Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

5. Hư Không, Hữu Hạn và Vô Hạn (tt)

06/10/201319:01(Xem: 4602)
5. Hư Không, Hữu Hạn và Vô Hạn (tt)
hoa_sen (23)

Khoa Học Phương Tây và Triết Học Phương Đông
Bài 5: Hư Không, Hữu Hạn và Vô Hạn (tiếp theo)
Kiều Tiến Dũng



Biết được cái không là nhận thức được chân không. Từ chân không hiện bày ra cái gọi là có. Đây không những là chân lý Dịch, Phật, Lão mà cũng chính là cái chân không của vật lý hiện đại.

**
Ở phần nhỏ nhất, cấu trúc của vật chất là các hạt cơ bản được chia thành hai nhóm gồm có nhóm hạt điện tử và các hạt cùng loại gọi là leptons, và nhóm các hạt gọi là quarks. Nhóm leptons thì ta có thể khảo sát trực tiếp được. Nhóm quarks tuy không tồn tại độc lập nhưng lại là cấu trúc của protons (dương tử) và neutrons (trung hòa tử). Protons và neutrons nằm trong hạt nhân và electrons bao ngoài tạo thành các nguyên tử. Nguyên tử kết hợp lại để cho ta phân tử.

Ngoài ra còn có các hạt điều chế sự tương tác giữa hai nhóm trên. Thí dụ như hạt ánh sáng gọi là photons chính là hạt điều chế sự tương tác qua lực điện từ; gravitons qua sức hút trọng lực, v.v.

Khi quarks mới được đề nghị thì có người chế diễu cho đấy là láo khoét, chẳng khác gì tiếng kêu quác, quác của mấy con vịt. Từ đấy cái tên quarks đã được chính thức hóa!

Nhưng còn lạ lùng hơn quarks là sự hiện hữu của phản vật chất. Phản vật chất đã được tiên đoán trước hết từ một phương trình toán học, rồi sau đó mới được xác nhận qua thực nghiệm. Phải nói đây là một trong những thành công kỳ diệu của ngôn ngữ toán, qua cái thiên tài của Paul Dirac, nhà vật lý người Anh. Vào năm 1928, Dirac đã tổng hợp cơ lượng tử và thuyết tương đối hẹp trong một phương trình mang tên mình. Nhưng khi giải phương trình đó thì ngoài cái nghiệm số bình thường lại còn có thêm một nghiệm số nghịch lý. Cái thiên tài và cũng là sự liều lĩnh của Dirac là ở chổ ông dám gán cho nghiệm số nghịch lý này ý nghĩa của cái gọi là phản vật chất. Nếu âm điện tử (electrons) là vật chất bình thường thì phản vật chất của nó được gọi là dương điện tử (positrons). Positrons giống như âm điện tử ở mọi mặt, chỉ khác chổ điện tích của nó lại là dương thay vì âm.

Năm năm sau đó, người ta mới tìm được dương điện tử và trao giải Nobel cho Dirac. Lúc đầu ông có ý định từ chối vì ông là người rất trầm lặng không thích đám đông; nhưng có người bạn vạch ra rằng nếu ông từ chối thì chỉ làm ông nổi tiếng thêm mà thôi, và lúc ấy sẽ luôn bị đám đông quây quanh. Vì thế ông mới miễn cưỡng nhận giải Nobel Vật lý, ở cái tuổi 31.

Sau này chúng ta biết là không chỉ electrons, mà nhiều hạt khác cũng có phản hạt của mình, protons và phản protons, quarks và phản quarks, hay nói rộng ra vật chất (matter) và phản vật chất (antimatter). Chỉ trừ những hạt như hạt photons thì phản hạt cũng chính là nó. Trong phòng thí nghiệm người ta cũng đã thành công trong việc chế tạo các phản nguyên tử, với phản protons trong hạt nhân và dương điện tử bên ngoài.

Khi gặp nhau vật chất và phản vật chất sẽ triệt tiêu lẫn nhau hòan toàn, tạo ra một năng lượng lớn theo phương trình E=mc^2. Năng lượng này lớn hơn rất nhiều so với các phản ứng hạt nhân, nên hiện nay người ta cũng đang ra công nghiên cứu dùng phản vật chất để làm bom, hay dùng nó làm nhiên liệu cho các động cơ của phi thuyền liên hành tinh.

Tuy vậy, “Tại sao thế giới này lại có rất ít phản vật chất hơn là vật chất?” vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời. Nhưng trong cái gọi là chân không thì lại “đầy rẫy” vật chất và phản vật chất!


**
Con số không, zero tuy sinh sau đẻ muộn trong toán học nhưng là một con số lý thú. Phép chia cho zero gắn liền với khái niệm vô cực như đã trình bày trong kỳ trước.

Nhưng chính cho phép nhân cho zero cũng đã ẩn chứa cái sức chứa vô hạn của nó, của cái gọi là hư vô. Lấy bất cứ con số hữu hạn nào đem nhân cho zero thì sẽ bị zero “nuốt chửng.” Đó cũng chính cái sức chứa của cái gọi là chân không (vaccum) trong Thuyết Trường Lượng Tử của vật lý hiện đại.

**
Trong khoa học lúc ban đầu chân không (vacuum) được dành cho cái trạng thái không có gì hết, thí dụ như cái chân không trong những bóng đèn vacuum tubes dùng trong radio trước khi có transitors. Nhưng thuyết trường lượng tử, sự tổng hợp của cơ lượng tử và thuyết tương đối hẹp, đã đảo lộn cái khái niệm về chân không –tưởng chừng như là không có gì nhưng lại là tất cả.

Chân không được định nghĩa là trạng thái năng lượng thấp nhất của vũ trụ. Điều vô cùng ngạc nhiên là các phương trình toán của thuyết lượng tử cho rằng cái năng lượng thấp nhất đó lại là vô hạn! Vâng, năng lượng thấp nhất của vũ trụ lại là vô hạn! Infinity!

Vật chất, mặt khác, luôn ở trạng thái năng lượng cao hơn năng lượng chân không. Nhưng năng lượng cao hơn cái năng lượng vô hạn của chân không là cái gì? Phải chăng đó cũng là một loại vô hạn? Thế thì tại sao năng lượng và khối lượng mà ta đo được ở vật chất lại là hữu hạn?

Thuyết trường lượng tử lại là thuyết khoa học thành công nhất từ trước đến nay trong lịch sử khoa học. Các tiên đoán của nó đã được kiểm chứng với độ chính xác 1 phần trong một tỷ phần. Để đi đến những kết quả này các nhà vật lý tiên phong đã giải thích là cái ta thấy được ở vật chất chỉ là một phần hữu hạn của cái bản thể vô hạn của sự vật – cái hữu hạn như những đợt sóng bề nỗi của một đại dương vô hạn.

Cái hữu hạn mà ta thấy được là sự sai biệt giữa hai cái vô hạn, một là cái vô hạn của sự vật, còn cái vô hạn kia là cái vô hạn của điểm tham chiếu, tức là của chân không. Lấy một vô hạn trừ đi một cái vô hạn của điểm tham chiếu để có được một con số hữu hạn. Và rồi con số hữu hạn này lại được kiểm chứng chính xác bằng thí nghiệm. Cái phép toán vô hạn trừ vô hạn này được gọi là phép “tái bình thường hóa” (renormalisation).

Đó là cái thành công vượt bực của thuyết trường lượng tử. Đồng thời đấy cũng lại là cái bí ẩn, chưa thể giải thích thỏa đáng được.

**
Năng lượng được bảo tồn nói chung trong một khoản thời gian dài, như đã có đề cập trong một bài trước đây. Nhưng trong những khỏang khắc rất ngắn, ta có thể vay mượn năng lượng từ con số không. Và dĩ nhiên sau đó phải trả lại năng lượng này về con số không. Năng lượng càng lớn thì thời gian vay mượn càng ngắn; và ngược lại, thời gian càng dài thì năng lượng vay mượn được càng ít đi, cho đến khi năng lượng vay mượn được không còn là đáng kể nữa. Lúc ấy, ta lại có lại định luật bảo toàn năng lượng.

Khả năng vay mượn năng lượng như thế đã được nêu ra trong “nguyên lý bất định năng lượng và thời gian” (energy-time uncertainty principle) của Heisenberg, nhà vật lý người Đức được giao trọng trách nhưng đã cố tình trì hoãn việc chế bom nguyên tử cho Đức Quốc Xã.

Với khả năng vay mượn này, trong một khoảng thời gian rất ngắn một năng lượng đủ lớn sẽ được vay mượn trong chân không để tạo ra một cặp vật chất và phản vật chất. Các hạt được tạo ra như thế được gọi là các “ảo hạt” (virtual particles). Sau đó cặp ảo hạt này sẽ tự tiêu hủy lẫn nhau để hoàn trả món nợ năng lượng. Đây là bản thể biến chuyển không ngừng của cái gọi là chân không!

**
Vật chất cũng vậy. Một hạt điện tử không phải luôn là “bất động.” Nó không ngừng bị chi phối bởi cái chân không chung quanh nó. Và tự nó cũng luôn biến chuyển. Trong những khoảng khắc ngắn ngũi, âm điện tử có thể tách ra một photon; nhưng nhanh chóng photon này lại kết hợp lại với cái âm điện tử ban đầu. Hoặc ảo hạt photon sẽ tạo ra thêm một cặp ảo hạt khác; cặp ảo hạt mới này lại nhanh chóng trả lại photon ảo hạt trước đó. Để rồi cuối cùng photon ảo hạt này kết hợp trở lại âm điện tử ban đầu. Ảo hạt cứ thiên biến, vạn biến trong một vật thể “thật hạt” ta gọi là âm điện tử.

Đó là chân bản chất của mọi sự vật.


**
Trên đây là cái nhìn của vật lý hiện đại về cái chân không thật sự, về cái vô hạn trong cái hữu hạn, về cái bản chất biến chuyển không ngừng của vạn vật. 

Vật lý cổ điển cho rằng mọi vật sẽ ù lì không thay đổi trừ phi có một lực tác động từ bên ngoài. Cơ Lượng Tử ngày nay, ngược lại, lại cho rằng ngay trong bản chất của vạn vật đã hàm chứa sẵn cái khả năng tự biến chuyển và luôn chuyển biến. Có được kết luận này là vì cái mức năng lượng thấp nhất của các hệ vật chất lại có cái giá trị khác zero. Và năng lượng khác zero là gì nếu không phải là khả năng biến hóa?

Kết luận này hình như lại trùng hợp với cái nhìn của Dịch, Phật và Đạo về bản chất vô thường tự có của vạn hữu, và của ngay cả cái gọi là hư vô.

**
Theo Kinh Dịch, vô cực là hư vô, và cũng chính lại là thái cực, cái cực vô hạn. Và chúng cũng là nguồn gốc của vạn hữu, của muôn vật:

Vô Cực sinh Thái Cực
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi
Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng
Tứ Tượng sinh Bát Quái
Bát Quái biến hóa ra vô cùng

Từ Không thành Có
Từ Có sanh Âm Dương
Âm Dương sanh Bốn Hướng
Bốn Hướng Sanh Tám Phương
Tám Phương biến hóa vô tận

Vạn vật luân lưu trên giòng biến thiên, chuyển vận không ngừng. Hơn thế nữa, cái chuyển vận đó không phải là lung tung, vô chiều hướng, mà chính là để phục hồi nguyên bản. Dịch Kinh viết: “Nguyên thủy phản chung,” nguyên thủy sẽ trở thành cùng đích là vì vậy. Nhận xét này không thể nào không đem đi so sánh với cái biến chuyển của chân không hay của các hạt cơ bản trong vật lý. Tự nó, các biến chuyển này sẽ đưa chân không về chân không, hạt điện tử về hạt điện tử như đã trình bày trên đây.

**
Đạo Đức Kinh lại cũng có những câu:

“Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị,
Nhị sinh Tam,Tam sinh vạn vật.
Vạn vật phụ âm nhi bão dương,
Trùng khí dĩ vi hòa”

Đạo sinh Một, Một sinh Hai,
Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật.
Trong vạn vật không vật nào mà không cõng âm, bồng dương
Âm dương được điều hòa bằng một loại khí trùng ngưng
(Nguyễn Duy Cần)

Phải chăng Lão Tử đã nhắn gởi cái Đạo cũng là cái tương đương của trường chân không trong vật lý? “Vạn vật sinh ư hữu, Hữu sinh ư Vô,” — vạn vật sinh từ có, có sinh từ không. Tuy “Không” mà lại vô cùng:

“Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh
Uyên hề tự vạn vật chi tòng”

Đạo thì trống không, nhưng đổ vô mãi cũng không đầy
Đạo như vực thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật
(Nguyễn Duy Cần)

**
Kinh phật cũng chia xẻ cùng quan điểm dẫu có vũ trụ, hay không có vũ trụ, Vô Cực cũng không thể nào tăng giảm được gì, vì nó là Vô Hạn. Mà khi đã có vũ trụ vạn vật rồi, những hình hài, sắc tướng cũng không tách rời khỏi Vô Cực được. Thành thử Vô Hạn, Vô Cực, vừa ở trong, vừa ở ngoài Hữu Hạn. Vô Hạn y như là một trùng dương, mà Hữu Hạn như là những làn sóng nhấp nhô, trên mặt. Cái trùng dương của năng lượng vô cùng (infinity), và cái hữu hạn trong phép trừ giữa hai số vô cùng trong giải pháp renormalisation của vật lý.

Vạn vật do duyên hợp, hội đủ duyên thì hợp lại nhưng bản chất luôn lại là không, là vô ngã. Và cũng lại là tạm bợ nên gọi là huyễn, là vô thường, sẽ rã tan trở thành không trở lại. Có phải đây cũng bao gồm luôn cả sự vay mượn năng lượng trong một khoảng thời gian ngắn theo nguyên lý bất định năng lượng và thời gian của Heisenberg?

**
Bát Nhã Tâm Kinh nói về cái không một cách ngắn gọn nhưng súc tích:

“Không bất dị sắc, sắc bất dị không, không tức thị sắc, sắc tức thị không. Thọ, tưởng, hành, thức, diệt phục như thị.”

Cái không không khác cái có, cái có không khác cái không; cái không tức là cái có, cái có tức là cái không; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Ấy là, “Không bất dị thọ, thọ bất dị không, không tức thị thọ, thọ tức thị không,” v.v.

Đấy là cái trung đạo của nhà phật.

Xin nhắc lại nhà phật chia thân này làm năm nhóm: nhóm hình tướng gọi là sắc uẩn, nhóm cảm thọ gọi là thọ uẩn, nhóm tưởng tượng gọi là tưởng uẩn, nhóm suy tư gọi là hành uẩn, và nhóm phân biệt gọi là thức uẩn.

**
Ngộ cái không là nhận thức được chân không. Từ cái chân không hiện bày ra diệu hữu, sinh ra mọi cái có một cách khôn lường.

Hư vô thì vô ngã nhưng cũng lại là vô thường. Vạn hữu đến từ hư vô nên cũng vô ngã, vô thường. Tuyệt đối chăng là cái thường cữu của cái chân không đại ngã.

**
Chuyện kể trong Kinh A Hàm, có người tu sĩ Bà La Môn đến hỏi Thích Ca: “Ngài biết mọi sự đều là huyễn, vậy ngài có phải là huyễn không?”
Thích Ca hỏi lại: “Ông có nghe nói nước Bạt Kỳ có kỷ luật nghiêm khắc không?” 
Trả lời:“Có.”
Thích Ca hỏi tiếp:“Ông có biết những người vi phạm kỷ luật sẽ bị nhốt tù hay không?”
Tu sĩ Bà La Môn đáp:“Biết, tôi biết rõ lắm.”
Thích Ca lại hỏi tiếp:“Vậy ông biết rồi, nhưng ông có phải là người tù hay không?”

Biết người vi phạm kỷ luật ở tù, nhưng mình đâu phải kẻ ở tù. Biết vạn vật là như huyễn, biết tánh các pháp là không, nhưng mình đâu hẳn là không. Vì thế tại sao mình lại cứ tình nguyện đi làm người tù cho cái “không/có” trong cõi vô minh?

**
Đâu là không, đâu là có?

Vào đời nhà Đường bên Trung Hoa có vị cư sĩ đến hỏi đạo với thiền sư Quốc Nhất, là vị cao tăng được vua Đường phong tặng là bậc nhất trong nước. Cư sĩ hỏi ngài có thiên đường không thì ngài đáp là không; có địa ngục không thì ngài cũng đáp là không. Hỏi điều gì thì Quốc Nhất đều trả lời là không. Sau đó vị cư sĩ này đến hỏi thiền sư Trí Tạng. Cư sĩ hỏi ngài có thiên đường không thì ngài đáp là có; có địa ngục không thì ngài cũng đáp là có. Hỏi điều gì thì Trí Tạng đều trả lời là có.

Vị cư sĩ ngạc nhiên hỏi: “Tại sao hòa thượng lại nói vậy?”

Trí Tạng hỏi ngược lại:“Trước khi đến đây ông đã từng đi những nơi nào?”

“Tôi đã từng đến hòa thượng Quốc Nhất. Tôi hỏi gì thì ngài ấy cũng đáp là không. Nhưng tại sao tôi hỏi gì thì hòa thượng nay lại đáp là có?”

“Hòa Thượng Quốc Nhất có vợ hay không?”

“Dĩ nhiên là không.”

“Còn ông có vợ hay không?”

“Dạ có.”

Trí Tạng liền giải thích:“Vì hòa thượng Quốc Nhất không có vợ nên nói cái gì cũng không. Nhưng vì ông có vợ nên tôi trả lời cái gì cũng có!”

À, thì ra là thế, theo lời cao tăng thì có vợ là có tất cả -- từ thiên đường cho tới địa ngục!

**
Coi vậy mà không phải vậy? Có tất cả hay không có gì cả? Không có gì cả -- như chàng độc thân, như cái chân không -- mà lại có tất cả? Ở đây, người viết xin đi theo con đường Trung Đạo của nhà phật, miễn trả lời về vấn đề này. Chỉ xin đứng ngoài vòng “có không, không có” vậy. Vã lại, sự thật thường làm mất lòng người, đau lòng ta.


Kiều Tiến Dũng
Melbourne, Úc Châu
Tháng 7, 2013

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/11/2013(Xem: 18235)
Một trong những vấn đề cổ xưa nhất thách thức nhân loại là câu hỏi về đời sống sau khi chết. Chúng ta đã từ đâu đến và sau khi chết sẽ đi về đâu? Cùng với đó chúng ta tự hỏi mục đích của đời sống tốt là gì. Trước hết, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng sống tốt thì khó hơn sống xấu và nếu không có những lý do thật sự tốt chúng ta dĩ nhiên sẽ thích làm điều dễ. Theo suy nghĩ của tôi, đây là lý do tại sao các tôn giáo có mặt và đi cùng với chúng là những khái niệm về thiên đường và địa ngục.
02/11/2013(Xem: 6391)
Trước đây, tôi bắt đầu cuộc thảo luận này bằng cách nói về phương thức mà các pháp tồn tại chỉ đơn thuần do tâm quy ước và tiếp tục giải thích rõ các pháp chỉ mang tính quy ước là không đủ để chúng tồn tại, bởi vì một vật nào đó chỉ đơn thuần bị quy ước thì không có nghĩa nó tồn tại. Tôi tiếp tục trình bày về ba phạm trù cần thiết đối với một pháp tồn tại: nền tảng hợp lý, không có tổn hại xuất phát từ tâm vững chải của người khác và không có tổn hại xuất phát từ trí tuệ nhận thức tánh không.
31/10/2013(Xem: 18560)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
30/10/2013(Xem: 39734)
Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này, đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.
26/10/2013(Xem: 63453)
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu… Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật, hoặc từ sự tôn kính thuần tín ngưỡng tôn giáo, đủ thể loại, nhiều tầm cỡ, đã có ảnh hưởng sâu xa trong tâm khảm biết bao độc giả, khán giả, khách hành hương chiêm bái và những người yêu thích thưởng ngoạn nghệ thuật.
17/10/2013(Xem: 30417)
Là nhân chứng sống động của lịch sử, của dòng đời, ai cũng thế. Sinh ra giữa cõi trần, có tai phải nghe, có mắt phải thấy, dù muốn nghe, muốn thấy hay không. Sống, có óc phải suy tư, có miệng phải nói, có chân phải đi, có tay phải làm. Nhưng phải biết nên nghĩ gì, nói gì, đi đâu, làm gì ! Sống, có bạn để tâm sự, có con để trao truyền. Tâm sự chuyện gì, trao truyền cái gì? Tôi tự hỏi và trải lòng ra cho ai muốn thấy tim tôi đang nhảy, phổi tôi đang thở và mỗi tế bào sinh diệt trong bất diệt của chân như. Chỉ xin đừng làm bác sĩ giải phẫu chân dung của tôi, nhưng nếu muốn thì cứ.
17/10/2013(Xem: 41495)
Tôi đọc kinh sách, nghe giảng và học hỏi, đồng thời rút kinh nghiệm trong những năm qua cùng các pháp hữu nghiên cứu và hoằng truyền chánh pháp, đặc biệt với đạo hữu Nguyên Phước. Thấy cần, rút ra một số nét cơ bản để chia xẻ cùng quý Phật tử thật dễ đọc, dễ hiểu, dễ thực hành trong niềm tin Phật pháp.
06/10/2013(Xem: 9359)
Con người chỉ là một loài động vật. Nhưng lại là một loài động vật hơn hẳn tất cả các loài khác trên mặt đất này. Các loài thú thường thì có loài phải sống tập đoàn, có loài chỉ sống riêng lẻ, trừ những lúc cần gặp nhau để giao phối, rồi lại trở về cuộc sống riêng biệt. Loài người, trái lại, có thể sống quây quần bên nhau nhưng lại có những riêng tư --nhiều khi đó lại là những riêng tư không thể chia sẻ với ai được, sống để bụng chết mang theo:
18/09/2013(Xem: 14131)
Bản luận này ngoài các bài tựa ra còn có 26 chương. 25 chương đầu trình bày cụ thể triết lý căn bản giáo lý Phật giáo, giải thích hiện tượng vũ trụ nhân sinh quy về bản thể Chân như tuyệt đối. Chương thứ 26 trình bày vai trò của pháp tu Tịnh độ; và có phải đây là mục đích Luận chủ giúp người đọc trước hết nhận thức rõ ràng vấn đề và sau đó tìm về một pháp tu thích hợp? Mong những ai có dịp đọc trọn tác phẩm này có thể tìm được câu trả lời cho chính mình!
26/06/2013(Xem: 12056)
Đạt được cơ sở con người, cơ sở đó giống như một cái bình thật quý và hiếm hoi, giúp ta có thể giải thoát tất cả kẻ khác và cho cả chính ta ra khỏi đại dương của Luân hồi, cơ sở con người đó giúp ta biết lắng nghe, suy nghĩ và thiền định, cả ngày lẫn đêm không ngưng nghỉ, đấy là cách tu tập của những người Bồ-tát.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]