1 Chúng. Chúng tu học của chúng tôi (Sàigòn) có tên là Chúng Cổ Pháp và phải thanh toán xong các bộ kinh sau đây trong thời gian tối đa là 3 năm:
08/08/201317:57(Xem: 19556)
Năm 2010, tại Sài Gòn diễn ra đại hội “Con gái đức Phật” quy tụ hội chúng tỳ-khưu-ni và cận sự nữ Nam Bắc tông trên khắp thế giới về tham dự.Tôi không biết gì về nội dung cũng như hình thức đại hội ấy, nhưng cụm từ “Con gái đức Phật” tôi nghe sao nó dễ thương, bình dị và rất gần gũi với ngôn ngữ đời thường. Từ đó, tôi khởi tâm biên soạn một cuốn sách để giới thiệu về những vị Thánh Ni và những cận sự nữ có hành trạng đặc biệt và thù thắng thời đức Phật và đặt tên đầu sách là “Con gái đức Phật”.
17/10/201306:49(Xem: 19826)
Tôi đọc kinh sách, nghe giảng và học hỏi, đồng thời rút kinh nghiệm trong những năm qua cùng các pháp hữu nghiên cứu và hoằng truyền chánh pháp, đặc biệt với đạo hữu Nguyên Phước. Thấy cần, rút ra một số nét cơ bản để chia xẻ cùng quý Phật tử thật dễ đọc, dễ hiểu, dễ thực hành trong niềm tin Phật pháp.
10/02/201408:56(Xem: 8298)
Lama Thubten Yeshe sinh năm 1935 tại Tây Tạng. Mới sáu tuổi, Ngài đã vào học tại Sera Monastic University ở Lhasa, một trong những tu viện lớn và nổi tiếng của Tây Tạng. Ngài học tại đây tới năm 1959
15/02/201223:13(Xem: 1522)
Từ khi Phật giáo vươn đến biên thùy Hoa Kỳ trong thế kỷ XIX, nữ giới đã là một phần của sự truyền đạt Phật Pháp như sinh viên, người dân, giáo viên, nữ tu, các học giả, nghệ sĩ và các nhà hoạt động. Nữ giới từ một lực lượng lớn của nhiều sắc tộc và các ngành nghề tiếp tục định hướng cho bộ mặt của Phật giáo tại Hoa kỳ-như những phụ nữ đã gặp được Phật pháp trong Phong trào phụ nữ vào những năm 1960 cho đến những phụ nữ có chức sắc sáng lập nhiều ngôi chùa cho cộng đồng nhập cư, nữ giới trẻ xử dụng Phật giáo và nghệ thuật như một công cụ thay đổi thế giới, và nữ giới tạo ra một không gian Phật giáo trong các trường cao đẳng và đại học… Rita Gross-một học giả Phật giáo cẩn thận ghi nhận rằng những kinh nghiệm của nữ giới Phật giáo tại Hoa kỳ thì quy mô và đa dạng.