Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Nữ Giới, Lòng Từ Bi và Công Bằng Xã Hội (Women, Compassion, and Social Justice)

24/06/202117:33(Xem: 2497)
Nữ Giới, Lòng Từ Bi và Công Bằng Xã Hội (Women, Compassion, and Social Justice)


Karma Lekshe Tsomo

NỮ GIỚI, LÒNG TỪ BI, và CÔNG BẰNG XÃ HỘI

( Women, Compassion, and Social  Justice )

Nguyên tác: Karma Lekshe Tsomo
Việt dịch: Nguyên Nhật Trần Như Mai

 

 

 

*Đôi nét về Ni Sư Karma Lekshe Tsomo :

 

Ni sư Karma Lekshe Tsomo (hình trên, bên phải)  là Giáo sư Phật học tại Đại học San Diego- Hoa kỳ từ năm 2000. Ni sư thọ giới Sa-di năm 1977 ở Pháp và thọ giới Tỳ-kheo-ni năm 1982 ở Hàn Quốc. Ni sư đã theo học Phật Pháp ở Dharamsala Tây Tạng trong 15 năm; nhận học vị Tiến sĩ về  Triết Học So Sánh Đối Chiếu tại Đại học Hawai’i năm 2000. Ni sư là vị đồng sáng lập Hội “ Những Người Con Gái của Đức Phật” ( Sakyaditta International) và là cựu Chủ tịch Hội này. Ni sư cũng là Giám đốc của tổ chức Jamyang Foundation, một tổ chức bất vụ lợi, nhằm hỗ trợ việc giáo dục cho phụ nữ ở các nước đang phát triển.

***

 

Giới thiệu : Đây là bài tham luận của Ni Sư Karma Lekshe Tsoma, trình bày tại Hội Nghị Sakyadhitta  thứ 14 ở Indonesia vào tháng 6 năm 2015.

Sources : Sakyaditta International Newsletter – Volume 24, No 1

 

 ***

 

Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.

 

Đối với Phật tử, từ là lòng mong ước tất cả chúng sinh được thoát khỏi khổ đau. Bi là lòng mong ước mọi chúng sinh được hạnh phúc. Đi cùng với nhau, từ bi là lòng mong ước tất cả chúng sinh được hạnh phúc và thoát khỏi mọi khổ đau.

 

Để phát khởi lòng từ bi, chúng ta cần hiểu những khổ đau của chúng sinh. Trong đạo Phật, tất cả chúng sinh bao gồm các sinh vật, kể cả cả muỗi và gián, tất cả loải cá trong đại dương, tất cả thú vật trên đất liền, cũng như tất cả loài người trong sự phong phú đa dạng  của họ. Như vậy, theo truyền thống Phật giáo, ý tưởng giúp cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau là một trách nhiệm thật to lớn. Làm thế nào chúng ta có thể thực hiện việc này ?

 

Mỗi chúng sinh có những nỗi khổ niềm đau của riêng họ. Đôi lúc chúng ta nghe người ta nói,” Ước gì tôi là chim. Ước gì tôi là cá, chúng được tư do bay nhảy, bơi lội.” À, nhưng khi chúng ta suy nghĩ về điều này, chim có tự do không ? Cá có tự do không ? Khi chúng ta suy nghĩ về việc này, chúng ta thấy chim chịu nhiều khổ đau và cá còn đau khổ nhiều hơn. Chúng bị kẹt trong đại dương lạnh lẽo và chúng luôn luôn lo sợ bị các con cá lớn hơn nuốt chửng. Khi chúng ta thấy chim bay nhởn nhơ trên trời, khi chúng ta thấy cá tung tăng bơi lội trong nước, chúng có vẻ rất hạnh phúc. Nhưng khi chúng ta nhìn kỹ, chúng ta thấy đời sống của chúng đầy khổ đau và  sợ hãi triền miên.

 

Tái sinh làm người được xem là đặc biệt nhất, bởi vì là con  người, chúng ta có được cơ hội hoàn hảo để đạt được tiến bộ về tâm linh trên con đường đi đến giác ngộ. Tiềm năng giác ngộ nối kết tất cả chúng sinh, nhưng con người có khả năng đặc biệt để tu tập tỉnh thức giác ngộ . Vì vậy, chúng ta cố gắng phát khởi lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh, ý thức rằng được sinh ra làm thân người là một điều độc đáo rất hiếm có. Dĩ nhiên, các Phật tử tin rằng chúng ta có nhiều cơ may hơn để đạt được giác ngộ - chúng ta tái sinh lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều hình tướng khác nhau. Như vậy, chúng ta có cơ may khác nữa, nhưng chúng ta sẽ tái sinh với hình tướng nào ? Điều ấy tùy thuộc vào nghiệp của chúng ta. Nếu chúng ta tái sinh mà bị kẹt trong hình tướng của một con chim hay con cá , thì thật khó cho chúng ta đạt được tiến bộ tâm linh. Trong lúc chúng ta có cơ hội đặc biệt này, chúng ta nên cố gắng trở thành những người có đạo đức, tránh mọi hành động tham nhũng hay bất thiện, và cư xử rất hào phóng để bảo đảm được tái sinh làm người tốt đẹp hơn trong kiếp sau.

 

Tuy nhiên, được tái sinh làm người cũng chưa đủ. Nhiều người được sinh ra trong thế giới này vẫn đang chịu đau khổ vô cùng. Nhiều người không có đủ nước uống. Nhiều người không có đủ thức ăn. Khi chúng ta nhớ như vậy, chúng ta có thể thật sự cảm thấy vui sướng vì được tái sinh làm người. Chúng ta  có thể thấy rằng chúng ta đã may mắn biết bao khi có đầy đủ mọi nhu cầu cho cuộc sống. Chúng ta may mắn biết bao khi có được thời gian để chăm sóc đời sống tâm linh, phát khởi lòng từ bi và ước nguyện cứu độ mọi chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

 

Điều này đưa chúng ta đến với vấn đề công bằng xã hội. Trong nhiều xã hội khác nhau trong địa cầu này, không phải tất cả con người đều có được cơ hội bình đẳng. Một số người rất may mắn. Họ được sinh ra trong gia đình giàu có, có đầy đủ thức ăn, thức uống, có nhà ở, và có nhiều cơ hội được học hành. Nhưng rất nhiều người không được may mắn như vậy. Nhất là phụ nữ phải chịu rất nhiều đau khổ. Phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng tình trạng nghèo đói nặng nề nhất trên thế giới. Vì vậy, khi chúng ta nói đến công bằng xã hội, chúng ta cần phải nhớ đến những khổ đau của người khác, nhất là những đau khổ mà phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng.

 

Làm thế nào lại xảy ra tình trạng phụ nữ và trẻ em phải chịu đau khổ nhiều hơn ? Như thống kê của Liên Hiệp Quốc cho chúng ta biết, nếu 60% công việc trên thế giới là do phụ nữ gánh vác, tại sao chỉ có 20% tài sản của thế giới và chỉ 1% đất đai là thuộc sở hữu của phụ nữ ?  Có điều gì đó hết sức sai lầm. Nếu phụ nữ phải làm việc, nhưng không được nhận sự đền đáp xứng đáng với công việc họ làm, thì rõ ràng là thế giới  này đầy dẫy bất công.

 

Có nhiều loại công bằng và bất công khác nhau. Chúng ta nói đến quyền của thú vật, nhân quyền, công bằng về khí hậu, công bằng kinh tế và công bằng xã hội. Tất cả những vấn đề ấy đều tương quan với nhau. Khi chúng ta nói đến công bằng cho nữ giới, chúng ta công nhận rằng phụ nữ không được trả lương bằng với nam giới về một công việc giống nhau. Ngay cả ở Hoa Kỳ, phụ nữ cũng không có quyền bình đẳng. Điều này làm cho nhiều người ở các quốc gia khác rất ngạc nhiên. Vấn đề bình quyền đối với nữ giới vẫn được nêu lên trong Quốc hội  nhiều lần, nhưng vẫn luôn luôn bị bỏ phiếu không chấp thuận. Các công ty không muốn phụ nữ được bình đẳng quyền lợi, bởi vì như vậy họ sẽ phải trả lương phụ nữ ngang bằng với nam giới. Phụ nữ phải chịu đựng nặng nề nhất phần lớn những bất công về quyền lợi kinh tế đang tràn lan trên thế giới.

 

Nếu chúng ta nhắm đến việc xây dựng một xã hội công bằng, chúng ta cần phải tạo dựng một cấu trúc xã hội công bằng, các chính quyền công bằng, các tiến trình chính trị công bằng, và các tổ hợp công ty công bằng. Thường thì phụ nữ không được đại diện ngang bằng với nam giới để có tiếng nói trong hệ thống chính quyền của chúng ta. Phụ nữ thường phải làm việc nhiều hơn, bởi vì ngoài công việc ở sở, họ còn phải gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong gia đình. Về phương diện chính trị, phụ nữ không có thì giờ nhàn rỗi hay của cải cần thiết để điều hành văn phòng, thậm chí họ không có thì giờ để đi bỏ phiếu. Cũng vì phụ nữ thường không giàu có bằng nam giới, nên họ cũng không có tài nguyên hỗ trợ để có thể thắng cử. Hệ thống tuyển cử rõ ràng là mất quân bình. Điều này có nghĩa là tiếng nói của phụ nữ không được lắng nghe, không được kính trọng, hay không được đại diện ngang bằng với nam giới.

 

Nhiều quốc gia có luật lệ để bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Đáng mừng  là đã có những người tận tụy đang làm việc ngoài giờ để bảo đảm rằng các luật lệ ấy được thi hành. Tuy nhiên, trong nhiều quốc gia, quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không được bảo vệ đúng mức. Tất cả chúng ta cần làm việc với nhau như một đại gia đình nhân loại để sửa sai vấn đề này.  Trong nhiều quốc gia, phụ nữ phải sống dưới sự đàn áp chính trị và những qui định giới hạn khác. Ví dụ, đôi lúc có những phụ nữ muốn đi dự các Hội nghị quốc tế Sakyadhita về Nữ giới Phật giáo, nhưng không thể xin được hộ chiếu hoặc không được cấp giấy phép rời khỏi đất nước họ. Một số chính quyền không công nhận quyền tự do đi lại của công dân họ, và trong những quốc gia đó chúng ta tìm thấy rất nhiều vi phạm về nhân quyền và quyền lợi của phụ nữ. Nếu chúng ta may mắn được sống trong một quốc gia bảo đảm cho chúng ta những quyền lợi về chính trị và nhân quyền, chúng ta cần phải cảm kích điều đó và phải cảnh giác để bảo vệ những quyền ấy, không những vì lợi ích của chúng ta mà còn vì lợi ích của người khác nữa.

 

Khi chúng ta nói đến chính trị, chúng ta nói về quyền lực và sự phân phối công bằng quyền lực đó. Khi chúng ta nói về quyền lực, chúng ta nói về quyền lực trong gia đình, ở nơi làm việc, ở tòa án, ở các tiến trình chính trị, và tôn giáo.

 

Trong suốt quá trình lịch sử cho đến ngày nay, chúng ta thấy nhiều sự kiện xảy ra về chủ nghĩa tôn giáo dân tộc và sự thông đồng giữa tôn giáo và quân phiệt. Trong vấn đề này, hiếm khi chúng ta nghe được tiếng nói của phụ nữ, hoặc thấy đại diện của nữ giới. Giá trị của những đóng góp của phụ nữ như những người chăm sóc trẻ em, chồng, bạn bè, và cộng đồng thường bị bỏ qua. Bản chất người phụ nữ  đã phát triển những đức tính độc đáo để giúp đỡ kẻ khác, lại là những người phải chịu rất nhiều khổ đau. Là phụ nữ, chúng ta không nên đánh giá thấp những đức tính từ ái ấy. Chúng ta không nên nhắm mắt trước sự kiện là có nhiều người sử dụng tôn giáo cho mục đích chính trị của riêng họ, nhằm đạt được và duy trì quyền lực đối với kẻ khác, và sự khao khát quyền lực của họ đã biện minh cho những bất bình đẳng và chiến tranh không bao giờ chấm dứt . Việc đưa những phụ nữ từ ái vào làm việc ở mọi cấp bậc trong chính quyền có thể giúp giảm thiểu sự tham quyền thái quá của nam giới, thay vào đó dùng những gì đạt được để làm lợi lạc cho xã hội.

 

Giống như phần lớn các tôn giáo khác, Phật giáo thuyết giảng về hòa bình, và hầu hết Phật tử là những người yêu chuộng hòa bình. Thật không may là ngày nay chủ nghĩa dân tộc Phật giáo đang trên đà gia tăng, điều này rất nguy hiểm cho mọi người. Sự kiện này trở thành vấn nạn bất công xã hội, bởi vì chủ nghĩa tôn giáo dân tộc đồng hành với sự bất bao dung, vốn hoạt động chống lại quyền lợi của tín đồ các tôn giáo khác. Vấn đề bản sắc tôn giáo và bản sắc dân tộc rất phức tạp, nhưng sử dụng tôn giáo và chủ nghĩa dân tộc để biện minh cho bạo động và đàn áp là đáng kinh hoàng, đưa nhân loại đến bên bờ hủy diệt.

 

Như phần lớn các tôn giáo khác, Phật giáo có những phương tiện để kiến tạo và duy trì hòa bình và công lý. Phật tử có trách nhiệm sử dụng tốt những phương tiện ấy. Chúng ta cần phải học tập và áp dụng tốt những lời Phật dạy vào đời sống, khám phá ra những phương tiện kiến tạo bình an và tìm  cách áp dụng chúng vào xã hội vì lợi lạc của mọi người.

 

Tất cả chúng ta cần mở mắt ra để nhận thức các vấn đề gây khổ đau cho nhân loại. Chúng ta cần nhìn thẳng vào những bất công trên thế giới và sử dụng bất cứ phương pháp nào mà truyền thống của chúng ta sẵn có để chữa trị những bất bình đẳng và bất công ấy. Nhận diện những bất công ấy có thể làm chúng ta hết sức đau buồn, nhưng cũng có thể làm tăng thêm sức mạnh, khơi nguồn cảm hứng giúp chúng ta nỗ lực nhiều hơn để chống lại những thế lực đầy tham lam, và tìm ra liều thuốc chữa trị cho những nỗi khổ đau của con người trên thế giới. Nhận diện tầm mức sâu xa về những khổ đau của con người ( và động vật ) có thể là một chất kích hoạt mạnh mẽ để phát triển lòng từ bi. Tất cả chúng ta, từ những đất nước và truyền thống tôn giáo khác nhau, đều có trách nhiệm chia sẻ kiến thức, chia sẻ trí tuệ và chia sẻ lòng từ bi của chúng ta.

 

Cùng hợp lực với nhau, nữ giới là một lực lượng rất hùng mạnh. Hãy tưởng tượng ba tỷ rưỡi người cùng hợp tác để tranh đấu cho công bằng xã hội. Chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu Phật tử trên thế giới, nhưng có thể là một tỷ người, và một nửa số đó là nữ giới. Cùng hợp tác để tranh đấu cho công bằng xã hội, chúng ta có thể là một  lực lượng rất mạnh mẽ. Nếu chúng ta cùng làm việc với nhau trong sự hoà hợp và với lòng từ bi, thực hành chánh niệm và tỉnh giác. Tôi tin rằng chúng ta có thể thay đổi thế giới, vì lợi ích của con người và tất cả chúng sinh khác. Cùng hợp tác với nhau, chúng ta có thể kiến tạo những cơ cấu xã hội công bằng và nhân đạo hơn.

 

Để có hiệu quả tốt, các Phật tử cần phân biệt sự khác nhau giữa an sinh xã hội và công bằng xã hội. Nóí chung Phật tử rất giỏi về các hoạt động từ thiện. Chùa chiền thường là những trung tâm phân phối thực phẩm và nơi cung cấp việc chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, chăm sóc những gia đình gặp khó khăn, trẻ mồ côi và những người già yếu. Các hoạt động này là những đóng góp tuyệt vời cho lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phải làm nhiều hơn nữa. Chúng ta cần phải công nhận rằng có một sự khác nhau rõ ràng giữa an sinh xã hội và công bằng xã hội. Những dự án về an sinh xã hội giúp cải thiện  điều kiện sống của người nghèo. Những dự án về công bằng xã hội hoạt động  để thay đổi những cơ cấu bất công tạo nên nghèo đói và bất ổn, thay thế chúng bằng những cơ cấu kiến tạo sự lành mạnh và an ổn cho tất cả chúng sinh. Thật phước đức khi chúng ta cung cấp thực phẩm cho người nghèo, nhưng sự bố thí của chúng ta không giải quyết được nguyên nhân của nghèo đói và bất ổn. Với công bằng xã hội, chúng ta cần phải đào sâu hơn nữa. Thậm chí nếu chúng ta có thể cung cấp thực phẩm cho mọi con người đói khổ trên thế giới ngày nay, điều này cũng không giải quyết được nạn đói hay vấn đề thiếu thốn lương thực trên thề giới. Chúng ta cần phải hỏi : Tại sao những người này đói ? Đâu là  gốc rễ của vấn đề này  ? Làm thế nào để giải quyết vấn đề này ?

 

Để giải quyết những vấn đề của thế giới, chúng ta cần phải lắng nghe tiếng nói của những người đau khổ và tìm ra những cách giải quyết từ mọi hướng. Nếu chúng ta biết dựa vào nguồn trí tuệ tập thể và lòng từ bi của tất cả các tôn giáo và dân tộc trên thế giới, thì sẽ có hy vọng. Nếu chúng ta biết dựa vào nguồn trí tuệ của nữ giới, là những người thường phải chịu đựng nhiều đau khổ nhất, chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh đích thực. Tôi thanh thật tin rằng lòng từ bi là giải pháp để chấm dứt chiến tranh, nạn khủng bố, giết hại, tra tấn và đàn áp.

 

Lòng từ bi hoạt động thật tự nhiên để hướng đến mục đích cuối cùng ấy. Nếu chúng ta muốn mọi chúng sinh được hạnh phúc, tự nhiên là chúng ta muốn giải thoát chúng sinh khỏi mọi đau khổ. Nếu chúng ta muốn giải thoát chúng sinh khỏi mọi đau khổ, tự nhiên là chúng ta muốn chúng sinh được hạnh phúc. Để làm điều này, chúng ta cần phải mở mắt ra để thấy những khổ đau của kẻ khác, đừng nhắm mắt làm ngơ – chúng ta cần mở rộng tấm lòng trước những bất hạnh của kẻ khác, đừng khép chặt trái tim. Lòng từ bi là phương thuốc mạnh nhất để chữa trị hận thù, bất công, đàn áp và tất cả mọi căn bệnh khác của thế giới. Nếu chúng ta phát triển lòng từ bi, chúng ta sẽ bắt đầu  nhanh chóng nhận ra mối liên hệ giữa hạnh phúc của chính chúng ta với hạnh phúc của người khác. Hạnh phúc của chúng ta liên hệ không thể tách rời với hạnh phúc của kẻ khác. Chỉ vì vô minh đã ngăn cản chúng ta không thấy được những mối liên hệ ấy.

 

Khi chúng ta phát triển lòng từ bi, chúng ta sẽ tự dộng tranh đấu cho hoà bình và công lý, bởi vì chúng ta không còn có thể chịu đựng được trước nỗi thống khổ của chúng sinh. Vào thời điểm quan trọng này, khi chính sự tồn tại của đời sống trên Trái Đất này đang bị đe dọa như chúng ta  đã biết, tôi tin rằng sự thịnh vượng của nhân loại tùy thuộc vào hai tài sản vô cùng quý báu: đó là nữ giới và lòng từ bi. Cùng hợp tác với nhau, tôi tin rằng chúng ta sẽ xây dựng được một thế giới công bằng và từ bi hơn. Đây là thời điểm hoàn hảo để chúng ta tiến hành.

 

 

 

 

 

facebook-1


***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/07/2022(Xem: 3626)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 3612)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
07/12/2021(Xem: 2421)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/2021(Xem: 10392)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 8662)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 6078)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 7077)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 6661)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 9435)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
22/08/2021(Xem: 2137)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,532,924