Phật Giáo Và Cuộc Sống

19/02/201105:59(Xem: 20326)
Phật Giáo Và Cuộc Sống

PHẬTGIÁO VÀ CUỘC SỐNG
HT.ẤnThuận - Thích Hạnh Bình Việt dịch
NhàXuấtBản Phương Đông 2008
none
none
hanhbinh-phatgiaovacuocsong-cover

LỜI GIỚI THIỆU

PhậtGiáohiện hữu trên thế giannầy từ vô lượng kiếp và PhậtGiáo đã được hình thành bằng hìnhthức khế lý khế cơ qua hơn 2.500 năm lịch sử trên quả địa cầu nàyvà nhẫn đến ngàn năm sau nữa, tinh thần vô trụ của PhậtGiáo vẫn còn sống mãi với những kiếp nhân sinh tiếp tụctrong dòng đời chuyển biến ấy.

Thượng Tọa Thích Hạnh Bình đang du học tại Đài Loan, trong thời gian qua Thầy đã cho xuấtbản được nhiều tác phẩm theo lối phiên dịch hay biên khảo và dịch phẩm "Phật Giáo và Cuộc Sống” của Ngài Ấn Thuận, một vị Đại Đạo Sư người Đài Loanbiên khảo, trước tác và những bài diễn giảng được tạo thành một tác phẩm bằng tiếng Hoa giá trị như thế, nay Thượng Tọa Thích Hạnh Bìnhđã chuyển dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ một cách thôngsuốt. Câu văn trong sáng dễ hiểu. Hầu như không còn lấncấn một từ ngữ Hán cổ nào cả, mà đã Việt hóa hoàntoàn. Đây là một việc làm rất đáng tán dươngvà nên trợ duyên; do vậy tôi đã đọc qua dịch phẩmnầy một cách cẩn trọng để viết lời giới thiệu quyểnsách nầy do lời yêu cầu của Thượng Tọa.

Đọc nội dung của sách, chúng ta sẽ thấy Ngài Ấn Thuận là một vị Đại Đạo Sư có cuộcđời trải dài trong suốt thế kỷ thứ 20 và kéo dài qua 5năm ở thế kỷ thứ 21. Với 100 năm ấy không biết bao nhiêulà vật đổi sao dời từ Trung Hoa qua Đài Loan; từ Đài Loanqua Mã Lai và nhiều nơi khác trên thế giới nữa. Nơi đâuNgài cũng thể hiện một tấm lòng cho Đạo, vì Đạo và vìmuốn xiển dương giáo lý Phật Đà cho mọi người con Phật và mong muốn mọi người phải sống thực trong giáo lý ấy qua giáo pháp của Đức Phật, chứ không phải chỉ riêng có vấn đề tín ngưỡng mà ngườiTrung Hoa sau nầy vẫn mãi lo cúng tế, ít chú ý đến phầngiáo nghĩa của Phật Đà.

TrướcNgài đã có Ngài Thái Hư Đại Sư qua cái nhìn về „nhơngian Phật Giáo“. Nghĩa là Đức Phật đã vì con người vàcuộc đời ở thế giới Ta Bà nầy mà xuất hiện, thì giáolý ấy, đầu tiên phải cho con người và vì con người; chứkhông phải vì một kẻ nào khác ngoài con người. Tinh thầnnầy cũng khế hợp với ba việc cách mạng của Ngài Thái Hư Đại Sư đã chủ trương. Đó là cách mạng giáo chế, cách mạng giáo sản và cách mạng Giáo Hội. Ngài ẤnThuận nghiên
cứu, phiên dịch, viết lách cũng đều dựa trên quan điểm Nhân Thừa Phật Giáo trướcrồi mới đến Bồ Tát Thừa và Phật Thừa. Dĩ nhiên là Ngàicũng rất công tâm để ghi nhận về giáo lý Tiểu Thừa trong những bước phát triển đầu tiên của Phật Giáo. Đồng thời Thiên Thừa hay ngay cả Ấn Độgiáo, Ky Tô giáo Ngài cũng đã điểm qua thật chính xác vàcẩn trọng của một nhà nghiên cứu.

Nghiên cứu giáo lý Phật Đà, Ngài đã không đứng trên quan niệm của triết học ĐôngPhương hay triết học Tây Phương để nghiên cứu, mà Ngài lấy giáo lý củaĐức Phật để nghiên tầm giáo lý ấy. Đây cũng là một nghiên cứu hay, không như những nhà nghiên cứu Phật Giáo khác đã làm như lâu nay là đứng từhọc thuyết nầy hay học thuyết kia để nhận xét về ĐạoPhật. Theo Ngài khi nghiên cứu Ngài đã đặt nặng về nềnmóng của giáo lý ấy có thích hợp với tinh thần của „tứpháp ấn“ không. Đó là: Vô thường, Khổ, Không và Vô Ngã.Đồng thời Ngài cũng đã dựa trên pháp nhơn duyên sanh để khảo cứu. Nếu một bài pháp, một bài giảng, một bài luận mà không được chứa đựng nội dung như thế thì Ngài cho rằng: Đó không phải là lời dạy của Đức Phật.

Ngàicó bảo rằng Ngài không có học Phật theo thứ lớp hay bằngcấp như ngày nay. Nhưng những gì Ngài đã để lại cho hậuthế ngày nay còn hơn là những bậc học giả cao thâm kháccủa nhân loại đang có mặt trên quả địa cầu nầy.

Ngài cũng không phải đứng trên tinh thần của giáo nghĩa Đại Thừa mà chê bai Tiểu Thừa.Lại cũng chẳng phải Ngài là người Hoa, chỉ ca tụng tamtạng kinh điển bằng chữ Hán. Ngài nghiên cứu cả Tạng kinh, Luật, Luận của Tây Tạng và Nam Truyền và Ngài cũng đã chẳng phải đứng trên lập trường tánhkhông theo tinh thần Trung Quán của Ngài Long Thọ mà chê bainhững bộ phái khác.

Đọc xong tác phẩm nầy tôi thấy Ngài cũng đã khiêm nhường giống như Ngài Huyền Trang ở đời Đường rằng: Quý Ngài chỉ lo việc phiên dịch trước tác, chứ không chủ trương phảidụng công để hành trì theo một Tông phái nào. Nhờ vậy mà đời sau khinhững người nghiên cứu về kinh truyền qua ngã Hán tạngchúng ta có được sự tra cứu một cách tự nhiên hơn.

Naydịch phẩm giá trị nầy đã đến tay quý vị là do công sứccủa Thượng Tọa Thích Hạnh Bình đã dày công phiên dịchcũng như khảo cứu; nên dịch phẩm nầy mới ra đời. Mongrằng những đóng góp tích cực như thế của chư tôn đứcViệt Nam hiện đang du học tại ngoại quốc, dịch từ các ngôn ngữ khác nhau ra Việt ngữ như thế nầy thì sớm muộn gì PhậtGiáo Việt Nam của chúng ta cũng sẽ có một gia tài văn hóa Phật Giáođồ sộ so với các nước Phật Giáo trên thế giới.

Dovậy tôi xin trang trọng giới thiệu dịch phẩm nầy đếnvới quý độc giả xa gần và mong rằng khi đọc sách quývị sẽ thâm nhập được giáo lý nhiều hơn.

ThíchNhư Điển
PhươngTrượng chùa Viên Giác

Hannover,Đức Quốc.

MùaXuân năm Đinh Hợi – 2007



Lời nói đầucủa người dịch

Hòa thượng Ấn Thuận (印順 1906~2005) sinhnăm 1906, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Viên tịch năm 200 tại Tân Trúc, Taiwan, trụthế 100 tuổi đời, gồm 75 hạ lạp.

Ngàilà nhà nghiên cứu Phật học có uy tín trong giới học thuật,những tác phẩm của Ngài được các trường Đại học ở Taiwan xem như là tài liệu tham khảo chính cho ngành Phật học. Ngài có tư tưởngcanh tân Phật giáo, chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạisư Thái Hư (太虛大師). Nhưng quan điểm cải cách của Ngài
vớiĐạisư Thái Hư có điểm dị biệt. Ngài không rầm rộ vận động cải cách Phật giáo Như Thái Hư mà Ngài âm thầm đem hết thờigian còn lại của đời mình, chú tâm nghiên cứu Phậ tpháp.Kết quả, sau khi viên tịch (2005), Ngài đã để lại cho Phật giáo chúng ta nhiều công trình nghiên cứu có giá trị học thuật, như:《雜阿含經論會編》 “Tạp A hàm Kinh Luận Hội Biên” (3 tập),《原始佛教聖典之集成》 “Nguyên Thủy Phật Giáo Thánh Điển Chi Tập Thành”, 《說一切有部為主的論書與論師之研究》“Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ Vi Chủ Đích Luận ThưDữ Luận Sư Chi Nghiên Cứu”, 《初期大乘佛教之起源與開發》“Sơ Kỳ Đại Thừa Phật Giáo Chi Khởi Nguyên Dữ Khai Triển”,《印度佛教思想史》“ẤnĐộ Phật Giáo Tư Tưởng Sử”, 《如來藏之研究》 “Như Lai Tạng Chi Nghiên Cứu” là những tác phẩmmang tính kinh điển, có giá trị học thuật cao, mỗi ý tưởngđược Ngài đề cập và thảo luận, đều có phần trích dẫn và chú thích điểm xuất xứ từ kinh điển, người đọc cóthể tra cứu, kiểm tra lại những gì mà Ngài đã đề cập.

Qua những tác phẩm này, cho chúng ta thấy, thái độ nghiên cứu của Ngài rất nghiêm túc, không đứng trên lập trường của bất cứ Tông Phái nào, không binh vực Đại thừa cũng không chê bai Tiểu thừa.Phật pháp như thế nào thì Ngài trình bày như thế ấy, không thêm cũng không bớt. Ngài không những thong thạo tư tưởng Phật giáo Đại thừa mà còn am tườngtư tưởng Phật giáo Nguyên thủy và Bộ Phái.

Ngoàinhững tác phẩm vừa đề cập, Ngài còn có bộ《華雨集》 “Hoa Vũ Tập” (5 quyển) và bộ 《妙 雲集》“DiệuVân Tập” (gồm 24 quyển). Thật ra, phần lớn bài viết của 2 bộ này, không phải hầu hết đích thân Ngài viết, mà là khi Ngài thuyết giảng hay nói chuyện,được các đệ tử ghi chép lại, sau đó viết thành lời. Những quan điểm tư tưởng được đề cập trong sách này rất trong sáng và mới mẻ,cần được học tập nghiên cứu và phát huy. Tuy nhiên, cómột vài vấn đề cần phải chú ý. Có một số bài, cáchtrình bày không được rõ rang sang sủa,, có lẽ người ghi lại không nắmhết ý tưởng của Ngài, đôi khi thêm ý tưởng của mình. Gặp những trường hợp này, tôi đành phải lược dịch hay dịch ý.

Tácphẩm “Đạo Phật và cuộc sống” mà độc giả đang cầm trên tay, là tuyển tập những bài viết của Hòa Thượng, được tríchdịch từ hai bộ sách vừa đề cập. Trong đó, phần nhiềuđược trích dịch từ quyển 《佛在人間》 “Phật ở nhân gian” (quyển thứ 14) trongbộ “Diệu Vân tập”. Phần còn lại trích dịch từ bộ“Hoa Vũ Tập”. Đây là những bài nói chuyện có nộidung tư tưởng rất hay, đáng cho chúng ta học tập. Cách lýgiải những vấn đề trong Phật học rất trong sáng, phù họp với thời đại chúng ta, nhất là quan điểm của giới trẻ hiệnnay. Người dịch cho rằng, nó rất cần thiết cho người Phậttử Việt nam chúng ta, dù ở trong nước hay ở nước ngoài,có thể nói nó là một ý kiến tích cực cho việc hoằng dươngPhật pháp trong thời hiện đại, lấy con người và xã hộicon người làm chủ đề chính cho cả hai việc tu và học.

Thật ra, người dịch chưa có ý định xuất bản quyển sách này, nhưng thấy rằng tác phẩm nghiên cứu Phật học bằngViệt ngữ còn khan hiếm, trong khi đó giới Phật tử người Việt chúng ta có nhu cầu tìm hiểu Phật pháp rất lớn, cho nên tôi tập họpnhững bài đã dịch của Hòa thượng biên tập thành sách, xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Tăng Ni và Phật tử.

Hyvọng với tập sách nhỏ này, độc giả sẽ gặt gái nhiềuđiều lợi ích từ những gợi ý của Hòa thượng. Bản dịchnày, tuy đã cố gắng sửa chữa chỗ sai sót, nhưng có lẽkhông làm sao tránh khỏi sự sai sót vô tình. Kính mong độcgiả lượng thứ và chỉ điểm, để lần tái bản tốt hơn.

Đầu xuân năm Đinh hợi, năm 2007

Kínhbút, Thích Hạnh Bình

Xemtiếp Nội Dung (PDF)

Source: thuvienhoasen

Ý kiến bạn đọc
21/12/201908:25
Khách
Luôn mong muốn tác giả viết nhiều hơn nửa
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/12/2017(Xem: 269016)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
08/12/2017(Xem: 32253)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
09/01/2017(Xem: 17503)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thườngcũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
08/01/2017(Xem: 18749)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thường cũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
07/01/2017(Xem: 19495)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thường cũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
27/12/2016(Xem: 19073)
Lịch sử là bài học kinh nghiệm luôn luôn có giá trị đối với mọi tư duy, nhận thức và hành hoạt trong đời sống của con người. Không có lịch sử con người sẽ không bao giờ lớn khôn, vì sao? Vì không có lịch sử thì không có sự trải nghiệm. Không có sự trải nghiệm thì không có kinh nghiệm để lớn khôn.
25/12/2016(Xem: 9149)
Theo các nhà nghiên cứu Phật học thì Đức Phật Thích ca đã dùng tiếng Magadhi để thuyết Pháp. Tiếng Magadhi là ngôn ngữ thuộc xứ Magadha ở vùng trung lưu sông Ganges (Hằng hà). Rất nhiều sắc lệnh của Đại đế Asoka được khắc trên các tảng đá lớn và các cây cột lớn được tìm thấy có thể cho chúng ta biết một phần nào về ngôn ngữ mà Đức Phật đã nói như thế nào.
22/12/2016(Xem: 49917)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/12/2016(Xem: 19891)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiên và loài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập tùy theo căn cơ của mỗi người nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau, mang lại hạnh phúc an vui, giải thoát, niết bàn. Chỉ xét riêng thánh quả Dự Lưu (Tu Đà Hườn), trong kinh điển Nikaya (Pali) Thế Tôn và ngài Xá Lợi Phất chỉ ra hơn năm cách[i] khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sở trường của hành giả xuất gia cũng như tại gia để chứng đắc thánh quả đầu tiên này trong bốn thánh quả. Trong những cách này, cách dễ nhất, căn bản nhất, phổ quát nhất và hợp với đại đa số chúng đệ tử nhất
16/07/2016(Xem: 24408)
Nếu trang phục truyền thống của một dân tộc hay quốc gia biểu đạt bản sắc văn hóa về y phục của dân tộc hay quốc gia đó, thì pháp phục Phật giáo thể hiện bản sắc đặc thù, khác hẳn với và vượt lên trên các quốc phục và thường phục của người đời, dù ở phạm vi dân tộc hay quốc gia. Lễ phục tôn giáo nói chung và pháp phục Phật giáo nói riêng thể hiện tình trạng tôn giáo và xã hội (social and religious status), được sử dụng trong hai hình thức, mặc trong sinh hoạt thường nhật và mặc trong các nghi lễ tôn giáo, nói chung các dịp đặc biệt.