56. Người Xuất Gia (bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng, do đệ tử Quảng Tịnh Tâm ghi chép cảm tưởng)

16/08/202011:39(Xem: 40073)
56. Người Xuất Gia (bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng, do đệ tử Quảng Tịnh Tâm ghi chép cảm tưởng)
56_TT Thich Nguyen Tang_Nguoi Xuat Gia

Nam mô A Di Đà Phật


Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay SP giảng bài kệ thứ 56 trong Nghi thức đảnh lễ tam bảo do Đức Trưởng Lão Hoà Thượng Thích Trí Thủ ( 1909-1984) biên soạn và hành trì trong suốt cuộc đời Ngài

Bài nguyên văn:

Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, trấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu. Nhược bất như thử, lạm xí tăng luân.

Dịch nghĩa:
Phàm là người xuất gia,
Lập chí thoát ba cõi,
Thân tâm đều khác tục,
Nối thạnh dòng giống Phật, 
Nhiếp phục mọi chướng ma,
Báo đền bốn ơn nặng,
Độ chúng sinh ba cõi.
Nếu không được như thế,
Chỉ là giả làm Tăng.
Đại vị tứ trọng ân, đảnh lễ thập phương thường trú Tam Bảo. (1 lạy)


Câu này được HT Trí Thủ trích trong quyển Quy Sơn Cảnh Sách của Thiền Sư Linh Hựu để tạo nhân duyên cho hàng đệ tử chúng ta đảnh lễ Tam Bảo mỗi ngày, vừa tạo công đức cho bản thân, vừa tự nhắc nhở bản thân trên bước đường tu học.

Ngài là đệ tử truyền thừa năm đời từ Lục Tổ Huệ Năng, và là sơ tổ của phái Quy Ngưỡng. Hoà Thượng Tuyên Hoá (Vạn Phật Thánh Thành ở Cali, Hoa Kỳ) là vị thứ chín của dòng phái này.

Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu (771-853 )  là đệ tử của Tổ Sư Bách Trượng Hoài Hải.

Thiền Sư Linh Hựu có 1500 đệ tử xuất gia. Ngài viết tác phẩm Cảnh Sách Văn này, một áng văn trác tuyệt để dạy cho đồ chúng xuất gia của ngài, sau đó tác phẩm này đã trở thành 1 gia tài pháp bảo vô giá trong chốn nhà thiền, và được xem quyển sách gối đầu giường cho hàng xuất gia và tại gia, giúp họ  làm hành trang trên đường tu đến giải thoát, vượt ra khỏi sanh tử, luân hồi.

Người xuất gia phải luôn dụng công tu tập để: trên đền bốn ơn nặng, đó là , ơn Tam bảo, ơn Cha mẹ và quốc gia, ơn Sư Trưởng và ơn chúng sanh vạn loại.

Sư phụ minh họa 4 ơn này qua bài thơ khuyến tu của Hòa Thượng Thích Huyền Vy rất hay như sau:

 

Chớ bỏ trôi qua uổng tháng ngày,
Tu hành gắng lấy, để cầm tay,
Bến mê lánh khỏi trăm phần khó,
Cửa Pháp nương nhờ lắm chuyện may !
Nợ trước bốn ơn, lo gắng trả,
Thân sau ba cõi, nguyện đừng vay,
Vô thường niệm niệm xin ghi nhớ,
Chớ bỏ trôi qua uổng tháng ngày!"


Người xuất gia với "tâm hình dị tục", có nghĩa là hình tướng và tâm tánh phải khác người thế gian.

Cuối thời Pháp sư phụ đã đọc 2 bài thơ nói về "Lý tưởng của người xuất gia" của Thầy Trí Giải rất tuyệt vời:

"Y vàng dứt bỏ giận hờn
 Vai oằn sứ mạng, pháp môn độ người
 Sứ giả dẫm bước muôn nơi
 Xiển dương chánh Pháp cho đời bình an.
 Trần gian có lúc thăng trầm
 Thuyền từ vững chắc chèo dần qua sông,
 Mặc cho sóng gió, bão dông
 Kết duyên bá tánh vun trồng phước duyên.
 Hoa tâm nở chốn hương thiền
 Đền ơn Thầy, Tổ quy nguyên căn lành,
 Đường tu một dạ chí thành
 Nguyện làm cát đá hóa thành Từ bi.
 Danh lợi nào có sá gì
 Tỳ Kheo hoằng Pháp chỉ vì tình thương
 Dù cho gian khổ dặm đường
 Sa Môn kham nhẫn không vương bụi trần
 Dong ruổi góp nhặt cơn sân
 Mang về vun bón chân tâm Bồ đề !!!
 Khi nào hoa quả sum sê
 Hái tặng hạt giống người về ươm tâm".


Hành Trang Tu Sĩ

"Hằng ngày học hỏi điều hay 
 Hoa tâm hiện thể, mỗi ngày nở tươi 
 Hành trang tiến bước cuộc đời 
 Sống vui hạnh phúc tuyệt vời làm sao.
 Đời người tu sĩ tự hào 
 Ba y, bình bát, Đạo mầu Như Lai 
 Soi kinh nấu sử hằng ngày 
 Để cho lý tưởng tròn đầy Đạo tâm.
 Đường tu: tỉnh thức, chuyên cần 
 Kiếm tuệ chặt đứt mê lầm chướng duyên 
 Nương theo giới luật hương thiền 
 Chiếu soi lầm lỗi để liền hối tâm.
 Thị phi chỉ tạo cơn sân 
 Suối nguồn bi ái mắt ngân lệ sầu 
 Y vàng, chiếc áo màu nâu 
 Lý tưởng hoằng Pháp nhịp cầu về Tây". (Thích Trí Giải)

 
Sư Phụ cũng nhắc thêm về công đức xuất gia của Công tử Dũng Quân (Tỳ La Tiễn Na) do Đức Thế Tôn giảng tại thành Tỳ Xá Ly rằng, dù Công tử Dũng Quân chỉ xuất gia một ngày một đêm, nhưng công đức giúp cho vị này trong 20 kiếp không đọa vào ba đường ác, kiếp cuối cùng làm người tu và được trở thành Độc Giác Phật với danh hiệu là Tỳ Lưu Đế.

Nhưng để có 1 ngày 1 đêm xuất gia giữ thân và tâm trong sạch trọn vẹn, không là chuyện đơn giản.

Bạch Sư Phụ, phần con đã già yếu rồi, con chỉ xin được lên hạ phẩm hạ sanh để tiếp tục tu tập mà không còn trầm luân trong cõi ta bà nữa, xin Đức A Di Đà Như Lai từ bi chứng minh cho tấm lòng của con.


Con kính tri ơn Sư Phụ, mỗi ngày SP ban cho một bài pháp giúp chúng đệ tử làm hành trang trên đường đến giải thoát sinh tử luân hồi.

Nam mô A Di Đà Phật
Cung kính,

Đệ tử Quảng Tịnh Tâm (Montreal, Canada)


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/04/2016(Xem: 25214)
Pháp Thân tiếng Sanscrit là Dharmakaya, tiếng Nhật là Hosshimbutsu, tiếng Pháp là Corps d’essence. Đó là nói về Chơn Thân, Đạo Thể, thể của Pháp Tánh. Pháp Thân của Phật có 4 Đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh (4 Đức Ba La Mật). Nó không mắc vào tứ khổ (Sanh, Lão, Bệnh, Tử). Nó không lớn, không nhỏ, không trắng, không đen, không có Đạo, không vô Đạo, nó tự nhiên trường tồn, không thay đổi. Dầu Phật có ra đời hay không thì nó cũng như vậy mãi.
24/04/2016(Xem: 50424)
Qua mạng Amazon.com, tôi đặt mua cuốn sách tiếng Anh “In The Buddha’s Words” của Bhikkhu Bodhi ngay sau khi xuất bản năm 2005. Đọc sơ qua phần đầu rồi để đó. Mỗi lần đi đâu, tôi mang theo để đọc từ từ vài trang, trong lúc chờ đợi, trước khi đi ngủ. Cứ thế dần dần qua năm tháng. Rồi cũng không thẩm thấu được bao nhiêu.
02/07/2015(Xem: 20764)
Duy Thức học là môn học khảo cứu quan sát Tâm, hay gọi là môn học tâm lý Phật Giáo; nhưng cũng còn gọi là Pháp Tướng Tông, tức nghiên cứu hiện tượng vạn pháp. Như vậy Duy Thức Học cũng có thể gọi là môn học nghiên cứu vừa chuyên về Tâm vừa chuyên về Pháp. Thuộc về tâm, thì môn này đã tường tận phân định từng tâm vương, tâm sở; thuộc về pháp, thì lý giải khảo sát từ pháp thô đến pháp tế, từ hữu vi cho đến vô vi. Một môn học bao gồm hết thảy vấn đề, từ vấn đề con người cho đến vạn vật; từ chủ thể nhận thức đến khách thể là thế gian và xuất thế gian - môn học như vậy nhất định là môn học khó nhất để có thể am tường, quán triệt! Hơn nữa thế gian xưa nay, con người đã không ngừng nghiên cứu khoa học vật chất, mà vẫn chưa có kết quả thỏa đáng, nghĩa là vẫn mãi bận bịu đi tìm, vẫn mãi phát minh bất tận thì đâu còn thời gian và tâm lực để có thể nghiên cứu về Tâm về Thức.
15/06/2015(Xem: 9110)
Các thuật ngữ Shanshin, Daishin, Kishin, Roshin, Tenzo... trên đây là tiếng Nhật gốc Hán ngữ và đã được giữ nguyên trong bản gốc tiếng Pháp. Chữ Tenzo (nơi tựa bài giảng của Đạo Nguyên) là danh hiệu dùng để gọi người đầu bếp trong một ngôi chùa. Nói chung chữ "Tâm" (Shin) là một thuật ngữ chủ yếu và vô cùng quan trọng đối với Thiền Học nói riêng và Phật Giáo Đại Thừa nói chung, đặc biệt là ở các nước Á Châu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, thế nhưng lại là một thuật ngữ khá "mơ hồ" vì rất khó xác định.
15/05/2015(Xem: 39941)
Thể theo lời yêu cầu của các bạn Đạo, tôi chọn một số bài nói chuyện về Phật pháp của tôi tại Tổ Đình Từ Quang ở Montréal và một vài nghi thức tụng niệm để in thành cuốn sách này, với hy vọng phổ biến Phật pháp. Cuốn sách được hình thành trong dịp Tết Canh Thìn, nhưng phải đợi đến Tết Dương Lịch 2001 mới đánh máy xong. Trong thời gian chờ đợi này, tôi đã cẩn thận kiểm điểm lại nội dung từng bài, nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, những mong các bậc cao minh từ bi chỉ điểm cho. Montréal, Tết Dương lịch 2001 Hiển Mật, Đỗ Hữu Trạch
12/05/2015(Xem: 30170)
Video: Những Hiểu Lầm về Đạo Phật
05/01/2015(Xem: 30190)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
05/01/2015(Xem: 27786)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
25/10/2014(Xem: 31947)
Trong bất cứ một cộng đồng nào đều có nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều chủng loại con người khác nhau sống cùng trong đó, thì chắc chắn luôn có sự hiện diện của nhiều mặt tư tưởng khác nhau, phát sinh nhiều vấn đề liên quan. Vì vậy để gìn giữ một cuộc sống yên bình cho một cộng đồng, con người phải có nhiều phương pháp để hòa giải mọi sự khác biệt. Xuyên suốt trong lịch sử của loài người, đã có rất nhiều lời đề xuất để giải quyết, thậm chí phải sử dụng đến phương sách bạo động, chẳng hạn như chiến tranh, xung đôt nhằm giải quyết sự khác biệt.
20/10/2014(Xem: 60022)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ và những khai triển của Trung Hoa. Người Ấn vốn có thái độ coi thường lịch sử; “bởi vì chư thiên yêu thương cái gì tăm tối”*, họ đẩy tất cả những gì xảy ra lui vào bóng tối mịt mù của thần thoại. Riêng Phật tử Ấn cổ thời, với lý tưởng cứu cánh là Niết Bàn, mọi biến cố lịch sử cũng không bận tâm cho lắm. Ngược lại, người Trung Hoa có thái độ lịch sử một cách xác thiết.