4. Niệm thí chủ ân

01/08/201112:23(Xem: 16859)
4. Niệm thí chủ ân

BÀI VĂN KHUYÊN PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
勸發菩提心文

Đại Sư Thật Hiền Soạn
Hòa Thượng Tuyên Hóa Lược Giảng

Chánh tông phần

IV. NIỆM THÍ CHỦ ÂN

Nguyên văn:

云 何念施主恩?謂我等今者日用所資,並非己有。二時粥飯,四季衣裳,疾病所需,身口所費,此皆出自他力,將為我用。彼則竭力躬耕,尚難糊口;我則安坐受食, 猶不稱心。彼則紡織不已,猶自艱難;我則安服有餘,寧知愛惜。彼則蓽門蓬戶,擾攘終身;我則廣宇閑庭,優悠卒歲。以彼勞而供我逸,於心安乎?將他利而潤己 身,於理順乎?自非悲智雙運,福慧二嚴,檀信沾恩,眾生受賜,則粒米寸絲,酬償有分,惡報難逃。是為發菩提心第四因緣也。

Âm Hán Việt:

Vân hà niệm thí chủ ân? Vị ngã đẳng kim giả nhật dụng sở tư, tịnh phi kỷ hữu. Nhị thời chúc phạn, tứ quý y thường, tật bệnh sở nhu, thân khẩu sở phí, thử giai xuất tự tha lực, tương vi ngã dụng. Bỉ tắc kiệt lực cung canh, thượng nan hồ khẩu, ngã tắc an tọa thọ thực, do bất xứng tâm. Bỉ tắc phưởng chức bất dĩ, do tự gian nan, ngã ư an phục hữu dư, ninh tri ái tích. Bỉ tắc tất môn bồng hộ, nhiễu nhương chung thân, ngã tắc quảng vũ nhàn đình, ưu du tuất tuế. Dĩ bỉ lao nhi cung ngã dật, ư tâm an hồ? Tương tha lợi nhi nhuận kỷ thân, ư lý thuận hồ? Tự phi bi trí song vận, phước huệ nhị nghiêm, đàn tín triêm ân, chúng sanh thọ tứ, tắc lạp mễ thốn ti, thù thường hữu phận, ác báo nan đào. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ tứ nhân duyên dã.

Dịch:

Nhớ ơn thí chủ là thế nào? Chúng ta ngày nay, mọi thứ cần dùng hàng ngày đâu phải của mình. Cơm cháo hai buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng, thân miệng tiêu xài, đều xuất từ sức lực của kẻ khác mà đem đến cho ta sử dụng. Người nhọc sức cày cấy, còn khó nuôi miệng, ta ngồi không mà ăn, vẫn chưa vừa ý. Kẻ dệt đan mãi hoài mà vẫn gian nan cực khổ, còn ta an nhàn y phục thừa thãi, há không thương tiếc? Họ nhà tranh cửa lá, cực nhọc suốt đời, còn ta phòng lớn sân rộng, thong thả cả năm. Đem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao an lòng. Đem cái lợi ích của người để cung cấp sự no ấm cho thân xác mình, có hợp lý chăng? Do đó, phải vận dụng cả hai thứ bi trí, trang nghiêm cả hai mặt phước huệ, để thí chủ nhờ ơn, chúng sanh được phước, nếu không thì dù chỉ là một hạt gạo, một tấc vải, vẫn phải có phần trả nợ. Đó là nhân duyên thứ tư của sự phát Tâm Bồ đề.

Giảng:

Vân hà niệm thí chủ ân?Niệm ở đây không phải là báo đáp mà là không nên quên. Tâm niệm phải luôn nhớ ân thí chủ đối với chúng ta. Nói như thế nào đây ?

Vị ngã đẳng kim giả: Kim giả, là hiện nay, tức là nói chúng ta hiện nay, nhật dụng sở tư, tịnh phi kỷ hữu: sở tư, là những thứ vật phẩm cần dùng hằng ngày, không phải của mình, đều do người khác cúng dường. Nhị thời chúc phạn, tứ quý y thường, tật bệnh sở nhu: Sáng ăn cháo, trưa ăn cơm, quần áo bốn mùa, cùng với những thuốc men khi bệnh tật cần dùng. Thân khẩu sở phí, thử giai xuất tự tha lực, tương vi ngã dụng: những gì mà thân miệng chi dùng, thân phải mặc y phục, miệng cần ăn cơm, đều do người khác cúng dường để ta sử dụng tu hành học đạo.

Bỉ tắc kiệt lực cung canh, thượng nan hồ khẩu: Người nông phu suốt ngày đổ giọt mồ hôi vô cùng cực khổ, có lúc còn không đủ cơm ăn. Ngã tắc an tọa thọ thực, do bất xứng tâm: ta thì không làm gì hết, ngồi không thọ nhận những món ẩm thực, cơm canh đã được dọn sẵn, còn chọn lựa đồ ăn thức uống, nói món này dở, món kia không ngon.

Bỉ tắc phưởng chức bất dĩ, do tự gian nan: Vải mà ta mặc, do người dệt vải suốt ngày đan dệt không thôi, công việc làm hoài không hết, họ thì gian nan cực khổ mới dệt ra tấm vải. Ngã ư an phục hữu dư, ninh tri ái tích: còn ta ? thì an nhàn hưởng dụng, ăn mặc thừa thãi, lại không biết thương tiếc sự vất vả gian nan của vật chất.

Bỉ tắc tất môn bồng hộ, nhiễu nhương chung thân: nhà cửa họ ở thì rách nát, vườn cửa đều cũ nát, trong một đời của họ cũng không được sự an lạc gì. Ngã tắc quảng vũ nhàn đình, ưu du tuất tuế: còn chỗ ta ở thì rất rộng rãi, sân vườn cũng rất lớn, vườn hoa hồ nước, cái gì cũng chuẩn bị sẵn, cho nên rất thong thả tự tại, năm này qua năm khác, không cần phải cực khổ, lao nhọc.

Dĩ bỉ lao nhi cung ngã dật, ư tâm an hồ? Lấy sự cực khổ của người để cung phụng sự an nhàn hưởng thọ cho ta, vì thế thử hỏi lại mình có được an lòng chăng ? Tương tha lợi nhi nhuận kỷ thân, ư lý thuận hồ?Đem sự lợi ích của người để làm no ấm thân ta, có hợp lý chăng ? Thì không hợp lý vậy !

Tự phi bi trí song vận, phước huệ nhị nghiêm: Vậy thì phải làm như thế nào ? cần phải tu từ bi quán, tu trí huệ quán. Không những tu phước, mà còn cần phải tu huệ ; tu phước tu huệ trang nghiêm cả hai thứ, mới có thể trồng phước cho người thế gian. Đàn tín triêm ân, chúng sanh thọ tứ: Trang nghiêm tu cả hai mặt trí huệ, hồi hướng cho thí chủ thì thí chủ mới có thể nhờ được ân huệ, chúng sanh cũng nhận được phước của mình. Tắc lạp mễ thốn ti, thù thường hữu phận, ác báo nan đào: Nếu không thì nhận sự cúng dường một hột gạo hoặc một tấc vải của người, sau này cũng phải trả nợ. Cho nên nói :

Thiện thí nhất lạp mễ, trọng như Tu Di sơn.

Ngật liễu bất tu đạo, phi mao đái giác hoàn.

Dịch :

Thiện thí một hạt gạo, nặng như núi Tu Di

Ăn rồi không tu đạo, đội lông mang sừng trả.

Người xưa nói : "Một bữa cháo một bữa cơm, thường suy nghĩ chỗ đến không dễ ; nửa sợi tơ sợi chỉ, thường nhớ công người làm ra vật chất khó khăn". Đó là điều chúng ta cần phải biết, cho nên nếu quý vị không tu hành thì "tam tâm bất liễu thủy nan tiêu", dù uống một ngụm nước của người cúng dường thì sau này cũng hoàn trả, cho nên nói quả báo ác khó tránh.

Thị vi phát Bồ đề tâm đệ tứ nhân duyên dã: Đây là nhân duyên thứ tư của sự phát tâm Bồ đề.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/11/2017(Xem: 20702)
Tứ Diệu Đế, 3 Chuyển 12 Hành ------------------------------------------------- Thich-Nu-Hang-Nhu Thích Nữ Hằng Như NGUỒN GỐC Dựa theo "Tiến Trình Tu Chứng và Thành Đạo của Đức Phật", chúng ta biết rằng sau khi Đức Phật từ bỏ pháp tu từ hai vị đạo sĩ Alàra Kàlama và Uddaka Ramàputta đã dạy Ngài bốn tầng Định Yoga là: "Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ", đồng thời từ bỏ luôn pháp tu khổ hạnh kéo dài 6 năm, là một pháp tu đã khiến Ngài suýt mất mạng mà không đạt được thượng trí và Niết Bàn. Sau đó Đức Phật tự chọn pháp Thở để tu tập.
01/11/2017(Xem: 17413)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn[2] nên trong các hình tượng bồ tát chỉ có tượng của ngài duy nhất được tạc vẽ với nhục kế (uṣṇīṣa), vốn tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng Đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Phật giáo xuy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì theo truyền thuyết nói rằng ngài đã mang kinh điển Đại thừa từ Long Cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự tư tưởng của ngài trong các tông môn. Cho đến ngày nay, tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa Triều Tiên Nhật Bản Tây Tạng Mông Cổ nhận ngài là tổ đều truyền bá đến Việt Nam từ lâu. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepan, Mông Cổ chùa viện tư gia còn đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như Đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước đã tiêu diệt Phật giáo, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ng
25/08/2017(Xem: 30639)
Bản Giác (sách pdf) tác giả: Tiến sĩ Lâm Như Tạng
25/04/2017(Xem: 13316)
Đức Phật đôi khi có đề cập tới tính chất và các thành phần của vũ trụ. Theo Ngài, có nhiều hình thức đời sống hiện hữu ở các nơi khác trong vũ trụ. Với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học ngày nay, có lẽ không bao lâu nữa chúng ta sẽ khám phá ra các loài sinh vật khác đang sống ở các hành tinh xa nhất trong dãi thiên hà của chúng ta. Có thể các chúng sanh nầy sống trong những điều kiện và qui luật vật chất khác, hay giống như chúng ta. Họ có thể hoàn toàn khác chúng ta về hình thể, thành phần và cấu tạo hoá học
23/03/2017(Xem: 16227)
Thực tại, nghĩa là nơi chốn, chỗ, vị trí, cũng có tên không gian. Không gian, nói một cách tổng thể, là bề mặt của vũ trụ từ bao la, rộng lớn, cho đến hạn hẹp đối với mỗi con người chúng ta đang có mặt ở một nơi nào đó, như tại : Núi cao, thác ghềnh, quán cà phê, phòng làm việc, phòng ngủ, phòng ăn, sân chùa,
16/03/2017(Xem: 12719)
Trong bài “Sức Mạnh Của Tâm” kỳ trước có nói đến Tâm là chủ tể. Đích thực, con người trên đời này làm nên vô số việc tốt, xấu, học hành, nên danh, nên nghiệp, mưu sinh sống đời hạnh phúc, khổ đau, cho đến tu tập phật pháp được giác ngộ thành Phật, thành Thánh, Nhân bản, v.v…đều do tâm chỉ đạo (nhất thiết duy tâm tạo). Qua đây cho ta thấy rằng; tâm là con người thật của con người, (động vật có linh giác, giác hồn thật siêu việt hơn tất cả các loài hữu tình khác trên trái đất này). Phi tâm ra, bản thân con người, chỉ là một khối thịt bất động.
16/03/2017(Xem: 13263)
Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã). Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều,
11/03/2017(Xem: 12800)
Do vì đặc thù, cho nên bảy hạng đệ tử Phật (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Sa di, Sa di ni, Thích xoa Ma na, Ưu Bà Tắt, Ưu Bà Di) từ trong thời Phật còn tại thế và hôm nay, ai cũng phải có tâm từ bi là một quy luật ắt phải có sau khi quay về Đạo Phật (Quy y tam bảo) trở thành Phật tử xuất gia. Được có tâm từ bi, là phải học và thực tập Phật Pháp. Dù là những oanh vũ nam, oanh vũ nữ trong tập thể GĐPT, đều phải học đạo lý từ bi và thực tập từ bi, được thấy ở những câu: em thương người và vật, em kính mến cha, mẹ và thuận thảo với anh chi, em.
22/12/2016(Xem: 49449)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/09/2016(Xem: 9085)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc hiểu biết khác nhau.