Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

VI. Lời hay ý đẹp

12/03/201102:44(Xem: 3370)
VI. Lời hay ý đẹp

TRIẾT LÝ NHÀ PHẬT
Đoàn Trung Còn biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

VI. Lời hay ý đẹp

Những tư tưởng sau đây là của Đại sư Lạt-ma Dagpo Lha Dijé, Tổ sư thứ ba của Tây Tạng. Ngài là tác giả nhiều quyển sách về triết lý và đạo đức. Ngài thường dùng tư tưởng này mà răn dạy đệ tử. Về sau, các vị đệ tử ghi nhớ rồi truyền rộng ra khắp nơi. Nhiều người lại ghi chép thành sách để lưu truyền. Lời văn giản dị mà sâu sắc, có thể làm cho người đọc khắc ghi vào tâm trí.

Bà Alexandra David-Néel, người Pháp, có dịp sang Tây Tạng gặp được sách này, liền dịch ra Pháp văn. Soạn giả căn cứ vào bản Pháp văn này mà dịch lại sang Việt văn.






Đã được sanh ra làm người, lại lãng phí đời người để làm những việc vô lý, phá hại, hoặc sống một cách tầm thường rồi chết, ấy chẳng là đáng tiếc lắm sao?



Đời người đã ngắn, mình lại còn đắm chìm trong sự tham lam, đem tri thức mà chôn dưới bùn nhơ của cõi huyễn ảo này, ấy chẳng là đáng tiếc lắm sao?



Một vị thầy hiền đức có thể độ cho mình giải thoát, nhưng nếu tâm chưa sáng suốt mà đã vội xa rời thầy, thì đáng tiếc lắm.



Đức hạnh và khát vọng cầu đạo là cỗ xe đưa ta đến giải thoát, nhưng nếu để cho phiền não phá nát đức hạnh và hủy hoại tấm lòng cầu đạo kia thì thật đáng tiếc.



Tâm ta đã sáng suốt mà lại tự vùi lấp bởi những hành động thấp hèn, làm cho phải lu mờ đi thì thật đáng tiếc lắm.



Đã đạt được đạo cao thượng của chư Phật, mà lại vì sự nuôi thân hay vì một mối lợi hèn, đành đem bán cho những phường không biết giá trị của đạo lý, ấy chẳng là đáng tiếc lắm sao?



Tất cả các chúng sanh đều là thân quyến của ta, phải lấy nghĩa vụ mà cư xử, nếu ta lại lạnh nhạt hay để tâm oán ghét thì thật đáng tiếc lắm.



Nên tìm thầy thông minh trí huệ, thông hiểu đạo pháp và có lòng từ.



Nên chọn nơi yên tĩnh, thanh nhã, có thể học đạo và suy nghĩ, rồi an trụ ở đó.



Nên chọn bạn đồng tâm hợp ý và tin cậy được.



Nên nghĩ đến sự tai hại của tánh tham ăn. Trong khi ở nơi tịnh thất, chỉ nên để sẵn những thức ăn vừa đủ dùng để giữ sức khỏe thôi.



Nên giữ lấy những phương thức ăn uống và sanh hoạt có thể giúp ta luôn được khỏe mạnh.



Nên thực hành đạo pháp và rèn luyện tinh thần để tâm trí được rộng mở hơn.



Nên nghiên cứu tất cả những các tôn giáo nào mà mình có thể hiểu, nhưng không nên giữ định kiến. Phải lấy công tâm mà phán xét để học hỏi.



Không nên gần những vị thầy nhiều tham vọng, ưa thích danh tiếng và lợi dưỡng.



Không nên gần những bằng hữu, quyến thuộc hoặc đệ tử có hại đến cho sự nghiêm trang hoặc tiến hóa về đạo đức.



Không nên đến những nơi có người ghét mình, hoặc nơi mà tâm trí mình không được yên ổn.



Không nên lường gạt hoặc trộm cắp của người đã nuôi dưỡng mình.



Không nên làm những việc có thể làm hại hoặc làm giảm bớt tri thức.



Không nên để sự cẩu thả và dại dột làm mất đi sự yêu mến của người khác đối với mình.



Không nên làm hoặc khuyến khích người khác làm những chuyện vô ích.



Không nên che giấu lỗi mình mà bới móc lỗi người.



Không nên hành động theo sự tham tiếc.



Nên biết rằng vạn vật mà ta cảm nhận được bằng ngũ quan đều có tính chất chung là vô thường, sẽ tan rã. Nhưng tinh thần cũng không thể tự tồn tại cá biệt, cái “ta” không phải là có thật, nên biết rằng nó cũng như là cõi hư không vậy thôi.



Nên biết rằng những ý tưởng sanh ra do bởi những nhân duyên nối tiếp nhau. Nên biết rằng lời nói và thân tứ đại đều là vô thường cả.



Nên biết rằng những khổ não hiện nay là quả báo của các hành vi đã qua rồi. Nhưng khổ não cũng chính là điều kiện cần có để thức tỉnh tâm trí, để hiểu được rằng đạo đức là cần ích, cho nên phải nhận sự khổ não như bậc thầy của mình.



Sung túc về vật chất thường có hại đến đạo đức, cho nên phải coi vinh hoa, phú quí như những giặc nghịch mà mình phải đề phòng. Dù vậy, giàu sang phú quý cũng là điều kiện làm cho trí thức dễ mở mang. Như có thể có được một cách tự nhiên, không nên từ chối.



Nghèo khổ, hoạn nạn đôi khi thúc giục người ta quy hướng về đạo lý. Khi ấy, phải nhận chúng nó là thầy của mình.



Không một ai có thể tồn tại riêng lẻ và không phụ thuộc. Vạn vật hữu hình hoặc vô hình, cho đến những ý tưởng trong tâm trí được tạo ra bởi cảm xúc của giác quan, hoặc những gì xảy ra cho ta bởi việc làm đã qua... Tất cả đều cùng nhau tồn tại và tương quan với nhau rất mật thiết.



Ai đã trở thành một người đạo đức thì phải khéo cư xử theo đạo đức, đừng sống trong lớp vỏ đạo đức mà ăn ở như người phàm tục. Nên lìa xa quê quán, đến những chỗ lạ người ta không biết mình. Như vậy để thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình, những sự luyến mến của quyến thuộc trong cuộc sống thường ngày.



Sau khi tìm được bậc thầy hiền đức, phải từ bỏ đi lòng vị kỷ và kiêu mạn, học hỏi theo giáo lý và tuân theo lời khuyên dạy của thầy.



Đối với những điều hay lạ trong các bài giảng mình đã nghe, hoặc những kinh điển mình đã thọ trì, không được mang ra để luận bàn tranh cãi. Phải thực hành theo đó mỗi ngày mới có sự lợi ích.



Nếu thấy tâm trí được sáng suốt nhờ sự yên tĩnh, không được biếng nhác nữa, mà phải cố dùng lấy sự sáng suốt ấy để tiến xa hơn nữa.



Nếu nhờ tham thiền mà đã được chút an lạc, phải chọn nơi yên vắng mà tĩnh tâm, không được lăn lộn trong chỗ bon chen về vật chất và lo lắng ở thế tục.



Người đạo đức phải nhiếp phục trọn vẹn thân thể, lời nói và tâm ý. Đã lấy giải thoát làm mục đích, chẳng được đuổi theo tư lợi, phải lo việc cứu độ người khác. Lúc nào cũng phải giữ cho thân thể, lời nói và tâm ý không rơi vào lề thói thường tình.



Khi mới bước lên đường đạo, phải cố sức nghe giảng kinh thuyết lý.



Đức tin khởi lên nơi ta, phải dùng nó mà làm đề mục để tham thiền.



Hãy ở nơi thanh tĩnh cho đến khi nào thấu đạt phép định tâm.



Như tư tưởng bị phân tán và tự thấy khó tập trung được, thì phải cố hết sức mà kềm chế.



Như khi mệt mỏi, uể oải, phải cố sức làm cho tâm trí phấn khởi thêm lên.



Phải giữ tâm thiền định mãi cho đến khi được tươi tỉnh không còn sức gì đánh ngã được nữa.



Đã được như vậy rồi, phải cố làm cho tâm thần nhập định một cách tỉnh táo lâu dài hơn nữa. Khi muốn nhập định thì được nhập định tức thì, chừng ấy sẽ thành ra quen thuộc dễ dàng.



Rủi bị hoạn nạn, hãy bền chịu với thân thể, lời nói và tâm ý.



Sự ham muốn và luyến ái nảy nở ra nơi mình và bao giờ cũng muốn khuất phục mình, phải đánh ngã chúng nó ngay từ lúc mới phát ra.



Sự từ bi, bác ái khi mới phát khởi rất yếu ớt, phải cố làm việc hiền lành nhân đức để giúp phát triển những điều ấy.



Hãy nghĩ rằng sanh ra làm người thật rất khó. Nghĩ như vậy khiến mình phải lo hành đạo, vì làm người mới có thể tu thân lập tâm.



Hãy nghĩ đến sự chết, đến sự vô thường không chắc chắn. Vì mình không biết sống được bao lâu và rồi sẽ ra sao, nên điều ấy khiến mình muốn ăn ở theo đạo lý.



Hãy nghĩ rằng nhân quả liên tiếp nhau không bao giờ sai chạy, nghĩ như vậy khiến mình e dè tránh xa những việc gây quả xấu về sau.



Hãy nghĩ đến sự giả dối không thật, sự ngắn ngủi của một đời này so với vòng luân hồi khổ não bất tận. Nghĩ như vậy khiến mình phải tự lo nỗ lực cầu giải thoát.



Hãy nghĩ đến chúng sanh đang chịu biết bao khổ não, tai nạn. Nghĩ như vậy khiến mình phải cố sức tự giải thoát.



Hãy nghĩ rằng chúng sanh chất chứa trong lòng những mối dục vọng xấu xa, những sự bất công giả dối. Lại nghĩ rằng rất khó mà chặt đứt phiền não và phá hủy những sai lầm sanh ra bởi các phiền não ấy. Nghĩ được như vậy, khiến cho ta cố sức tham thiền nhập định để đạt tới chân lý.



Đức tin ít mà hiểu biết nhiều khiến người ta dễ rơi vào chỗ sai lầm, trở thành người chỉ giỏi lý thuyết mà thôi.



Đức tin nhiều mà hiểu biết ít cũng dễ rơi vào chỗ sai lầm, trở thành người cuồng tín, mê tín.



Có nhiệt tâm hành đạo mà không học đạo đúng cách sẽ sa vào chỗ sai lầm và thành người chỉ hiểu biết viễn vông mà thôi.



Tham thiền mà không hiểu lý, tức là tu mà chẳng học, làm ta dễ sa vào cảnh mê ám và loạn tâm.



Thọ chánh giáo và biết chỗ học của mình là chánh đáng, nhưng không thực hành, dễ trở thành người kiêu căng. Nhưng nếu nghĩ rằng không học mà có thể biết, lại sanh ra chê bai các môn học.



Thấy người đau khổ mà chẳng xót thương, làm kẻ có trí mà thiếu đức, người vị kỷ như vậy chỉ nuôi mộng tự giải thoát mình một cách vô ích thôi.



Không khéo giữ tâm trí, để cho xa rời đạo đức, dễ làm cho mình trụy lạc vào chốn thấp hèn của trần tục.



Không đè nén tham vọng, tất phải bám theo những dục lạc của thế tục.



Thích gần gũi những kẻ yêu chuộng và tin tưởng, khen tặng mình, điều ấy làm cho ta sa vào cảnh tự cao, nhỏ nhoi và hẹp hòi.



Có những kẻ ngỡ rằng lòng hâm mộ là đức tin.



Có những kẻ ngỡ rằng sự luyến mến là lòng từ ái.



Có những kẻ ngỡ rằng chỉ riêng sự định tâm đã là tham thiền đại định đến cõi Vô sắc giới.



Có những kẽ ngỡ rằng biết được một vài việc lạ là bắt đầu giác ngộ rồi.



Có những kẽ ngỡ rằng người không tránh xa tình dục là bậc thầy huyền bí không còn mắc vào nhân quả nữa.



Có những kẽ ngỡ rằng việc làm có mục đích riêng tư là việc làm công ích.



Có những kẽ ngỡ rằng mưu chước xảo trá là sự khôn ngoan.



Có những kẽ ngỡ rằng bọn tà mỵ nhiều xảo thuật là bậc minh sư.



Lìa bỏ ái dục, bỏ nhà, sống cuộc sống không ái dục, không nhà, không thể là điều sai trái.



Biết kính trọng thầy, không thể là điều sai trái.



Học đạo, suy xét cho tới cùng; nghe giảng, suy nghĩ và tham thiền, không thể là điều sai trái.



Lòng ôm ấp những nguyện vọng cao thượng, vinh quang mà vẫn giữ nết khiêm nhượng, không thể là điều sai trái.



Giữ tâm khoan hòa, không lay chuyển sở nguyện, không thể là điều sai trái.



Đem trí tuệ sáng suốt mà hiệp với tánh khiêm nhường, không thể là điều sai trái.



Giảng thông kinh sử, lấy nghị lực bền chí mà học đạo, rèn đúc tinh thần cho thật sâu xa, nhưng không kiêu ngạo, không thể là điều sai trái.



Dám quên thân mình để lo việc làm lành, giúp đời, không thể là điều sai trái.



Sanh ra làm người mà chẳng dùng tư tưởng vào việc đạo đức tinh thần, có khác nào đi đến xứ sở đầy châu ngọc mà lại về tay không.



Đem thân vào cửa không mà trở ra với trần thế và bám theo cuộc lợi danh, ấy có khác nào con bướm đêm sa vào ngọn đèn.



Được gần người hiền mà còn ngu tối, có khác nào ngồi bên bờ sông mà chịu chết khát.



Thông hiểu luân lý đạo nghĩa mà không chịu dùng để ngăn ngừa tội lỗi, có khác nào người bệnh có thuốc mà không dùng để trị cho lành bệnh.



Giảng pháp lý mà không chịu thi hành những lời giảng của mình,có khác nào con két biết nói.



Đã dùng những chước gian lận, xảo trá và bất công mà làm giàu, rồi đem của ấy ra mà bố thí, cúng dường, có khác nào tia chớp chạy dài trên mặt nước.



Giết thú vật đem cúng Tiên Phật, có khác nào giết con mà đem thịt dâng cho mẹ.



Làm ra vẻ khổ hạnh, từ bi, làm việc công đức để được người kính phục và được danh tiếng, có khác nào đem bảo vật mà đổi lấy một miếng ăn.



Tụng niệm giỏi, hành lễ khéo mà không thật lòng mộ đạo, có khác nào người nhà giàu đã làm mất cái chìa khóa kho vàng.



Đã không trọn hiểu chân lý và đạo đức mà muốn thuyết giảng với người, có khác nào kẻ mù toan dẫn dắt những người đui.



Kẻ nào xem sự nhận biết của giác quan và lấy những thành tựu sơ sài của lễ phép bề ngoài làm trọng, coi thường sự tiến hóa đạo đức tinh thần, kẻ ấy có khác nào người nhận đồng đỏ là vàng ròng.



Ở nơi thanh vắng xa niền trần tục, mà người tu còn nhớ đến cuộc đời với những bã lợi danh thì đó là lỗi lầm vậy.



Đứng đầu tăng chúng và dẫn dắt thiện nam tín nữ mà còn tham muốn lợi riêng thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu mà trong lòng còn tham muốn thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu mà còn phân biệt sự ưa thích với không ưa thích, không dứt bỏ lòng thương, ghét thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu đã dứt bỏ sự sống theo thế tục mà còn mong được hưởng phúc thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu đã thấy được đạo lý lóe sáng trong tâm mà không nỗ lực tiếp tục tham thiền thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu đã phát nguyện cầu tìm chân lý mà nửa chừng thối chí thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu biết tánh nết mình có chỗ đáng chê trách mà không chịu sửa đổi thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu mà có ý mang giáo lý cao quý ra để đổi lấy bát cơm hay của cải thì đó là lỗi lầm vậy.



Người tu mà nói đạo lý rất thông suốt nhưng chính mình không thực hành theo đạo lý thì đó là lỗi lầm.



Người tu mà không thể ở nơi thanh tĩnh, không đủ nghị lực giữ mình để tránh sa đọa vào dục lạc, không chịu được sự thanh bần, đó là lỗi lầm vậy.



Cần phải có đủ trí huệ sáng suốt để suy xét đến cùng tột những sự thật mình đã biết được.



Cần phải biết chán ngán sự sống chết, luân hồi, chính đó là chỗ bắt đầu để tiến lên đường đạo.



Cần phải tìm được bậc minh sư để dẫn dắt mình theo đường đạo mà đạt đến giải thoát.



Trí huệ sâu xa, lòng can đảm bền chắc và ý chí kiên cố vững vàng, là những khí giới mạnh mẽ của người tu tập.



Cần phải có đủ nghị lực mới có thể chống lại được sự cám dỗ, trừ bỏ những điều tội lỗi và lập nên công đức.



Cần phải suy xét sâu xa để hiểu được đến cùng tột diệu lý.



Người học phép định tâm, phải định tâm được với bất luận vấn đề nào, bất cứ ở nơi đâu và bất cứ lúc nào.



Người tu tập phải biết tận dụng bất cứ phương tiện nào có thể giúp mình mau tiến hóa về đạo đức.



Trừ dẹp được lòng kiêu ngạo, ganh ghét, đó là đức hạnh của người thanh bạch.



Dứt bỏ sự ham muốn, tự hài lòng với sự đơn sơ, đạm bạc, không bon chen và không nịnh hót, đó là những phẩm chất của người cao thượng.



Hiểu biết luật nhân quả là người thông minh. Bình đẳng với hết thảy chúng sanh là người cao thượng.



Thấy người làm ác, khởi tâm xót thương và không oán ghét, đó là người cao thượng.



Tự mình chịu thiệt thòi, nhường phần thắng cho người khác, đó là người cao thượng.



Nên khác hẳn với kẻ tầm thường trong mọi ý tưởng, cho đến ý tưởng vụn vặt hơn hết cũng vẫn khác, đó là người cao thượng.



Sống dối trá cũng như ăn đồ có tẩm thuốc độc, tự mình gây khổ cho mình.



Người trí thô đức mỏng mà đứng đầu tăng chúng, cũng giống như bà già đi làm mục đồng, tự mình gây khó cho mình.



Không hiến thân giúp người được yên vui, lại bắt người khác phục dịch làm cho mình được sung sướng. Kẻ ấy giống như người mù lạc nơi đồng cát, tự mình chuốc khổ không biết lúc nào mới thôi.



Việc mình lo chẳng xong lại dám nhận lãnh trách nhiệm to lớn hơn, có khác nào kẻ yếu muốn vác đồ nặng, tự mình gây nhọc cho mình.



Bỏ tham thiền để dạo chơi nơi thị tứ, ấy cũng như con hươu đang yên thân trên núi, bỗng đi xuống chốn đồng bằng.



Không chịu mở mang trí huệ lại mong thâu đoạt tiền của ở thế gian, giống như con chim phụng đã xệ cánh đi rồi.



Tự thấy mình không tham trử của cải nữa, đó là điều đáng mừng.



Tự mình không thích bon chen với đời, thích cuộc sống ẩn cư nơi yên tĩnh, đó là điều đáng mừng.



Tự mình thoát được sức cám dỗ của vẻ đẹp hình thức và lòng tham lam, đó là điều đáng mừng.



Tự mình không muốn lợi dụng người khác để đạt được những mục đích ích kỷ, và giữ vững được theo điều ấy, đó là điều đáng mừng.



Tự mình thoát ra khỏi những ràng buộc của hình hài, thể chất và hiểu thấu được bản tánh của tinh thần, đó là điều đáng mừng.



Không theo người hiền đức hành đạo chân thật, lại theo những kẻ giả dối xảo ngôn thì lầm to.



Một ngày không làm tròn phận sự của mình ở đời, hãy xem ngày đó như ngày cuối cùng của mình ở đời. Nếu lại mưu cầu những việc xa vời, toan tính cho mình sống lâu thì lầm to.



Không chọn chỗ vắng vẻ mà thẩm xét nghĩa lý đạo đức, lại đi thuyết giáo giữa đám đông thì lầm to.



Chẳng ăn ở thanh bạch, tinh khiết, lại buông thả lêu lỏng chơi bời thì lầm to.



Chẳng suy nghĩ cho thấu nhập chân lý, lại sống trong cảnh hy vọng và lo sợ thì lầm to.



Chẳng lo sửa mình, lại lo sửa người thì lầm to



Chẳng gắng sức đặng làm cho trí huệ mau phát hiện trong tâm, lại ra công đeo đuổi địa vị sang cả trong xã hội thì lầm to.



Chẳng tự soi sáng lấy mình, lại sống đời trong cảnh biếng nhác thì lầm to.



Điều cần ích trước nhất là phải biết chán ngán cảnh luân hồi, không còn muốn sống chết, không còn muốn chìm đắm trong đó nữa, chán ngán một cách mạnh mẽ như con thú bị nhốt trong chuồn muốn thoát ra.



Điều cần ích thứ nhì là bền gan vững chí, dù khó nhọc đến đâu cũng không thối lui.



Điều cần ích thứ ba là tuy khó nhọc mà mình vẫn an lòng và vui vẻ …



Trước hết, cần phải biết là thì giờ qua nhanh lắm. Hãy tưởng mình như người bị thương sắp chết. Nghĩ như vậy, sẽ tự hiểu rằng không có việc gì còn có thể chần chờ được nữa.



Phải biết hâm mộ đạo lý một cách sốt sắng, như kẻ đói thấy đồ ăn ngon.



Phải hiểu bản tánh của tâm mình như hư không và cái bản ngã là không thật, vô thường. Đối với vạn vật, dù hữu hình hay vô hình, đều phải biết chỉ là bào ảnh cả.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/12/2021(Xem: 1487)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/2021(Xem: 5769)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 4583)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 3083)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 3629)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 3545)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 5666)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
22/08/2021(Xem: 1391)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
24/06/2021(Xem: 1671)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.
07/05/2021(Xem: 5911)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
82,905,146