Cùng Học 3 Câu trong Kinh Kim Cang nổi tiếng và khó hiểu nhất với Đức Đạt Lai Lạt Ma qua Video.

11/02/202618:58(Xem: 1965)
Cùng Học 3 Câu trong Kinh Kim Cang nổi tiếng và khó hiểu nhất với Đức Đạt Lai Lạt Ma qua Video.

dalai lama-1dalai lama-0

Cùng Học 3 Câu trong Kinh Kim Cang
nổi tiếng và khó hiểu nhất với Đức Đạt Lai Lạt Ma qua Video.
***
Đệ tử Huệ Huệ Hương xin phiên tả bài giảng này để dâng lên Giác Linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Phước An,

người tâm đắc với bản Kinh Kim Cang, và đây cũng là món quà tinh thần kính gởi tặng đến quý Phật tử gần xa nhân dịp xuân Bính Ngọ 2026 này

 🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

 

 



Lời người viết: 

Mặc dù con đường thức tỉnh tâm linh là một hành trình đầy thách thức nhưng cũng đầy ý nghĩa. Gần đây  không biết một đại cơ duyên nào đã đến với tôi, khi tìm kiếm nghe bài giảng từ nguồn giáo lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sau khi nghe độ chục bài , tôi phát tâm phiên tả lại và sắp xếp lại  cách phân đoạn  cho đúng theo lời Ngài, thì chợt nhận ra có một lợi lạc vô cùng, vì khi phiên tả có những đoạn không hiểu tôi đã tìm về nguồn kinh sách mà ngày xưa mình đã học hỏi với các minh sư.

 

Với lý do đó, tuần qua  sau khi chú tâm nghe hết 60 phút bài giảng này, người viết đã ao ước mình có thể nuốt trọn từng lời giảng để thẩm thấu vào máu thịt, lại đọc được tin HT Thích Phước An trong những giờ cuối vẫn nhớ từng câu trong kinh Kim Cang, nên  người viết kính nguyện phiên tả trọn bộ lời giảng này  trên Youtube theo Video https://youtu.be/hfvaZIlCS7Q?si=K-IMqqh3vTOT-K-I 
để cùng nhau được lợi lạc trên đường tu học, cũng như xin được cúng dường món quà tinh thần đến mọi người Phật tử nhân dịp xuân Bính Ngọ lại về...nhưng nay HT Thích Phước An đã thuận thế vô thường viên tich, nên bài viết này xin được dâng lên niềm thương tiếc đến Giác linh Hòa Thượng.

 

 Và kính tri ân ban chọn lọc bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma  đã cống hiến nhiều bài giảng rất sâu sắc và thích hợp mọi căn cơ cho người muốn tu tập.

Kính trân trọng  

 

 

Sau đây là bài giảng được phiên tả lại thật chuẩn xác và có rà soát tiếng Phạn (Sanskrit) lại.

 

Kính thưa chư vị, trước đây tôi thường nói sơ lược giáo pháp trên bề mặt, nhưng hôm nay, đối với những người đến từ Á Đông, có bề dày truyền thống Phật Giáo, tôi quyết định sẽ không nói chuyện bề mặt nữa..

 Tại thánh địa Rajgir, ở Vương Xá thành này, nơi Đức Phật từng thuyết giảng Bát Nhã Tâm Kinh, tôi muốn cùng các bạn đi sâu vào một văn bản cực kỳ quan trọng và thâm sâu. Đó là Kinh KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA (Prajnaparamitta Sutra) .

 

Nhưng trước khi chúng ta lật mở từng trang kinh,tôi muốn đặt ra cho quý vị 1 câu hỏi nền tảng, một vấn đề mà có lẽ nhiều người trong thế giới hiện đại này đang trăn trở “ Đạo Phật này là gì ?”liệu nó có phải chỉ là VIỆC ĐẾN CHÙA, THẮP HƯƠNG, CẦU NGUYỆN hay không? Hay đó là một cái gì khác, một cái gì đó gần gũi với tư duy của thời đại mới.

 

Tôi có 1 kỷ niệm từ thời thơ ấu mà tôi rất hay kể lại :”Khi còn nhỏ tôi đã có 1 niềm đam mê kỳ lạ đối với các đồ chơi cơ khí, tôi thích tháo chúng ra để xem bên trong sự hoạt động như thế nào, và các bánh răng khớp nối với nhau ra sao, có nghĩa là tôi tò mò về nguyên lý vận hành của mọi thứ máy móc.

Sau này vào năm 1954, khi tôi có dịp đến Bắc Kinh, và gặp gỡ Chủ Tịch Mao Trạch Đông, trong 1 cuộc trò chuyện, ông ấy đã quan sát tôi và nhận xét rằng “ Ông có một tư duy rất khoa học “, Ông ấy nói đúng.—Tâm trí tôi luôn hướng về sự tìm tòi và kiểm định logic.

 

Thế nhưng chính cái tâm trí ấy đã khiến tôi gặp một lời cảnh báo nghiêm trọng .


 

Sau khi sống lưu vong một thời gian, tôi đã bày tỏ mong muốn được đối thoại và thảo luận với các nhà khoa học phương Tây, lúc đó một người bạn Phật tử Mỹ đã nói với tôi rằng: HÃY CẨN THẬN -KHOA HỌC LÀ KẺ HŨY DIỆT TÔN GIÁO, ông ấy lo sợ rằng nếu đem ánh sáng lạnh lùng của khoa học soi rọi vào đức tin thì tôn giáo sẽ sụp đổ.

Liệu lời cảnh báo ấy, có đúng với đạo Phật không?

 

Nếu đạo Phật chỉ dựa trên niềm tin mù quáng, dựa trên những giáo điều không thể kiểm chứng, thì chắc chắn, nó sẽ run rẫy trước khoa học, nhưng may mắn thay truyền thống mà chúng ta đang theo đuổi không phải là hệ thống của sự áp đặt.

Tôi đã suy ngẫm rất kỹ về lời dạy của chúnh đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài không bao giờ yêu cầu đệ tử phải tin Ngài chỉ vì lòng kính trọng, ngược lại Ngài đã đưa ra một tuyên bố đầy thách thức này “ Này các tỳ kheo và các học giả cũng như vàng được thử nghiệm bằng cách nung, cắt, và cọ xát, các ông hãy kiểm tra lời dạy của ta kỹ lưỡng rồi mới chấp nhận, chứ đừng tin chỉ vì nể trọng ta.

 

Quý vị hãy ngẫm xem, có vị giáo chủ nào lại khuyến khích tín đồ NUNG, CẮT, CỌ XÁT, lời dạy của mình như thợ kim hoàng thử vàng không? Điều này cho thấy bản chất của Đạo Phật, đặc biệt là truyền thống Nalanda mà người Tây Tạng và người Hoa chúng ta thừa hưởng là một truyền thống dựa trên lý luận TRIJANG, chứ không phải đức tin đơn thuần. Các đại luận sư như Ngài Long Thọ (Nagarjuna) hoặc ngài Thánh Thiên (A ryadeva)tại đại học Nalanda cổ đại đã luôn tuân thủ nguyên tắc này nhưng họ không ngần ngại đặt câu hỏi, tranh luận và mổ xẻ các kinh điển, thậm chí Ngài Long Thọ còn phân loại các kinh điển của Kinh Phật mang liễu nghĩa ( nghĩa rốt ráo )và có những kinh mang ý nghĩa không rốt ráo (bất liễu nghĩa) cần phải giải thích thêm.

 

Ba điều đó có nghĩa là gì ? có nghĩa là chúng ta có QUYỀN và có TRÁCH NHIỆM sử dụng trí thông minh của mình để phân định “đâu là Chân Lý Tối Hậu “ chứ không nhắm mắt tin bừa.

 Hôm nay tôi xin đưa ra 1 ví dụ rất cụ thể về sự va chạm giữa kinh điển và khoa học để quý vị thấy rõ quan điểm này ...Như trong các bản kinh sách cổ của chúng ta, vũ trụ học thường được mô tả với hình ảnh NÚI TU DI (Mount Meru) nằm ở trung tâm mặt trời và mặt trăng quay quanh nó , tuy nhiên thiên văn học và khoa học hiện đại đã chứng minh rõ ràng: trái đất hình cầu và xoay quanh mặt trời và không hề có ngọn núi nào cao 80 ngàn dặm ở giữa cả. Vậy chúng ta phải làm sao? Bám lấy kinh sách và chối bỏ thực tế ư?- Không, nếu lý trí và thực nghiệm đã chứng minh một điều gì đó là sự thật và điều đó mâu thuẫn vói kinh sách thì chính kinh sách phải thay đổi .

 

Tôi không ngần ngại nói rằng “ Mô hình núi TU DI không còn đứng vững trước lý trí và thực nghiệm nên chúng ta không cần phải cố chấp tin vào nó nữa.” Việc từ bỏ một điều không đúng với khoa học thì khồng có gì chạm vào cốt lõi của đạo Phật. Vì cốt lõi của đạo Phật là TỨ DIỆU ĐẾ, là LÒNG TỪ BI, và TÁNH KHÔNG chứ không phải là chuyện đo đạc chiều cao của một ngọn núi.

 

 Chính nhờ tư duy cởi mở và logic này mà tôi đã mạnh dạn đưa khoa học vào giảng dạy trong các tu viện Tây Tạng, ban đầu nhiều vị lớn tuổi rất e ngại, họ sợ rằng học khoa học, học tiếng Anh, sẽ làm các tu sĩ xao nhãng việc học hành nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại.

 

Việc hiểu biết về vật lý, về não bộ, về tâm lý học hiện đại không những không mâu thuẫn mà còn hỗ trợ cho sự hiểu biết sâu sắc hơn về Triết lý Phật Giáo.

Khoa học giúp chúng ta hiểu rõ phần sắc vật chất. Phật giáo giúp các nhà khoa học hiểu sâu về phần TÂM, Ý THỨC, đây là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi .

 Vì vậy khi đến với Kinh Kim Cang hôm nay, tôi mong quý vị hãy mang theo cái TÂM TRÍ KHOA HỌC đó. Đừng đến đây để chỉ nghe những lời huyền bí, hãy đến đây để cùng tôi thực hiện một cuộc PHẨU THUẬT TÂM TRÍ. Chúng ta sẽ dùng dao mổ của lý luận sắc bén để bóc tách thực tại.

 

Truyền thống Nalanda là truyền thống duy nhất có thể đi song hành thậm chí là đi xa hơn cả khoa học hiện đại trong việc khám phá bản chất của thực tại.

 Ngày nay khi người ta nói về khoa học, người ta nói đến những kết luận được rút ra từ hàng loạt các thí nghiệm và kiểm chứng thực tế.

Đạo Phật cũng y hệt như vậy...Chúng ta không chấp nhận 1 điều gì là Đúng, chỉ vì SÁCH nói thế  

Chúng ta phải quan sát, phân tích, thiền định, thực nghiệm nội tâm rồi mới đi đến kết luận.

 

Tôi thường nói đùa với những người bạn Phật tử Trung Quốc rằng:” Quý vị thường có thói quen chắp tay niệm A Di Đà Phật rồi dâng cúng một phong bao lì xì đỏ. Nếu chỉ niệm danh hiệu Phật và lạy thôi thì chưa đủ đâu thậm chí chỉ tụng đọc Bát Nhã Tâm Kinh hay Kinh Kim Cang một cách máy móc cũng chưa đủ ( con vẹt cũng có thể nhại lại tiếng người nhưng nó không hiểu nghĩa) Chúng ta cần phải Học, cần phải nghiên cứu.

 

Trong cộng đồng Tây Tạng, tôi luôn kêu gọi tất cả mọi người từ các tu sĩ trong đại học viện cho đến những người dân thường, những người sống ở vùng Himalaya hẻo lánh rằng : TẤT CẢ ĐỀU PHẢI HỌC TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO, phải học về các TÔNG PHÁI, về các QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN khác nhau.

Chính nhờ phong trào học tập đó mà gần đây chúng tôi đã có nữ Tiến Sĩ Phật học (Géshema) đầu tiên sau những năm dùi mài kinh sử.

Vậy nên, thưa những người anh em đến từ vùng văn hóa chữ Hán, quý vị đang nắm giữ trong tay những kho tàng kinh điển vô giá được dịch ra tiếng Hoa từ rất sớm, nhưng liệu quý vị đã thực sự mở kho tàng ấy ra để nghiên cứu hay chỉ để thờ trên bàn thờ.

 

Dù biết rằng sự tôn kính là cần thiết, nhưng sự hiểu biết mới là “Chìa Khóa “ giải phóng khổ đau. Khi chúng ta bắt đầu lật giỡ những trang kinh Kim Cang này, chúnh ta sẽ thấy Đức Phật không dạy chúng ta cầu xin.

Ngài dạy chúng ta cách tư duy, cách phá bỏ những ảo ảnh, và để làm điều đó chúng ta cần hiểu rõ nguồn gốc dòng trí tuệ này. Nó đã chảy từ đâu, qua những chặng đường nào để đến được chúng ta ngày hôm nay (bởi vì hiểu được lịch sử chính là hiểu được giá trị của những gì ta đang thừa hưởng). Một cái cây muốn vươn cao lên bầu trời của trí tuệ thì bộ rễ của nó phải bám sâu vào lòng đất của truyền thống và truyền thống đó băt đầu từ đâu.

Hãy cùng tôi nhìn lại DÒNG CHẢY VĨ ĐẠI này.

 

Nếu chúng ta lần theo dấu chân của dòng trí tuệ này, ngược dòng thời gian chúng ta sẽ thấy nó khởi nguồn từ Ấn Độ, quê hương của Đức Phật, nhưng từ cái nôi ấy, chánh pháp đã rẽ thành 2 nhánh lớn mang theo những sắc thái văn hóa riêng biệt nhưng cùng chung một VỊ GIẢI THOÁT.

Một nhánh chảy về phương Nam lan tỏa đến Thái Lan, Miến Điện , Campuchia, Sri Lanka hình thành nên truyền thống Pali nơi gìn giữ rất cẩn mật những giới luật nguyên thủy và nếp sống phạm hạnh của tăng đoàn thời đức Phật còn tại thế. Tôi luôn dành 1 sự kính trọng sâu sắc đối với những người anh em Nam Tông này, bởi họ là những người giữ gìn nền tảng đạo đức căn bản của Phật Giáo,  

 

Tuy nhiên có 1 nhánh khác, 1 nhánh sông hùng vĩ mang theo tinh thần của đại học Nalanda, tinh thần của lý luận và Bồ đề tâm đã chảy ngược lên phương Bắc, dòng sông Phạn ngữ (Sánskrit)này đã vượt qua những ngọn núi Tuyết để đến với Tây Tạng chúng tôi, rồi băng qua những sa mạc mênh mông vào Trung Hoa và từ đó lan tỏa sang Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam .

 Vì thế khi tôi nhìn thấy quý vị những Phật tử đến từ vùng văn hóa Á Đông, tôi không nhìn quý vị như những người xa lạ, chúng ta là những người anh em cùng chung một dòng sữa pháp, cùng thừa hưởng di sản vĩ đại của Ngài Long thọ và các bậc luận sư Nalanda.

 

Đối với người dân Á Đông , Phật Giáo chưa bao giờ chỉ đơn thuần là một tôn giáo ngoại lai, nó đã thẩm thấu vào máu thịt, vào ngôn ngữ, vào nếp nghĩ của quý vị qua hàng ngàn năm. Nó trở thành cái mà chúng ta gọi là Tôn Giáo Truyền thống, dù quý vị có đang sống ở  Bắc Kinh, Đài Loan hay đang là kiều bào sinh sống tại Malaysia, Indonesia, Hoa Kỳ thì sâu thẳm trong trái tim tiếng chuông chùa và lời kinh Bát Nhã vẫn luôn có sức lay động kỳ lạ, đó là tiếng gọi của tổ tiên, tiếng gọi của cội nguồn.

  

Tôi nhớ rất rõ vào năm 1954, khi tôi có chuyến thăm Bắc Kinh và các tỉnh khác của Trung Quốc, lúc đó thời thế đã có nhiều thay đổi tôi vẫn nhìn thấy rất nhiều ngôi chùa uy nghiêm, những bảo tháp chứa tượng đức Yannan Tanka, đại uy đức Kim Cang, điều đó chứng tỏ mối liên hệ tâm linh giữa Tây tạng và Trung Hoa, giũa các vùng đất Phật Giáo đã từng khăng khít và sâu sắc đến nhường nào.

Tất nhiên lịch sử luôn có những nốt thăng trầm, đã có những giai đoạn như thời kỳ cách mạng văn hoá mà tôn giáo bị xem là mê tín dị đoan, là thuốc phiện ru ngủ nhân dân và người ta đã dùng sức mạnh để xóa bỏ nó, đập phá các biểu tượng đức tin .

 

Nhưng thưa quý vị, CHÂN LÝ CÓ MỘT SỨC SỐNG MÃNH LIỆT mà không bạo lực nào có thể dập tắc được giống như mặt trời có thể bị mây che khuất một lúc , nhưng không ai có thể lấy tay che khuất mặt trời mãi mãi.

 Sau này, Ông Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền, ông đã đề ra nguyên tắc thực sự cầu thị, tìm kiếm chân lý từ thực tế và thực tế đã chứng minh điều gì ? – Thực tế cho thấy rằng : dù trải qua bao nhiêu biến động niềm tin vào chánh pháp không bao giơ lụi tàn trong lòng người dân, ngay khi có cơ hội ngọn lửa ấy lại bùng lên mạnh mẻ hơn bao giờ hết.

 

Gần đây Tôi nghe nói rằng: theo một khảo sát từ đại học Bắc kinh, số lượng người theo Phật Học ở Trung quốc đã lên tới 300, hay 400 triệu người. Tại sao con số lại tăng trưởng kỳ diệu như vậy ?

Bởi vì con người sau khi đã no đủ về vật chất, sau khi đã chạy theo những hào nhoáng của công nghệ, họ chợt nhận ra tâm hồn mình vẫn trống rỗng

Họ quay tìm về ngôi báu mà cha ông đã đẻ lại , quý vị ngồi đây lắng nghe về Kinh Kim Cang chính là quý vị đang hành động hiếu kính cao cả nhất . Đó là chăm sóc và gìn giữ kho tàng trí huệ của tổ tiên mình  

 

Có 1 kỷ niệm khiến tôi vô cùng xúc động, vào khoảng năm 1965-1966 tôi có đến thăm Singapore, tại đó tôi gặp 1 nhóm nhà sư người Hoa, khi họ cất tiếng tụng Bát Nhã Tâm Kinh bằng ngôn ngữ của họ, âm thanh trầm hùng và trang nghiêm ấy đã chạm thẳng vào trái tim tôi, dù tôi tụng bằng tiếng Tạng, họ tụng bằng Tiếng Hoa, nhưng cái rung động của Tánh Không, cái năng lượng của Trí Tuệ Bát Nhã thì không hề có biên giới . Lúc ấy tôi nhận ra rằng: Dù chúng ta có khác nhau về màu da, ngôn ngũa nhưng chúng ta đang cùng thở chung một bầu không khí Giác Ngộ.

 

Tuy nhiên việc sở hữu kho báu là một chuyện, còn việc biết cách sử dụng nó hay không lại là một chuyện khác

 

Rất nhiều người Á Đông ngày nay xem Kinh Kim Cang hay Bát Nhã Tâm Kinh như một lá bùa để cầu bình an, để  xua đuổi tà ma, hoặc vì một thói quen. Điều đó không sai, nó vẫn gieo những hạt giống lành nhưng nếu chỉ dừng ở lại đó thì thật là uổng phí,

 

Hãy tưởng tượng quý vị có 1 viên kim cương trong tay, nhưng quý vị chỉ dùng nó để chặn giấy hoặc kê chân bàn, viên kim cương ấy vẫn là viên kim cương nhưng giá trị thực sự của nó KHẢ NĂNG CẮT ĐỨT mọi vật liệu cứng nhất, KHẢ NĂNG PHẢN CHIẾU ÁNH SÁNG tuyệt diệu nhất đã bị bỏ quên.

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật ( Prajna Paramitta sutra) không phải là một bài thơ để ngâm nga cho vui tai, tên gọi của nó đã chứa đựng một sức mạnh khủng khiếp.

 

Kim Cang hay Kim Cương là biểu tượng cho 2 đặc tính :

-Cứng rắn không gì phá vỡ được

- Sắc bén có thể căt đứt mọi thứ

Như vậy theo bản kinh này, thanh gươm Kim Cang được tạo ra để cắt cái gì ?. Nó không dùng để cắt gỗ, cắt đá hay cắt kim loại , nó được đức Phật trao cho chúng ta để cắt vào thứ cứng đầu nhất, lì lợm nhất trong vũ trụ này. Đó chính là SỰ BÁM CHẤP CỦA TÂM THỨC

 

Chúng ta đau khổ vì chúng ta bám chặt vào những ảo ảnh, chúng ta bám vào cái tôi danh vọng, bám vào tài sản, bám vào những định kiến đúng, sai. Những thứ đó bao bọc lấy tâm trí ta như một lớp kín dầy đặc khiến ta nghẹt thở trong tham lam sợ hãi.

Lời kinh này chính là lưỡi dao phẩu thuật được thiết kế tinh xảo để lách vào những khe hở nhỏ nhất của tâm trí, cắt đứt những sợi dây trói buộc vô hình đó. Nhưng để cầm được thanh gươm này lên, ngoài lòng sùng kính quý vị  cần nhiều hơn đó là 1 tư duy sắc bén,cần dũng khí hơn để đối diện sự thật trần trụi về bản thân và thế giới.

 

Và Sự thật đó, trớ trêu thay lại là điều mà khoa học hiện đại, đặc biệt là vật lý lượng tử đang vất vả dò dẫm tìm kiếm trong suốt thế kỷ qua, trong khi nó đã nằm yên trong những trang kinh này từ hon 2000 năm trước.

Sự gặp gỡ giữa tư tưởng cổ xưa của kinh Kinh Kim Cang, và những phát hiện mới nhất của vật lý hiện đại không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đó là minh chứng cho thấy trí tuệ của Đức Phật, đã thấu suốt bản chất của vũ trụ ở một tần mức mà ngôn ngữ đời thường khó lòng diễn tả hết.

 

Hãy cùng tôi bước vào cuộc đối thoại kỳ thú này. Để xem các nhà vật lý nói gì về thế giới vật chất và kinh Kim Cang nói gì về cái mà ta vẫn tưởng là thực tại.

Vậy tại sao Đức phật lại chọn cái tên Kim Cang hay Kim Cương để đặt tên cho bản kinh này.

 

Ở thế gian, Kim cương dược xem là Vua của các loại đá quý, không chỉ vì sự lấp lánh sang trọng của nó mà chủ yếu là vì đặc tính vật lý siêu việt, nó là vật chất cứng nhất trong thiên nhiên.- Một viên kim cương có thể cắt đứt thủy tinh,  săt thép, hay bất kỳ vật liệu nào khác, nhưng ngược lại không vật gì có thể làm cho nó trầy xước hay phá hủy  được nó.

Và Đức Phật đã mượn hình ảnh vật lý này để mô tả một thứ vũ khí tâm linh tối thượng, đó là TRÍ TUỆ BÁT NHÃ

 

Khi chúng ta nói đến Trí Tuệ trong Đạo Phật xin đừng nhầm lẫn với Sự Thông Minh của thế tục (sự khôn ngoan hay kiến thức sách vở)

Trí Tuệ (prajna) là một năng lực nhận thức trục tiếp có khả năng xuyên thấu qua lớp bọc giả tạo của hiện tượng để nhìn thấy bộ mặt trần trụi của thực tại.

 

Tại sao chúng ta cần một thứ vũ khĩ cứng răn và sắc bén đến như vậy? – Bởi vì kẻ thù mà chúng ta đang đối mặt không phải là một thế lực bên ngoài mà là một thành trì kiên cố, nó đã được xây dựng trong tâm thức ta từ vô lượng kiếp, đó là vô minh, - Vô Minh không có nghĩa là” Không Biết Gì “ mà là BIẾT SAI, chúng ta tin một cách chắc chắn rằng mọi thứ xung quanh ta là THẬT, là TỒN TẠI ĐỘC LẬP, là BẤT BIẾN.

 

Chúng ta tin ”CÁI TÔI đang ngồi đây” là một khối chắc thật, ta tin lời khen tiếng chê là thật, ta tin tiền bạc danh vọng là thật, nhưng niềm tin sai lầm đó nó cứng như đá tảng, nó kiên cố đến mức dù chúng ta có tụng bao nhiêu bài kinh, làm bao nhiêu việc thiện hoặc ngồ thiền hàng giờ nhưng nếu không có lưỡi kinh Kim Cang này, ta chỉ đang gải ngứa bề ngoài lớp vỏ giáp của bản ngã mà thôi.

 

Đâu biết rằng những công đức hữu lậu đó có thể mang lại phước báu trời, người nhưng không thể căt đứt gốc rễ của luân hồi. Chỉ có Trí Tuệ Bát Nhã với sức mạnh hũy diệt của Kim Cang mới có thể chặt đứt sợi dây Chấp Ngã và Chấp Pháp dai dẳng ấy.

 

Tôi thường thấy nhiều Phật tử cầm cuốn kinh này lên với sự sùng kính tuyệt đối, họ bọc nó trong vải lụa vàng, đặt lên nơi cao nhất, Điều đó rất tốt, nhưng nếu quý vị chỉ  dừng lại trong việc thờ cúng cuốn kinh đó như một vật thể linh thiêng, thì quý vị đang bỏ lỡ mục đích thật sự của nó

 

-ĐỨC PHẬT KHÔNG TRAO CHO CHÚNG TA MỘT VẬT ĐỂ THỜ, Ngài trao cho chúng ta một BẢN HƯỚNG DẪN,để sử dụng Thanh Gươm Ánh Sáng

 

Hãy thử tưởng tượng, quý vị đang bị trói chặt bởi hàng ngàn sợi dây xích vô hình (sợi dây của tham ái, của giận dữ , của ghen tị ) quý vị cầm thanh gươm Kim Cang trên tay, mà chỉ quỳ lạy vật đó và ca ngợi “ Ôi,! thanh gươm đẹp quá, thanh gươm linh thiêng quá,” thì liệu những sợi xích kia có tự đứt không?-, chắc chắn là không .

Quý vị phải rút gươm ra và hành động rút gươm đó chính là Tư Duy Sâu, Chiêm Nghiệm và Quán Chiếu. Đây chính là truyền thống Nalanda mà tôi luôn nhắc nhở.   

 

--- Đừng chỉ tụng “PHÀM SỞ HỮU TƯỚNG, GIAI THỊ HƯ VỌNG”

Hãy đặt câu hỏi : Tại Sao? -Tại sao mọi hình tướng lại là hư vọng ?

Cái bàn  này sờ vào thấy cứng, gỏ vào nghe kêu, mà tại sao lại nói là hư vọng

Quý vị phải đấu tranh vật lộn với câu hỏi đó, dùng logic để mổ xẻ nó cho đến khi tâm trí quý vị vỡ òa ra trong sự thấu hiểu lúc đó thanh gươm Kim cang mới thực sự chém xuống. Nó sẽ phá hũy cái gì đầu tiên ?

Nó phá hũy sự an toàn giả tạo của chúng ta, nó bắt chúng ta phải đối diện với một sự thật rằng;  (có thể gây sốc) THẾ GIỚI MÀ TA BÁM VÍU THỰC CHẤT KHÔNG CÓ NỀN MÓNG.

 

Chúng ta thường cảm thấy an tâm khi tin rằng có một cái gì đó vữnbg chắc để dựa vào:một ngôi nhà, một tài khoản ngân hàng hay một linh hồn bất tử, nhưng kinh Kim Cang đến và nói “Không”-Không có gì để dựa vào cả, mọi thứ chỉ là Duyên hợp rồi tan, tan rồi hợp như bọt nước, như ánh chớp.

Đói với một người yếu bóng vía, điều này thật đáng sợ, nhưng đối với người có dũng khí trí tuệ thì đây là SỰ GIẢI PHÓNG TỘT CÙNG,

-       Nếu không có gì là cố định, nghĩa là mọi thứ đều có thể thay đổi, đau khổ không cố định nên đau khổ có thể chuyển hóa thành hạnh phúc

-       Tội lỗi không cố định, nên kẻ phàm phu mới có thể thành Phật.

-       Tính chất “KHÔNG CÓ”của sự vật chính là không gian cho sự tự do tuyệt đối

Lưỡi gươm Kim Cang không giết chết sự sống, nó chỉ giết chết sự trói buộc để sự sống được tuôn chảy một cách tự nhiên.và rực rỡ nhất.

 

Tuy nhiên để sử dụng được vũ khí sắc bén này mà không làm đứt tay mình, chúng ta cần một sự cẩn trọng và chính xác tuyệt đối. Chỉ một sai lầm nhỏ trong nhận thức về Tánh Không sẽ dẫn đến chủ nghĩa Hư Vô (nilhilism ) tức là phủ nhận nhân quả, sống buông thả, vô trách nhiệm.

 Nên mọi thứ nếu đều là Không, thì tôi giết người cũng là không, làm thiện cũng là không. Đó là một ngộ nhận tai hại, một lưỡi dao quay ngược lại đâm thẳng vào tim người sử dụng.

 

 Chính vì thế, trong kinh Kim Cang, Đức Phật liên tục sử dụng cấu trúc Biện Chứng 3 phần : “ A không phải là A, nên mới gọi là A”

Ví dụ : thế giới không phải là thế giới nên mới gọi là thế giới

 Ngài phá bỏ cái nhãn dán, phá bỏ khái niệm cứng nhắc về sự vật, nhưng không hề phủ nhận Sự Hiện Hữu Duyên Sinh của sự vật đó . Sự vi tế này đòi hỏi chúng ta phải có 1 tư duy cực kỳ sắc bén giống như một nhà phẫu thuật thần kinh  đang cắt bỏ khối u, mà không làm tổn thương các dây thần kinh lành lặn.

Và thú vị thay, khi chúng ta đẩy Tư Duy Phật Giáo đến tận cùng của sự phân tích vi tế này, chúng ta bất ngờ gặp gỡ những người bạn đồng hành từ một lĩnh vực tưởng chừng như xa lạ hoàn toàn, đó là các nhà vật lý lượng tử hiện đại.

 

Những gì mà các nhà khoa học đang khám phá trong phòng thí nghiệm với những máy gia tốc hạt khổng , về sự không chắc chắn của hạt vật chất, về vai trò của người quan sát, tất cả đều như đang dựng lại những gì được viết trong bản kinh cổ xưa này.

Phải chăng, khi lưỡi gươm Kim Cang cắt vào tận cùng của vật chất, nó đã chạm đến cùng một thực tại mà khoa học đang bắt đầu nhìn thấy, chúng ta hãy cùng bước sang một chiều kích khác của cuộc đối thoại này, nơi khoa học và tâm linh bắt tay nhau trên đỉnh cao của trí tuệ

 

Hẵn các bạn còn nhớ về ông bạn Phật tử người Mỹ đã cảnh báo tôi về mối quan hệ giữa Tôn giáo và Khoa học ( Khoa học là kẻ hũy diệt tôn giáo)vì ông ấy lo sự rằng những kính hiển vi và kính viễn vọng kia sẽ bóc trần những huyền thoại và làm sụp đổ đức tin.

Tôi đã trả lời ông ấy và tôi khẳng định cũng như hôm nay tôi nói với các bạn rằng :  Nếu Khoa học chứng minh được một điều gì đó là Thật , Phật giáo sẽ chấp nhận nó, và hơn thế nữa  đối với truyền thống Nalanda mà chúng ta theo đuổi, Khoa học không phải là một kẻ thù mà là 1 người bạn đồng hành đến muộn.

 

Tại sao tôi lại nói là ĐẾN MUỘN,

Cách đây không lâu, tôi có dịp trò chuyện với người bạn khoa học về lượng tử, trong lúc đàm đạo về sự  không chắc chắn vào tính phụ thuộc của các hạt nhân nguyên tử, ông ấy bỗng nhiên trích dẫn một đoạn kệ, Tôi bổng giật mình khi nhận ra đó không phải là một công thức toán học mà là một câu trong Trung Quán Luận của Ngài Long Thọ.,  Ông ấy cười và bảo tôi: “ Ngài biết không, những khái niệm về lượng tử mà phương Tây mới khám phá và coi đó là mới mẻ trong thế kỷ này, thật ra đã được các bậc Thầy của Ngài viết ra ở Ấn Độ từ 2000 năm trước “

 

Điều này không phải là sự ngạo mạn của chúng ta, mà là một sự xác nhận của trí tuệ nhân loại,

Hãy cùng nhau mổ xẻ vấn đề này sâu hơn một chút, dùng tư duy logic để xem kinh Kim Cang và vật lý lượng tử gặp nhau ở điểm nào.

 

Các nhà vật lý lượng tử nói rằng: Khi họ cố gắng tìm kiếm hạt vật chất nhỏ nhất họ nhận ra rằng sự tồn tại của hạt đó phụ thuộc vào người quan sát nghĩa là không có một đối tượng khách quan nào tồn tại độc lập mà không có sự tham gia của chủ thể nhận thức . Điều này nghe có quen không?

Đây chính xác là điều mà trường phái Duy Thức do Bồ Tát Di Lặc ( Maitreya) và cao hơn nữa là trường phái Trung Quán đã tranh luận suốt hàng thế kỷ.

Chúng ta thường tin rằng thế giới ngoài kia là cứng nhắc, là thât, và nó độc lập không liên quan gì đến tâm trí của ta. Ta nghĩ cái bàn là cái bàn, nhưng khi kinh Kim Cang cầm thanh trí tuệ lên, và chém nát ảo tưởng đó.

 

Kinh nói rằng: “Mọi sự vật không có tự tính( intrinsic nature) không có cái gì tự nó là nó cả,”

Hãy thử làm 1 thí nghiệm tư duy, hãy nhìn vào cơ thể của các bạn, các bạn nói đây là thân thể tôi nhưng khoa học sẽ phân tích nó ra thành tế bào rồi thành phân tử, nguyên tử, Chúng ta thấy gì?

Chỉ là những khoảng trống mênh mông, và các hạt electron di chuyển với xác xuất không xác định, chẳng có cái gì vững chắc để gọi là thân thể ở cấp độ đó cả. Vậy thì thân thể mà ta đang bám víu, đang chăm chút, đang sợ nó già đi, thực chất chỉ là một ảo giác được tạo ra do sự kết hợp của nhiều nguyên tố. Nó tồn tại –Đúng, nhưng nó tồn tại theo cách duyên khởi (dependent  arising) nó giống như hình ảnh trong gương hay cầu vồng sau mưa.

 

Cầu vồng có thật không? Có mắt ta nhìn thấy nó nhưng ta không thể chạy đến và ôm lấy cầu vồng bỏ vào túi mang về nhà không ?—Không, vì cầu vồng không có tự tính, nó chỉ hiện ra khi có đủ duyên : ánh sáng, hơi nước, và góc nhìn của mắt ta. Sự vật trong vũ trụ này cũng y hệt như cầu vồng.

 

Ngài Long Thọ dạy rằng” Cái gì sinh ra do duyên, cái đó là TÁNH KHÔNG”—Tánh Không ở đây không phải là không có gì, nó trống rỗng như hư vô,--Đừng nhầm lẫn tai hại như thế!

 

Nếu mọi thứ là hư vô, thì nhân quả không tồn tại và chúng ta có thể làm điều ác thoải mái sao?—Không phải vậy – TÁNH KHÔNG nghĩa là sự vắng mặt của tính độc lập, bởi vì nó không có một cái lõi cứng nhắc nên nó mới có thể vận động, biến đổi và tương tác. Chính vì nguyên tử là Không, nên nó mới có thể liên kết để thành phân tử.- Chính vì con người là Không, nên 1 kẻ phàm phu  mới có thể tu tập để thành Phật. Nếu con người có 1 cái Ngã cố định cũng như đá thì kẻ xấu mãi mãi là kẻ xấu, người ngu mãi mãi là người ngu. Làm sao có sự chuyển hóa được ?

Vậy nên khoa học hiện đại đang giúp chúng ta chứng minh giáo lý của Đức Phật một cách hùng hồn nhất.

1---Khi các nhà khoa học nói rằng: Vật chất chỉ là dạng năng lượng cô đặc, họ đang nói ngôn ngữ của Bát Nhã Tâm Kinh “Sắc Tức  thị Không, Không Tức Thị Sắc”—HÌNH TƯỚNG là TÁNH KHÔNG, và TÁNH KHÔNG hiện ra dưới dạng HÌNH TƯỚNG .

 

Nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa 1 nhà vật lý và một hành giả tu Phật là gì?

Nhà vật lý hiểu điều này trên phương diện toán học và vật chất. Họ dùng nó để chế tạo bom nguyên tử hoặc máy tính, còn chúng ta những hành giả Kim Cang thừa, chúng ta dùng sự hiểu biết này để Giải Phóng Tâm Thức .

Chúng ta dùng những lượng tử này vào chính những cảm xúc của mình. Khi 1 cơn giận nổi lên thay vì đồng nhất mình với nó, “Tôi dang Giận “ hãy nhìn nó dưới kính hiển vi của Tánh Không.

Cơn giận này đến từ đâu, nó có màu sắc không, có hình dáng không, nó có tồn tại đọc lập không? Hay chỉ là phản ứng của thần kinh ?

Và khi bạn nhìn sâu như thế, cơn giận tự nhiên tan biến như sương khói vì nó không có CHÂN ĐẾ  để bám vào.

 

Đây là trí tuệ Nalanda khi nhìn vào, dùng lý luận sắc bén để bóc trần thực tại .

Chúng ta không cần phải sợ khoa học, ngược lại chỉ có truyền thống Nalanda mới có thể song hành thậm chí dẫn dắt khoa học trong lãnh vực nghiên cứu về tâm thức,

Khoa  học phương tây rất giỏi về vật chất, nhưng về tâm lý học và sự vận hành của ý thức, họ vẫn đang ở giai đoạn sơ khai so với những gì được viết trong tạng Luận (Abhidharma) hoặc Nhân Minh Học (Hetuvidya) của chúng ta..

 

 Vậy nên khi cầm cuốn kinh Kim Cang trong tay, các bạn hãy tự hào rằng mình đang nắm giữ 1 bản SIÊU VẬT LÝ CỦA VŨ TRỤ, nhưng đừng chỉ dừng lại ở sự tự hào trí tuệ. Nếu chúng ta đã đồng ý với nhau rằng vạn vật bên ngoài là Không, là Duyên Khởi, là Ảo Ảnh thì bây guiowf chúng ta phải quay mũi dao Kim Cang ấy vào bên trong  

Chúng ta phải đặt lên bàn phẫu thuật 1 bịnh nhân mà chúng ta yêu quý nhất, bảo vệ kỹ càng nhất. Đó chính là” CÁI TÔI”

Nếu thế giới là ảo, liệu người quan sát thế giới đó có thật không?

Nếu các hạt vật chất cấu tạo nên Tôi là VÔ NGÃ, vậy thì cái Tôi to tướng này đang trốn ở đâu?

Đây là bước nhảy vọt nguy hiểm nhất nhưng cũng vĩ đại nhất của tâm linh.

 

Nếu chúng ta đã đồng ý với nhau rằng: Thế giới vật chất bên ngoài từ những ngọn núi hùng vĩ cho đến những hạt nguyên tử bé nhỏ đều không có tự tính độc lập, đều là Không thì bây giờ hãy quay ngược mũi dao Kim Cang vào chính người đang quan sát thế giới, hãy quay vào cái mà quý vị gọi là Tôi

Đây là bước đi đáng sợ nhất đối với bản ngã, nhưng lại là bước đi giải phóng nhất đối với trí tuệ

 

 

Hãy nhìn vào tôi, quý vị đang thấy 1 người đang nói, đang cử động tay, đang cười và quý vị dán hình ảnh đó lên một cái nhãn đây là Đạt Lai Lạt Ma, nhưng Đạt Lai Lạt Ma thực sự là cái gì,?

-Có phải là cái thân xác  già nua này không –KHÔNG

Thân xác này chỉ là 1 sự tập hợp của đất, nước, gió, lửa, của gen di truyền từ cha mẹ.

-Có phải là cái tâm thức đang suy nghĩ này không? –KHÔNG

Tâm thức thì thay đổi liên tục như 1 dòng thác, vui, buồn, giận, ghét sinh diệt trong từng sát na, không có cái cố định dể gọi là Tôi cả .

Vậy thì Đạt Lai Lạt Ma kia chỉ là một cái tên, 1 nhãn dán (label) được gắn lên tổ hợp thân tâm này.

Mối quan hệ này trong logic học Phật Giáo gọi là Mối Quan Hệ và đối tượng được định danh

 (designer object ) cơ sở là thân tâm, còn đối tượng là Cái Tôi ‘

Sai lầm chết người của chúng ta là đồng nhất cái nhãn dán với thực tại, và tin rằng nhãn dán đó có 1 linh hồn độc lập.

 

Ngài Long Thọ, Vị tổ sư vĩ đại của truyền thống Nalanda đã dành cả đời mình để phá vỡ ảo tưởng này. Ngài dạy rằng “Nếu cái Tôi là Thật, nó phải độc lập với các bộ phận giống như chiếc xe hơi, và nếu chiếc xe hơi là thật, thì khi tháo rời bánh xe, các động cơ, khung sườn ra quý vị vẫn phải tìm thấy chiếc xe, nhưng khi tháo rời tất cả...Chiếc Xe Biến Mất.

 

Chiếc xe chỉ là khái niệm tồn tại trong đầu quý vị khi các phụ tùng được lắp ráp theo 1 trật tự nhất định. Con người chúng ta cũng y hệt như chiếc xe đó,

Chúng ta đau khổ vì chúng ta tin rằng có 1 người lái xe tí hon bất biến đang ngồi trong đầu mình điều khiển mọi thứ và chịu đựng mọi thứ

Khi ai đó mắng quý vị là “ĐỒ NGU”, quý vị cảm thấy đau nhói, tại sao ?—Vì quý vị tin rằng mũi tên lời nói đó đã bắn trúng vào cái Tôi thật sự nằm trong tim.

Nhưng nếu quý vị dùng gươm Kim Cang cắt đứt cái Tôi đó, nhận ra nó chỉ là “Ảo Ảnh do Duyên hợp” thì lời mắng kia sẽ bắn vào hư không, không có cái bia đỡ đạn nào ở đó để nhận lấy sự tổn thương cả.

 

2----Đây chính là  điểm cốt yếu mà kinh Kim Cang muốn truyền qua câu nói nổi tiếng nhưng cũng rất khó hiểu nhất “ ĐỘ TẤT CẢ CHÚNG SANH VÀO NIẾT BÀN MÀ THỰC RA KHÔNG CÓ CHÚNG SINH NÀO ĐƯỢC ĐỘ”

 

Tại sao Đức Phật lại nói 1 câu đầy nghich lý như vây? Ngài có đang chơi trò đố chữ với chíng ta không?---KHÔNG, Ngài đang dạy chúng ta nghệ thuật yêu đương, không bám chấp,

Nếu 1 vị Bồ Tát phát tâm cứu độ chúng sinh, nhưng trong lòng vị ấy vẫn còn thấy: “Đây là Tôi, người cứu vớt vĩ đại, kia là chúng sinh, kẻ đáng thương cần cứu vớt, và đây là hành động cứu vớt thật sự “ thì vị ấy chưa phải là Bồ Tát,

 

Tại sao?—Vì vị ấy vẫn còn bị mắc kẹt trong Ngã Chấp (bám vào cái Tôi) và Pháp Chấp (bám vào sự thật của hiện tương) Khi quý vị nhìn thấy 1 người ăn xin, lòng từ bi thôi thúc quý vị cho họ thức ăn, đó là điều tuyệt vời. Nhưng nếu quý vị nghĩ “Tôi thật Tốt Bụng , Tôi đang ban ơn cho kẻ này” thì ngay lập tức cái Tôi của quý vị phình to ra, hành động từ thiện đó trở thành thức ăn nuôi dưỡng bản ngã kiêu ngạo, còn nếu quý vị hành động với tinh thần Kim Cang, quý vị sẽ thấy” Người thọ nhận là Không, món quà là Không, mọi thứ chỉ là một vũ điệu của nhân duyên” quý vị giúp đỡ hết mình, thương yêu hết mình, nhưng Tâm hoàn toàn rỗng rang không mong cầu đền đáp, không thấy mình quan trọng đó mới là BA LA  MẬT (sự hoàn hảo của trí tuệ )

 

Sự nguy hiểm của nhãn dán không chỉ nằm ở khía cạnh triết học mà nó còn là nguyên nhân trực tiếp của mọi xung đột trên thế giới này.  Hãy nhìn xem chúng ta dán nhãn cho nhau là Bạn, là Thù, là người cuya phe Ta, dến mức sẵn sàng cầm súng bắn vào nhau. Nhưng nếu bóc cái nhãn ấy đi chúng ta thấy gì... chỉ là những con người bằng xương, bằng thịt, cũng khao khát hạnh phúc và sợ hãi khổ đau, y hệt như ta.

 

Kinh Kim cang là liều thuốc giải độc nmanhj nhất cho căn bịnh thực tại hóa (materialiazation) này, căn bịnh đã khiến chúng ta nhìn mọi thứ cứng nhắc đóng băng, chúng ta nhìn một người đã từng phạm lỗi và dán lên trán họ cái nhãn “TỘI PHẠM “ vĩnh viễn, chúng ta nhìn  bản thân mình thất bại 1 lần rồi tự dán nhãn “ Kẻ Thất Bại suốt đời “. Đó là SỰ TÀN NHẪN CỦA VÔ MINH.

 

Khi quý vị hiểu Tánh Không, quý vị sẽ xóa bỏ những cái nhãn đó xuống, quý vị trả lại cho sự sống một sự linh động vốn có của nó. ... Người xấu có thể trở thành người tốt, kẻ thù có thể thành bạn, và quan trọng nhất quý vị không còn bị giam cầm trong cái lồng chật hẹp của định kiến về chính mình.

 

Thưa quý vị bạn đạo, việc giải phẩu cái tôi này không phải để biến quý vị thành người vô cảm, lạnh lùng, không biết mình là ai mà ngược lai, khi cái tôi nhỏ bé ích kỷ tan biến, 1 cái ĐẠI NGÃ rộng lớn hơn sẽ hiện ra, đó không phải là cái Ngã cá nhân mà là sự hòa nhập với toàn thể vũ trụ.

Khi giọt nước không còn cố giữ mình là 1 giọt nước riêng biệt, nó sẽ trở thành đại dương.

 

Tuy nhiên có 1 cái bẫy rất lớn ở đây mà nhiều người trí thức hay mắc phải. Đó là khi họ hiểu về Tánh Không, về Vô Ngã, họ bắt đầu sinh ra tâm lý hư vô chán đời, họ nghĩ “ nếu tôi không có thật thì cuộc đời là mộng ảo thì cần gì phải sống nghiêm túc cần gì phải giữ giới, cần gì phải làm việc. Họ buông thả, sống phóng túng, và ngụy biện rằng đó là sự Tự Do của Bậc Giác Ngộ.---Đó là 1 sự hiểu lầm tai hại, 1 vực thẳm mà kinh Kim Cang luôn cảnh báo.

 

Đức Phật sau khi giác ngộ hoàn toàn về tánh Không, Ngài có ngồi yên 1 chỗ không? Ngài có sống buông thả không?---KHÔNG HỀ

Ngài đã sống 1 cuộc đời mẫu mực, giản dị và hoạt động không mệt mỏi suốt 45 năm để giáo hóa chúng sinh. Ngài vẫn ăn, vẫn ngủ, vẫn đi khất thực, vẫn tuân thủ giới luật.

Vậy câu hỏi đặt ra là :“Làm thế nào để 1 người đã thấu triệt rằng mọi thứ là KHÔNG, lại có thể sống 1 cuộc đời trọn vẹn, đầy trách nhiệm và đầy đạo đức trong thế giới CÓ này ? Làm sao để dung hòa giữa cái nhìn siêu việt của trí tuệ và đôi chân trần đang bước đi trên mặt đất gồ ghề của thực tại.

 

Câu trả lời nằm ngay trong lối sống của chính Đức Phật và các bậc thánh tăng, 1 lối sống mà chúng ta (những con người hiện đại  bận rộn)đang rất cần học hỏi để tìm lại sự cân bằng.

Hãy cùng tôi nhìn vào bức tranh đời sống giản dị nhưng phi thường ấy.

 

Khi chúng ta nói về việc cắt bỏ Cái Tôi, hay thấu hiểu vũ trụ là ảo ảnh, nghe có vẻ rất trừu tượng và xa vời, nhiều người sẽ tự hỏi “ Nếu tôi sống với triết lý Tánh Không, liệu tôi có trở thành lơ ngơ không biết chăm lo nản thân, hay 1 người lập dị xa lánh xã hội không?”

 

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn kể cho quý vị nghe 1 câu chuyện, 1 hình ảnh đã in sâu vào tâm trí tôi và làm thay đổi quan niệm của tôi về sự tu tập chân chính.

Tôi nhớ có 1 lần tôi đến miền nam Thái Lan, vùng đất được mệnh danh là Hoàng Kim Địa (Sugan Nabumi) tại đó tôi gặp 1 vị cao tăng Phật giáo Nam truyền vô cùng đáng kính, Đó là Ngài Buddhasa Bikkhu, Ngài là 1 học giả uyên thâm, người đã viết ra những cuốn sách rất sâu sắc về giáo lý Vô Ngã ( Anatta) dựa trên Bát Nhã Ba La Mật dù Ngài thuộc truyền thống Pali. Điều khiến tôi chấn động không phải là kiến thức của Ngài mà là cách Ngài sống.

 

Người ta kể rằng Ngài thường ngồi thuyết pháp trên 1 tảng đá giữa thiên nhiên không cần tòa sen chạm trổ, không cần gấm vóc lụa là, nhưng khi tôi nhìn thấy tảng đá đó lòng tôi dâng lên 1 niềm xúc động mãnh liệt, tôi nghĩ “ Thật tuyệt vời, đây mới thật sự là phong thái của 1 đệ tử Phật “

 

Thú thật với quý vị : Tôi nhìn lại bản thân mình và các Lạt Ma Tây Tạng đôi khi tôi cảm thấy xấu hổ, chúng tôi những người được gọi là Đạo Sư, thường ngồi trên pháp tòa cao ngất ngưỡng, được trang hoàng lộng lẫy, sống 1 cuộc đời có phần xa hoa và tiện nghi và nếu bây giờ tôi bảo các thị giả của mình rằng “hãy dẹp cái ghế êm ái này đi, kiếm cho ta 1 cục đá để ngồi giảng kinh” chắc chắn họ sẽ cảm thấy bối rối và không thoải mái. – Chúng ta đã quá quen với hình thức mà quên mất cái cốt tủy giản đơn. Đức Phật, vị Thầy của cúng ta đã sống như thế nào?

 

Ngài từ bỏ khuôn vàng điện ngọc để khoát lên mình tấm y phấn tảo, cầm bình bát đi xin ăn từng bửa và đi chân trần trên nền đất nóng bỏng của Ấn Độ, Ngài sống đời sống của 1 người không nhà, tách biệt khỏi những ràng buộc thế tục.

Tại sao 1 bậc giác ngộ toàn năng, lại chọn lối sống khổ hạnh như vậy, phải chăng Ngài không có phước báu để hưởng thụ? –Không phải vậy

Ngài chọn sự giản dị là vì 1 mục đích khoa học và tâm lý cực kỳ chính xác. Ngài hiểu rằng “Nguyên nhân chúng ta cứ mãi lăn trong vòng luân hồi khổ đau chính là do NGHIỆP (karma) được củng cố bởi Tham Ái (greedy)và Thủ (obtain) chúng ta dính mắc vào sự tiện nghi, vào tài sản, vào danh vọng. Càng sở hữu nhiều, cái tôi càng phình to ra, và nỗi sợ mất mát càng lớn lên.

Sống giản dị thiểu dục tri túc,ít muốn biết đủ chính là phương pháp thực tế nhất để rút củi dưới đáy nồi.

Khi quý vị giảm bớt nhu cầu vật chất, quý vị đang trực tiếp làm suy yếu năng lượng của Tham Ái (Tanh a )quý vị dsang tạo ra 1 không gian rỗng rang trongtaam trí để trí tuệ Kim Cang có chỗ hoạt động.

Tôi có 1 người bạn tu sĩ đến từ vùng Champo (Tây Tạng) , vị này đã thực hiện 1 trong 13 hạnh đầu đà khổ hạnh – Đó là sống dưới gốc cây, không nhà không cửa chịu đựng sương gió,. Ông kể với tôi rằng có lần đang ngồi thiền dưới gốc cây, 1 con rắn độc bò tới. Trong khoảnh khắc đó nỗi sợ hãi của bản năng trỗi dậy nhưng vì ông không có ý niệm làm hại, không có ý niệm sở hữu hay bảo vệ lãnh thổ nên con răn chỉ lướt qua và bỏ đi, để ông ở lại 1 mình trong bình an.

 

Câu chuyện đó dạy chúng ta điều gì? Nó dạy rằng khi tâm ta buông bỏ sự bám víu, thiên nhiên và vạn vật tức khắc sẽ hòa hợp với ta. Chúng ta không cần phải chiến đấu để giành giật sự sống, mà sự sống sẽ tự nuôi dưỡng ta.

 

Tất nhiên tôi không khuyên tất cả quý vị, những cư sĩ có gia đình và công việc phải bỏ hết nhà cửa ra công viên ngủ dưới gốc cây hay ngồi trên tảng đá.việc kiếm tiền và làm kinh tế là nhiệm vụ của quý vị (những người cư sĩ mà xã hội cần cho sự phát triễn thịnh vượng.

Nhưng tôi tha thiết khuyên quý vị hãy áp dụng tinh thần sống đơn giản vào  ngay giữa lòng đời sống hiện đại.---Quý vị sống đơn giản nghĩa là gì ? Nghĩa là quý vị LÀM CHỦ VẬT CHẤT chứ  không để VẬT CHẤT LÀM CHỦ MÌNH.

Quý vị có thể giàu có nhưng đừng để đồng tiền định ra giá trị của quý vị, quý vị có thể ăn ngon nhưng đừng để sự tham ái làm mờ mịt tâm trí của quý vị, đặc biêt tôi rất ngưỡng mộ truyền thống ăn chay của Phật Giáo Trung Hoa (việc quý vị gìn giữ chế độ ăn uống thanh tịnh, không sát sinh) là cách thực hành từ bi vô cùng thiết thực.

 

 Đó là 1 nét đẹp văn hóa đáng trân trọng, tuy nhiên cũng cần phải có trí tuệ trong việc này.  Đừng thực hành sự giản dị hay ăn chay 1 cách cực đoan đến mức hũy hoại sức khỏe của mình. Đức Phật dạy con đường Trung Đạo, Sức Khỏe là vốn quý nhất để tu tập. Nếu quý vị ăn uống quá kham khổ dẫn đến bịnh tật, ốm yếu thì lấy sức đâu ,mà hành thiền, lấy sức đâu mà tụng kinh, hay giúp đỡ người khác.Sự giản dị phải đi kèm với sự tỉnh thức, chứ không phải hành hạ thân xác mù quáng.

 

Vậy nên thưa những người bạn đạo, lối sống của 1 hành giả Kim Cang thừa không phải là trốn lên núi cao, mà là sống giữa thế gian với 1 tâm thế nhẹ nhàng như mây trôi.

Quý vị làm việc chăm chỉ mà không tham lam, quý vị yêu thương gia đình mà không bám chấp sở hữu, quý vị chăm sóc sức khỏe mà không luyến ái thân xác, khi sống được như vậy thì dù quý vị đang ngồi trên ghế văn phòng, đang lái xe hơi, hay đang ăn một bửa cơm thanh đạm quý vị cũng đang thực hành kinh Kim Cang.

 

 3---Quý vị đang “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM “  nghĩa là “không trụ vào đâu cả để sinh cái tâm thanh tịnh”.

Nhưng thưa quý vị, sống tốt sống gỉn dị thôi không chưa đủ, đó chỉ mới là điều kiện cần để thực sự chuyển hóa tâm thức và mang lại lợi ích lớn lao cho cộng đồng. Chúng ta cần phải tiến thêm 1 bước nữa, 1 bước đi đòi hỏi sự dấn thân của Trí Tuệ, sự can đảm phá vỡ những hủ tục mê tín đã bám rễ lâu đời. Chúng ta không thể chỉ là người tốt bụng, hiền lành 1 cách thụ động, mà chúng ta phải trở thành những ngọn đuốc trí tuệ. Và để làm được điều đó chúng ta phải thay đổi hoàn toàn cách chúng ta tiếp cận và chia sẻ đạo Phật.

Vậy cùng tôi bước vào phần cuối cùng nơi tôi sẽ gửi gấm đến quý vị những kỳ vọng gan ruột của mình về tương lai của Phật Giáo trong thế giới này.

Nếu chúng ta thực sự muốn mang ngọn đèn trí tuệ của kinh Kim Cang soi sáng thế gian, điểm đầu tiên và quan trọng nhất chúng ta cần làm là PHẢI THAY ĐỔI HOÀN TOÀN PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN TẢI ĐẠO PHẬT.

 

Tôi đã từng được nghe kể về 1 chàng trai trẻ đi hù dọa dân làng rằng: Nếu không đến chùa tu tập họ sẽ bị đọa vào địa ngục hay làm ngạ quỷ. Cũng có rất nhiều người, thậm chí là tu sĩ sử dụng nỗi sợ hãi như 1 công cụ để lôi kéo tín đồ, họ vẽ ra diễn cảnh kinh hoàng về các cõi dữ, về ma quỷ để buộc người ta phải quỳ gối cầu xin sự che chở, Nhưng thưa những người bạn đạo, đó là 1 SAI LẦM NGHIÊM TRỌNG

 

Đó không phải là con đường của Đức Phật, việc sử dụng nỗi sợ để ép buộc niềm tin là 1 hành động đi ngược lại với tinh thần Từ bi và Trí tuệ. Đạo Phật không phải là 1 hệ thống cai trị dựa trên sự dọa nạt. Mục đích tối thượng của Đức Phật không phải tại ra những con chiên ngoan ngoãn vì sợ hãi,mà tạo ra con người tự do, những người hiểu rõ về Khổ đau và con đường diệt Khổ.

Giáo lý của Đức Phật dựa trên TỨ DIỆU ĐẾ đặc biệt là Diệt Đế ( sự chấm dứt khổ đau) và Đạo đế

(con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau). Ngài chỉ cho chúng ta thấy rằng Khổ đau là có thật nhưng nó có nguyên nhân và vì có nguyên nhân nên nó có thể bị loại bỏ. Đó là quy trình logic khoa học giống như 1 bác sĩ chẩn bịnh và kê đơn chứ không phải là 1 quan tòa đang tuyên án phạt.

 

Chúng sinh vốn dĩ đã khao khát hạnh phúc và sợ khổ đau 1 cách tự nhiên, chúng ta không cần phải bồi thêm nỗi sợ vào tâm trí họ nữa.

 

Chính vì thế nhiều triết gia phương Tây đã nhận xét rất đúng rằng: “Phật Giáo giống như 1 môn khoa học về tâm thức hơn là 1 tôn giáo” và tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này .

Nếu tôn giáo được hiểu theo nghĩa là “Niềm tin mù quáng vào Đấng Sáng thế” thì Phật Giáo không phải là Tôn Giáo! PHẬT GIÁO LÀ MÔN KHOA HỌC KHÁM PHÁ, PHÂN TÍCH và CHUYỂN HÓA NỘI TÂM .

Vì vậy lời khuyên gan ruột của tôi dành cho quý vị, những người đang nắm di sản Văn Hóa Phật Giáo Á Đông là: HÃY ĐẶT SỰ HỌC LÊN HÀNG ĐẦU, đừng bắt đầu bằng Niềm Tin , hãy bắt đầu bằng TRIẾT HỌC.

 

Khi tôi giới thiệu Phật giáo cho người mới, tôi luôn bắt đầu bằng việc giải thích các hệ thống triết học, các quan điểm về Tánh Không, về Duyên Khởi. Chỉ sau khi họ đã hiểu thấu đáo về mặt lý luận , niềm tin chân chính mới nảy sinh.Niềm tin đó mới vững chắc như Kim Cương không gì phá vở được.

Khi quý vị trở về quyê hương, trở về cộng dồng của mình xin đừng thỏa mãn với việc xây dựng những ngôi chùa to lớn, hoặc tổ chức những lễ hội linh đình. Hãy tổ chức các lớp học, hãy biến ngôi chùa thành tư gia của quý vị thành những trung tâm giáo dục nơi mọi người không phải đến để lạy lục 1 bức tượng vô tri, mà đến để ngồi lại với nhau thảo luận tranh biện về Triết Học Phật Giáo.

Đừng ngồi nghe 1 vị Thầy ngồi trên tòa thuyết giảng, hãy cùng nhau mổ xẻ vấn đề giống như chúng ta đang ngồi trong phòng thí nghiệm vậy.

 

Có 1 người bạn của tôi, từng hỏi ý kiến của tôi rằng “ Khi tôi về quê nhà để dạy đạo cho mọi người, tôi nên đội cái mũ nào cho trang nghiêm mũ vàng hay mũ đỏ?”

Tôi đã trả lời anh ấy rằng : “ Không cần mũ nào gì cả, hãy dẹp hết mấy cái hình thức đó đi. Các anh cần mang về không phải là cái mũ mà là Kinh Kim Cang.”

 

Quý vị thấy đấy HÌNH THỨC BÊN NGOÀI KHÔNG LÀM NÊN 1 VỊ THẦY, chỉ khi nào tự hiểu biết sâu sắc về Tánh Khộng, mới làm nên giá trị của người truyền Đạo

Hãy nhớ lại chính cuộc đời của Đức Phật Thích Ca, Ngài đâu phải sinh ra đã là Phật ngay lập tức. Trong các bản kinh như kinh Hiền Ngu, chúng ta thấy Ngài đã trải qua vô lượng kiếp thực hành rèn luyện, phạm sai lầm rồi sửa chữa. Ngài đã chuyển hóa tâm thức của mình từ 1 trạng thái phàm phu đầy rẫy phiền não và hỗn loạn giống hệt như tâm thức của chúng ta hiện nay để trở thành 1 bậc Toàn Giác.

 

Điều này mang lại cho chúng ta 1 niềm hy vọng lớn lao, nếu Đức Phật đã làm được thông qua sự rèn luyện thì chúng ta cũng làm được.

Tâm thức này có khả năng biến đổi vô tận. Đừng bao giờ tự ti nghĩ rằng mình là kẻ tội lỗi yếu hèn không thể giác ngộ. Bản chất của Tâm là rạng rỡ và thanh tịnh, mà những cấu uế chỉ là khách trần tạm bợ mà thôi.

Ngay sau khi giác ngộ, Đức Phật đã từng thốt lên rằng : “TA ĐÃ TÌM THẤY 1 GIÁO PHÁP THÂM SÂU, AN LẠC, KHÔNG SINH DIỆT, SÁNG NGỜI và VÔ VI. Nó giống như DÒNG NƯỚC CAM LỒ BẤT TỬ “ nhưng nếu ta giảng nó ra sẽ chẳng ai hiểu được. Nên tốt hơn là ta cứ im lặng

Trong rừng Ngài ngần ngại vì giáo pháp này đi ngược lại hoàn toàn với thói quen suy nghĩ thông thường của thế gian, thế gian thích CÓ, thích BÁM VÍU, còn Ngài thấy KHÔNG và BUÔNG XẢ.

 

Nhưng cuối cùng vì lòng Bi Mẫn, Ngài đã lên tiếng. Ngài đã trao cho chúng ta thanh gươm  Kim Cang này.Bây giờ trách nhiệm thuộc về quý vị, đừng để thanh gươm ấy rĩ sét trong vỏ bọc của sự thờ phụng.

 

Hãy rút nó ra mỗi ngày, hãy trở thành những nhà khoa học của tâm hồn, Hãy nghiên cứu, hãy nghi ngơf, hãy kiểm chứng và trên hết Hãy sống 1 cuộc đời giản dị nhưng giàu có,về lòng trắc ẩn .

Hãy mang tinh thần của kinh Kim Cang, tinh thần Ưng Vô Sở Trụ, không bám víu vào dâuddi vào thế giới đầy biến động này. Đó là cách Tốt nhất, thiết thực nhất để quý vị đền đáp ân đức của chư Phật và làm lợi lạc cho chính dân tộc cộng đồng của mình

Xin cảm ơn quý vị đã lăng nghe và mong rằng “ ÁNH SÁNG của TRÍ TUỆ BÁT NHÃ sẽ luôn soi đường cho mỗi bước chân của quý vị khi tìm về Sự Thật

 

 

Lời kết,

 

Người viết đã ràng rụa nước mắt khi phiên tả từng lời của bài giảng trong suốt 6 giờ đồng hồ với 10243 chữ trong đam mê và phấn khởi khi đã nghe được lời khuyên dạy từ gan ruột của ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA.

Hãy tin rằng chúng ta sẽ  thực hiện được đúng như lời chúc của Ngài và tin tưởng  rằng “ ÁNH SÁNG của TRÍ TUỆ BÁT NHÃ sẽ luôn soi đường cho mỗi bước chân của chúng ta khi tìm về Sự Thật “ và nhất là nghe đi nghe lại bài giảng này sẽ còn đạt hiệu quả gấp chục lần,

 

Kính trân trọng

 

Sydney, những ngày cuối năm Ất Tỵ  

Phật tử Huệ Hương    

  

xem tiep

 

 

 

  

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/02/2026(Xem: 1191)
Kính phiên tả lại toàn bộ short video này để mời các bạn cùng thực hiện vào ngày đầu năm Bính Ngọ nhé như thay lời chúc đầu năm. Muốn cho một lời cầu nguyện được ứng nghiệm phải hội đủ 4 loại LỰC LỚN NHẤT CỦA PHÁP GIỚI .
08/12/2025(Xem: 1675)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
22/10/2025(Xem: 3714)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 2048)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
31/05/2025(Xem: 3000)
“Đào tạo thanh, thiếu, đồng niên trở thành người Phật tử chân chính nhằm xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.” Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam không phải là một khẩu hiệu suông. Đó là một tuyên ngôn giáo dục – tâm linh – xã hội sâu sắc. Từng từ trong câu mục đích là một viên gạch xây nên lý tưởng và phương hướng hoạt động của tổ chức. Để thực sự thực hành đúng vai trò Huynh Trưởng, chúng ta cần thẩm thấu từng khía cạnh sau:
31/05/2025(Xem: 1512)
Trong đạo Phật, sự tự do nội tâm, tỉnh thức trong thực tại và giác ngộ cá nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Đức Phật không lập giáo điều, không lập giáo hội,không áp đặt niềm tin, cũng không thiết lập một cơ chế tổ chức mang tính quyền lực hay mệnh lệnh. Ngài chỉ chỉ bày con đường như ngón tay chỉ mặt trăng: Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – con đường đưa đến thân lạc tâm an, tỉnh thức mọi lúc và giải thoát khổ đau. Vì thế, tất cả những văn bản, văn kiện, định chế như Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
25/04/2025(Xem: 3419)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
22/04/2025(Xem: 3415)
Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?” Vì sao vậy ? Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
19/10/2024(Xem: 6180)
Thân-Khẩu-Ý (身-口-意; P: Kāya-Vacī-Mano; S: Kāya-Vak-Mana; E: Body-Speech-Thought) là 3 thứ tách biệt nơi con người, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Ý là yếu tố có sự tác động đến cả Thân và Khẩu. Nếu một hành động của Thân hay lời nói của Khẩu mà không có Ý tác động vào thì khó mà có kết quả.
19/10/2024(Xem: 9462)
Tứ y pháp (四依法; S: Catuḥpratisaraṇa; E: The four reliances) là 4 pháp phương tiện quan trọng theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, với mục đích giúp hành giả rõ biết pháp nào nên hoặc không nên nương tựa, nhằm thành tựu giác ngộ, giải thoát.