Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Nữ Giới, Lòng Từ Bi và Công Bằng Xã Hội (Women, Compassion, and Social Justice)

24/06/202117:33(Xem: 2499)
Nữ Giới, Lòng Từ Bi và Công Bằng Xã Hội (Women, Compassion, and Social Justice)


Karma Lekshe Tsomo

NỮ GIỚI, LÒNG TỪ BI, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI

( Women, Compassion, and Social  Justice )

Nguyên tác: Karma Lekshe Tsomo
Việt dịch: Nguyên Nhật Trần Như Mai

 

 

 

*Đôi nét về Ni Sư Karma Lekshe Tsomo :

 

Ni sư Karma Lekshe Tsomo (hình trên, bên phải)  là Giáo sư Phật học tại Đại học San Diego- Hoa kỳ từ năm 2000. Ni sư thọ giới Sa-di năm 1977 ở Pháp và thọ giới Tỳ-kheo-ni năm 1982 ở Hàn Quốc. Ni sư đã theo học Phật Pháp ở Dharamsala Tây Tạng trong 15 năm; nhận học vị Tiến sĩ về  Triết Học So Sánh Đối Chiếu tại Đại học Hawai’i năm 2000. Ni sư là vị đồng sáng lập Hội “ Những Người Con Gái của Đức Phật” ( Sakyaditta International) và là cựu Chủ tịch Hội này. Ni sư cũng là Giám đốc của tổ chức Jamyang Foundation, một tổ chức bất vụ lợi, nhằm hỗ trợ việc giáo dục cho phụ nữ ở các nước đang phát triển.

***

 

Giới thiệu : Đây là bài tham luận của Ni Sư Karma Lekshe Tsoma, trình bày tại Hội Nghị Sakyadhitta  thứ 14 ở Indonesia vào tháng 6 năm 2015.

Sources : Sakyaditta International Newsletter – Volume 24, No 1

 

 ***

 

Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.

 

Đối với Phật tử, từ là lòng mong ước tất cả chúng sinh được thoát khỏi khổ đau. Bi là lòng mong ước mọi chúng sinh được hạnh phúc. Đi cùng với nhau, từ bi là lòng mong ước tất cả chúng sinh được hạnh phúc và thoát khỏi mọi khổ đau.

 

Để phát khởi lòng từ bi, chúng ta cần hiểu những khổ đau của chúng sinh. Trong đạo Phật, tất cả chúng sinh bao gồm các sinh vật, kể cả cả muỗi và gián, tất cả loải cá trong đại dương, tất cả thú vật trên đất liền, cũng như tất cả loài người trong sự phong phú đa dạng  của họ. Như vậy, theo truyền thống Phật giáo, ý tưởng giúp cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau là một trách nhiệm thật to lớn. Làm thế nào chúng ta có thể thực hiện việc này ?

 

Mỗi chúng sinh có những nỗi khổ niềm đau của riêng họ. Đôi lúc chúng ta nghe người ta nói,” Ước gì tôi là chim. Ước gì tôi là cá, chúng được tư do bay nhảy, bơi lội.” À, nhưng khi chúng ta suy nghĩ về điều này, chim có tự do không ? Cá có tự do không ? Khi chúng ta suy nghĩ về việc này, chúng ta thấy chim chịu nhiều khổ đau và cá còn đau khổ nhiều hơn. Chúng bị kẹt trong đại dương lạnh lẽo và chúng luôn luôn lo sợ bị các con cá lớn hơn nuốt chửng. Khi chúng ta thấy chim bay nhởn nhơ trên trời, khi chúng ta thấy cá tung tăng bơi lội trong nước, chúng có vẻ rất hạnh phúc. Nhưng khi chúng ta nhìn kỹ, chúng ta thấy đời sống của chúng đầy khổ đau và  sợ hãi triền miên.

 

Tái sinh làm người được xem là đặc biệt nhất, bởi vì là con  người, chúng ta có được cơ hội hoàn hảo để đạt được tiến bộ về tâm linh trên con đường đi đến giác ngộ. Tiềm năng giác ngộ nối kết tất cả chúng sinh, nhưng con người có khả năng đặc biệt để tu tập tỉnh thức giác ngộ . Vì vậy, chúng ta cố gắng phát khởi lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh, ý thức rằng được sinh ra làm thân người là một điều độc đáo rất hiếm có. Dĩ nhiên, các Phật tử tin rằng chúng ta có nhiều cơ may hơn để đạt được giác ngộ - chúng ta tái sinh lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều hình tướng khác nhau. Như vậy, chúng ta có cơ may khác nữa, nhưng chúng ta sẽ tái sinh với hình tướng nào ? Điều ấy tùy thuộc vào nghiệp của chúng ta. Nếu chúng ta tái sinh mà bị kẹt trong hình tướng của một con chim hay con cá , thì thật khó cho chúng ta đạt được tiến bộ tâm linh. Trong lúc chúng ta có cơ hội đặc biệt này, chúng ta nên cố gắng trở thành những người có đạo đức, tránh mọi hành động tham nhũng hay bất thiện, và cư xử rất hào phóng để bảo đảm được tái sinh làm người tốt đẹp hơn trong kiếp sau.

 

Tuy nhiên, được tái sinh làm người cũng chưa đủ. Nhiều người được sinh ra trong thế giới này vẫn đang chịu đau khổ vô cùng. Nhiều người không có đủ nước uống. Nhiều người không có đủ thức ăn. Khi chúng ta nhớ như vậy, chúng ta có thể thật sự cảm thấy vui sướng vì được tái sinh làm người. Chúng ta  có thể thấy rằng chúng ta đã may mắn biết bao khi có đầy đủ mọi nhu cầu cho cuộc sống. Chúng ta may mắn biết bao khi có được thời gian để chăm sóc đời sống tâm linh, phát khởi lòng từ bi và ước nguyện cứu độ mọi chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

 

Điều này đưa chúng ta đến với vấn đề công bằng xã hội. Trong nhiều xã hội khác nhau trong địa cầu này, không phải tất cả con người đều có được cơ hội bình đẳng. Một số người rất may mắn. Họ được sinh ra trong gia đình giàu có, có đầy đủ thức ăn, thức uống, có nhà ở, và có nhiều cơ hội được học hành. Nhưng rất nhiều người không được may mắn như vậy. Nhất là phụ nữ phải chịu rất nhiều đau khổ. Phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng tình trạng nghèo đói nặng nề nhất trên thế giới. Vì vậy, khi chúng ta nói đến công bằng xã hội, chúng ta cần phải nhớ đến những khổ đau của người khác, nhất là những đau khổ mà phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng.

 

Làm thế nào lại xảy ra tình trạng phụ nữ và trẻ em phải chịu đau khổ nhiều hơn ? Như thống kê của Liên Hiệp Quốc cho chúng ta biết, nếu 60% công việc trên thế giới là do phụ nữ gánh vác, tại sao chỉ có 20% tài sản của thế giới và chỉ 1% đất đai là thuộc sở hữu của phụ nữ ?  Có điều gì đó hết sức sai lầm. Nếu phụ nữ phải làm việc, nhưng không được nhận sự đền đáp xứng đáng với công việc họ làm, thì rõ ràng là thế giới  này đầy dẫy bất công.

 

Có nhiều loại công bằng và bất công khác nhau. Chúng ta nói đến quyền của thú vật, nhân quyền, công bằng về khí hậu, công bằng kinh tế và công bằng xã hội. Tất cả những vấn đề ấy đều tương quan với nhau. Khi chúng ta nói đến công bằng cho nữ giới, chúng ta công nhận rằng phụ nữ không được trả lương bằng với nam giới về một công việc giống nhau. Ngay cả ở Hoa Kỳ, phụ nữ cũng không có quyền bình đẳng. Điều này làm cho nhiều người ở các quốc gia khác rất ngạc nhiên. Vấn đề bình quyền đối với nữ giới vẫn được nêu lên trong Quốc hội  nhiều lần, nhưng vẫn luôn luôn bị bỏ phiếu không chấp thuận. Các công ty không muốn phụ nữ được bình đẳng quyền lợi, bởi vì như vậy họ sẽ phải trả lương phụ nữ ngang bằng với nam giới. Phụ nữ phải chịu đựng nặng nề nhất phần lớn những bất công về quyền lợi kinh tế đang tràn lan trên thế giới.

 

Nếu chúng ta nhắm đến việc xây dựng một xã hội công bằng, chúng ta cần phải tạo dựng một cấu trúc xã hội công bằng, các chính quyền công bằng, các tiến trình chính trị công bằng, và các tổ hợp công ty công bằng. Thường thì phụ nữ không được đại diện ngang bằng với nam giới để có tiếng nói trong hệ thống chính quyền của chúng ta. Phụ nữ thường phải làm việc nhiều hơn, bởi vì ngoài công việc ở sở, họ còn phải gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong gia đình. Về phương diện chính trị, phụ nữ không có thì giờ nhàn rỗi hay của cải cần thiết để điều hành văn phòng, thậm chí họ không có thì giờ để đi bỏ phiếu. Cũng vì phụ nữ thường không giàu có bằng nam giới, nên họ cũng không có tài nguyên hỗ trợ để có thể thắng cử. Hệ thống tuyển cử rõ ràng là mất quân bình. Điều này có nghĩa là tiếng nói của phụ nữ không được lắng nghe, không được kính trọng, hay không được đại diện ngang bằng với nam giới.

 

Nhiều quốc gia có luật lệ để bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Đáng mừng  là đã có những người tận tụy đang làm việc ngoài giờ để bảo đảm rằng các luật lệ ấy được thi hành. Tuy nhiên, trong nhiều quốc gia, quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không được bảo vệ đúng mức. Tất cả chúng ta cần làm việc với nhau như một đại gia đình nhân loại để sửa sai vấn đề này.  Trong nhiều quốc gia, phụ nữ phải sống dưới sự đàn áp chính trị và những qui định giới hạn khác. Ví dụ, đôi lúc có những phụ nữ muốn đi dự các Hội nghị quốc tế Sakyadhita về Nữ giới Phật giáo, nhưng không thể xin được hộ chiếu hoặc không được cấp giấy phép rời khỏi đất nước họ. Một số chính quyền không công nhận quyền tự do đi lại của công dân họ, và trong những quốc gia đó chúng ta tìm thấy rất nhiều vi phạm về nhân quyền và quyền lợi của phụ nữ. Nếu chúng ta may mắn được sống trong một quốc gia bảo đảm cho chúng ta những quyền lợi về chính trị và nhân quyền, chúng ta cần phải cảm kích điều đó và phải cảnh giác để bảo vệ những quyền ấy, không những vì lợi ích của chúng ta mà còn vì lợi ích của người khác nữa.

 

Khi chúng ta nói đến chính trị, chúng ta nói về quyền lực và sự phân phối công bằng quyền lực đó. Khi chúng ta nói về quyền lực, chúng ta nói về quyền lực trong gia đình, ở nơi làm việc, ở tòa án, ở các tiến trình chính trị, và tôn giáo.

 

Trong suốt quá trình lịch sử cho đến ngày nay, chúng ta thấy nhiều sự kiện xảy ra về chủ nghĩa tôn giáo dân tộc và sự thông đồng giữa tôn giáo và quân phiệt. Trong vấn đề này, hiếm khi chúng ta nghe được tiếng nói của phụ nữ, hoặc thấy đại diện của nữ giới. Giá trị của những đóng góp của phụ nữ như những người chăm sóc trẻ em, chồng, bạn bè, và cộng đồng thường bị bỏ qua. Bản chất người phụ nữ  đã phát triển những đức tính độc đáo để giúp đỡ kẻ khác, lại là những người phải chịu rất nhiều khổ đau. Là phụ nữ, chúng ta không nên đánh giá thấp những đức tính từ ái ấy. Chúng ta không nên nhắm mắt trước sự kiện là có nhiều người sử dụng tôn giáo cho mục đích chính trị của riêng họ, nhằm đạt được và duy trì quyền lực đối với kẻ khác, và sự khao khát quyền lực của họ đã biện minh cho những bất bình đẳng và chiến tranh không bao giờ chấm dứt . Việc đưa những phụ nữ từ ái vào làm việc ở mọi cấp bậc trong chính quyền có thể giúp giảm thiểu sự tham quyền thái quá của nam giới, thay vào đó dùng những gì đạt được để làm lợi lạc cho xã hội.

 

Giống như phần lớn các tôn giáo khác, Phật giáo thuyết giảng về hòa bình, và hầu hết Phật tử là những người yêu chuộng hòa bình. Thật không may là ngày nay chủ nghĩa dân tộc Phật giáo đang trên đà gia tăng, điều này rất nguy hiểm cho mọi người. Sự kiện này trở thành vấn nạn bất công xã hội, bởi vì chủ nghĩa tôn giáo dân tộc đồng hành với sự bất bao dung, vốn hoạt động chống lại quyền lợi của tín đồ các tôn giáo khác. Vấn đề bản sắc tôn giáo và bản sắc dân tộc rất phức tạp, nhưng sử dụng tôn giáo và chủ nghĩa dân tộc để biện minh cho bạo động và đàn áp là đáng kinh hoàng, đưa nhân loại đến bên bờ hủy diệt.

 

Như phần lớn các tôn giáo khác, Phật giáo có những phương tiện để kiến tạo và duy trì hòa bình và công lý. Phật tử có trách nhiệm sử dụng tốt những phương tiện ấy. Chúng ta cần phải học tập và áp dụng tốt những lời Phật dạy vào đời sống, khám phá ra những phương tiện kiến tạo bình an và tìm  cách áp dụng chúng vào xã hội vì lợi lạc của mọi người.

 

Tất cả chúng ta cần mở mắt ra để nhận thức các vấn đề gây khổ đau cho nhân loại. Chúng ta cần nhìn thẳng vào những bất công trên thế giới và sử dụng bất cứ phương pháp nào mà truyền thống của chúng ta sẵn có để chữa trị những bất bình đẳng và bất công ấy. Nhận diện những bất công ấy có thể làm chúng ta hết sức đau buồn, nhưng cũng có thể làm tăng thêm sức mạnh, khơi nguồn cảm hứng giúp chúng ta nỗ lực nhiều hơn để chống lại những thế lực đầy tham lam, và tìm ra liều thuốc chữa trị cho những nỗi khổ đau của con người trên thế giới. Nhận diện tầm mức sâu xa về những khổ đau của con người ( và động vật ) có thể là một chất kích hoạt mạnh mẽ để phát triển lòng từ bi. Tất cả chúng ta, từ những đất nước và truyền thống tôn giáo khác nhau, đều có trách nhiệm chia sẻ kiến thức, chia sẻ trí tuệ và chia sẻ lòng từ bi của chúng ta.

 

Cùng hợp lực với nhau, nữ giới là một lực lượng rất hùng mạnh. Hãy tưởng tượng ba tỷ rưỡi người cùng hợp tác để tranh đấu cho công bằng xã hội. Chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu Phật tử trên thế giới, nhưng có thể là một tỷ người, và một nửa số đó là nữ giới. Cùng hợp tác để tranh đấu cho công bằng xã hội, chúng ta có thể là một  lực lượng rất mạnh mẽ. Nếu chúng ta cùng làm việc với nhau trong sự hoà hợp và với lòng từ bi, thực hành chánh niệm và tỉnh giác. Tôi tin rằng chúng ta có thể thay đổi thế giới, vì lợi ích của con người và tất cả chúng sinh khác. Cùng hợp tác với nhau, chúng ta có thể kiến tạo những cơ cấu xã hội công bằng và nhân đạo hơn.

 

Để có hiệu quả tốt, các Phật tử cần phân biệt sự khác nhau giữa an sinh xã hội và công bằng xã hội. Nóí chung Phật tử rất giỏi về các hoạt động từ thiện. Chùa chiền thường là những trung tâm phân phối thực phẩm và nơi cung cấp việc chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, chăm sóc những gia đình gặp khó khăn, trẻ mồ côi và những người già yếu. Các hoạt động này là những đóng góp tuyệt vời cho lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phải làm nhiều hơn nữa. Chúng ta cần phải công nhận rằng có một sự khác nhau rõ ràng giữa an sinh xã hội và công bằng xã hội. Những dự án về an sinh xã hội giúp cải thiện  điều kiện sống của người nghèo. Những dự án về công bằng xã hội hoạt động  để thay đổi những cơ cấu bất công tạo nên nghèo đói và bất ổn, thay thế chúng bằng những cơ cấu kiến tạo sự lành mạnh và an ổn cho tất cả chúng sinh. Thật phước đức khi chúng ta cung cấp thực phẩm cho người nghèo, nhưng sự bố thí của chúng ta không giải quyết được nguyên nhân của nghèo đói và bất ổn. Với công bằng xã hội, chúng ta cần phải đào sâu hơn nữa. Thậm chí nếu chúng ta có thể cung cấp thực phẩm cho mọi con người đói khổ trên thế giới ngày nay, điều này cũng không giải quyết được nạn đói hay vấn đề thiếu thốn lương thực trên thề giới. Chúng ta cần phải hỏi : Tại sao những người này đói ? Đâu là  gốc rễ của vấn đề này  ? Làm thế nào để giải quyết vấn đề này ?

 

Để giải quyết những vấn đề của thế giới, chúng ta cần phải lắng nghe tiếng nói của những người đau khổ và tìm ra những cách giải quyết từ mọi hướng. Nếu chúng ta biết dựa vào nguồn trí tuệ tập thể và lòng từ bi của tất cả các tôn giáo và dân tộc trên thế giới, thì sẽ có hy vọng. Nếu chúng ta biết dựa vào nguồn trí tuệ của nữ giới, là những người thường phải chịu đựng nhiều đau khổ nhất, chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh đích thực. Tôi thanh thật tin rằng lòng từ bi là giải pháp để chấm dứt chiến tranh, nạn khủng bố, giết hại, tra tấn và đàn áp.

 

Lòng từ bi hoạt động thật tự nhiên để hướng đến mục đích cuối cùng ấy. Nếu chúng ta muốn mọi chúng sinh được hạnh phúc, tự nhiên là chúng ta muốn giải thoát chúng sinh khỏi mọi đau khổ. Nếu chúng ta muốn giải thoát chúng sinh khỏi mọi đau khổ, tự nhiên là chúng ta muốn chúng sinh được hạnh phúc. Để làm điều này, chúng ta cần phải mở mắt ra để thấy những khổ đau của kẻ khác, đừng nhắm mắt làm ngơ – chúng ta cần mở rộng tấm lòng trước những bất hạnh của kẻ khác, đừng khép chặt trái tim. Lòng từ bi là phương thuốc mạnh nhất để chữa trị hận thù, bất công, đàn áp và tất cả mọi căn bệnh khác của thế giới. Nếu chúng ta phát triển lòng từ bi, chúng ta sẽ bắt đầu  nhanh chóng nhận ra mối liên hệ giữa hạnh phúc của chính chúng ta với hạnh phúc của người khác. Hạnh phúc của chúng ta liên hệ không thể tách rời với hạnh phúc của kẻ khác. Chỉ vì vô minh đã ngăn cản chúng ta không thấy được những mối liên hệ ấy.

 

Khi chúng ta phát triển lòng từ bi, chúng ta sẽ tự dộng tranh đấu cho hoà bình và công lý, bởi vì chúng ta không còn có thể chịu đựng được trước nỗi thống khổ của chúng sinh. Vào thời điểm quan trọng này, khi chính sự tồn tại của đời sống trên Trái Đất này đang bị đe dọa như chúng ta  đã biết, tôi tin rằng sự thịnh vượng của nhân loại tùy thuộc vào hai tài sản vô cùng quý báu: đó là nữ giới và lòng từ bi. Cùng hợp tác với nhau, tôi tin rằng chúng ta sẽ xây dựng được một thế giới công bằng và từ bi hơn. Đây là thời điểm hoàn hảo để chúng ta tiến hành.

 

 

 

 

 

facebook-1


***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/05/2019(Xem: 3476)
Tác giả William Edelglass là tân giám đốc về nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Học Barre và là giáo sư triết học và môi trường tại Trường Cao Đẳng Marlboro College tại tiểu bang Vermont. Công việc của ông đã đưa ông tới Dharamsala, Ấn Độ, nơi ông dạy cả triết học Tây Phương cho chư tăng Tây Tạng tại Học Viện Institute of Buddhist Dialectics và triết lý Phật Giáo cho các sinh viên đại học Mỹ về chương trình nghiên cứu Tây Tạng. Bài này trích dịch từ Quý San năm 2019 có chủ đề “Buddhadharma: The Practitioner’s Quarterly,” đăng ngày 14 tháng 5 năm 2019 trên trang mạng Lion’s Roar.
02/05/2019(Xem: 5003)
Vì thương xót hết thảy hữu tình phải chịu phiền não, đau thương do tham ái mà bị trôi dài trong bể khổ sinh tử luân hồi, Đức Phật hiện ra ở đời để lại cho thế gian vô số pháp môn tu tập, tùy theo căn cơ, sở trường và hoàn cảnh của mỗi chúng sanh mà chọn lựa pháp hành thích ứng để tu tập nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau thành an lạc, giải thoát, niết bàn. Chư pháp của Thế Tôn được ví như những thang thuốc tùy bệnh mà bốc thuốc. Trong số đó, Tuệ quán vô thường, khổ và vô ngã của tất cả pháp, qua đó hành giả quán tánh ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly của tất cả pháp, là pháp “tối thượng” và vi diệu ‘nhất’ vì nếu hành giả thường xuyên hành trì sẽ ‘chứng đạt’ Tuệ Giải Thoát, vị ấy sẽ đoạn tận mọi kiết sử, không còn khổ đau, phạm hạnh đã thành, chánh trì giải thoát, là bậc A-La-Hán.
24/04/2019(Xem: 3105)
Cuộc sống, nhìn quanh đâu cũng thấy Thật. Bạo động cũng có thật, giả dối cũng là thật, tham dục cũng hiện hữu thật,sợ hải cũng có thật ,nhiếp phục uế trược cám dỗ cũng thật, tài sản, vợ con, tình yêu, danh vọng, địa vị …đều thật hết. Chính cái Thật đó mà khổ đau phát sanh cũng là Thật.
01/03/2019(Xem: 3537)
Triết Học Phật Giáo Ấn Độ, Hayes Richard, Thích Nguyên Tạng (dịch), Phật giáo (PG) là một thành tố quan trọng, hỗn hợp các triết lý khác của tiểu lục địa Ấn Độ trong hơn một ngàn năm qua. Từ phần đầu khá lặng lẽ, vài thế kỷ trước Tây lịch, nền học thuật PG gia tăng sức mạnh cho tới khi đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng và tính chất độc đáo trong nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất. Từ thế kỷ thứ mười một trở đi, PG dần dần suy thoái và cuối cùng biến mất ở miền Bắc Ấn Độ. Mỗi nhà tư tưởng chú trọng vào những đề tài khác nhau, nhưng khuynh hướng chung của đa số họ là trình bày một hệ thống triết lý nhất quán, bao gồm đạo đức học, tri thức học và siêu hình học. Phần lớn những đề tài mà các triết gia PG Ấn này viết, là phát xuất trực tiếp từ những giáo lý được xem là của Sĩ-đạt-ta Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), thường được tôn xưng bằng danh hiệu là Đức Phật.
16/02/2019(Xem: 4099)
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn chương và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
01/02/2019(Xem: 5489)
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn (chương) và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
08/01/2019(Xem: 3968)
Kinh Duy Ma Cật, tôi đã có duyên được học với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tại Phật Học Viện Báo Quốc - Huế, sau năm 1975 Tôi rất thích tư tưởng “Tịnh Phật Quốc Độ” của kinh này, khi nghe đức Phật gọi Bồ tát Bảo-tích mà dạy: “Trực tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật chúng sinh không dua nịnh sẽ sinh về cõi ấy. Thâm tâm là Tịnh Độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh nào có đầy đủ công đức sẽ tái sinh về cõi ấy. Bồ đề tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, hết thảy chúng sinh tầm cầu Đại thừa sẽ sinh vào cõi ấy.
04/01/2019(Xem: 39668)
“Hiểu về trái tim” là một cuốn sách khá đặc biệt, sách do một thiền sư tên là Minh Niệm viết. Với phong thái và lối hành văn gần gũi với những sinh hoạt của người Việt, Minh Niệm đã thật sự thổi hồn Việt vào cuốn sách nhỏ này. Xuyên suốt cuốn sách, tác giả đã đưa ra 50 khái niệm trong cuộc sống vốn dĩ rất đời thường nhưng nếu suy ngẫm một chút chúng ta sẽ thấy thật sâu sắc như khổ đau là gì? Hạnh phúc là gì? Thành công, thất bại là gì?…. Đúng như tựa đề sách, sách sẽ giúp ta hiểu về trái tim, hiểu về những tâm trạng, tính cách sâu thẳm trong trái tim ta.
10/12/2018(Xem: 6837)
Lời tác giả: Việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, chúng tôi ước mong được sự lượng thứ của các bậc cao minh. Những sự sửa sai và bổ khuyết của quý vị độc giả sẽ giúp bài viết này được đầy đủ và hoàn hảo hơn trong lần viết lại; đó quả là niềm vinh hạnh cho chúng tôi. NVT
06/12/2018(Xem: 3148)
Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi ? Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi ? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật ? Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn là đạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, l
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,534,480