Ngựa Nòi Thông Minh (thơ)

29/03/201709:51(Xem: 17365)
Ngựa Nòi Thông Minh (thơ)


con_ngua_10

NGỰA NÒI

THÔNG MINH

 

Thành Ba-La-Nại thuở xưa

Ở miền bắc Ấn có vua trị vì

Quốc vương nhiều ngựa kể chi

Nhưng riêng một ngựa kia thì tuyệt luân

Ngựa nòi, giống tốt vô ngần

Lớn to, mạnh mẽ thêm phần thông minh

Ngựa từ nhỏ đã khôn lanh

Chưa cần nghe lệnh sai mình tới lui

Đoán ra ý đó ngay rồi

Quốc vương khen ngợi: "Ngựa nòi thông minh!"

Ngựa nòi nổi tiếng trong kinh

Quốc vương đặc biệt tận tình lo toan

Chuồng thời lộng lẫy trang hoàng

Thơm tho, sạch sẽ, khang trang vô cùng.

Trung thành với chủ hết lòng

Ngựa còn can đảm oai phong hàng đầu

Quốc vương quý ngựa từ lâu

Bao nhiêu tin tưởng đặt vào ngựa thôi.

Một ngày u ám đầy trời

Thành Ba-La-Nại rối bời tóc tang

Bảy vua các nước lân bang

Kết liên gây chiến dàn hàng tại đây

Họ mang lính tráng bủa vây

Quân hùng, tướng mạnh chuyến này phô trương

Nào voi, nào ngựa rộn ràng

Nào xe, nào lính vũ trang đầy mình

Vua Ba-La-Nại hoảng kinh

Vội vàng triệu tập triều đình lại ngay

Họp bàn tìm kế hoạch hay

Hầu mong chống đỡ với bầy xâm lăng,

Họ khuyên vua: "Chớ đầu hàng

Cùng nhau chống trả ngoại bang đến cùng

Ta cần bảo vệ hoàng cung

Giữ gìn ngôi vị quốc vương nước nhà,

Thoạt tiên mình hãy cử ra

Một viên võ tướng tài ba hơn người

Đã từng vô địch lâu đời

Thay vua chiến đấu tại nơi chiến trường

Nếu không thắng được đối phương

Thời ta mới để hoàng cung dự phần

Bấy giờ bệ hạ đích thân

Trổ tài ra trận cầm quân diệt thù."

Lời nghe hợp với ý vua

Nên ông quan võ từ xưa đứng đầu

Giữ ngôi vô địch đã lâu

Quốc vương triệu tới cùng nhau luận bàn

Quốc vương lên tiếng hỏi quan:

"Liệu rằng có thể phá tan giặc này?"

Ông quan võ trả lời ngay

Muốn rằng có được ngựa hay để dùng:

"Nếu mà bệ hạ đồng lòng

Hạ thần xin được cưỡi con ngựa nòi

Khôn ngoan can đảm lâu rồi

Chắc là sẽ thắng tại nơi trận tiền!"

Quốc vương đồng ý nói liền:

"Hỡi quan vô địch tôi hiền trung trinh

Ta luôn trông cậy vào khanh

Cùng là ngựa báu thông minh tốt nòi

Cứu nguy vương quốc này thôi

Tùy khanh định liệu chuyện nơi chiến trường!"

*

ngua noi thong minh




Ông quan nhận lệnh quốc vương

Vội vàng đi tới nơi chuồng hoàng cung

Ngựa nòi ăn uống vừa xong

Được mang đầy đủ yên cương trên người

Khoác thêm áo giáp bên ngoài

Cùng đồ trang sức rạng ngời châu thân

Ông quan kỵ mã tới gần

Cúi chào ngựa quý muôn phần nghiêm trang

Rồi leo lên cưỡi hiên ngang

Một người, một ngựa phóng sang phía thù

Ngựa nòi thông thái từ xưa

Hiểu ra tình thế rất ư hiểm nghèo

Nhủ lòng: "Quân địch quá nhiều

Lân bang bảy nước hò reo vây thành

Ngựa, voi, vũ khí, tinh binh

Nước mình cùng quốc vương mình nguy nan,

Quốc vương nhân ái vô ngần

Lại thêm tin tưởng trăm phần nơi ta

Ta đâu có thể lơ là

Để quân địch thắng trận mà đành tâm.

Nếu ta giúp đỡ ông quan

Để rồi tàn sát địch quân chuyến này

Bảy vua bị giết tại đây

Tức là ta đã tiếp tay hại người

Sát sinh phạm tội mất rồi

Xấu xa như vậy ta thời tránh xa,

Dịp này ta muốn đưa ra

Một lời giáo huấn cao xa tuyệt vời:

Không nên giết hại ở đời

Bảy vua bị bắt sống thời mới hay

Mới là chuyện vĩ đại thay

Mới là chiến thắng tràn đầy vinh quang!"

Những suy tư đẹp vô vàn

Ngựa bèn thổ lộ với quan cưỡi mình.

Rồi xông ra trận nhiệt tình

Sau khi quan sát chung quanh chiến trường

Chồm lên dậm cẳng hí vang

Lao vào đột kích đối phương tưng bừng

Tự tin, mạnh mẽ, kiêu hùng

Địch quân hốt hoảng tìm đường tháo lui.

Đoàn quân thứ nhất thua rồi

Vua thời bị bắt, quân thời bị tan

Bất ngờ, nhanh chóng, dễ dàng

Tránh đường chém giết bạo tàn như xưa.

*

Thế rồi lần lượt các vua

Đều thua chiến trận cũng như người đầu

Sáu vua bị bắt giống nhau

Giải vào giam giữ trước sau trong thành

Tưởng như sắp dứt chiến tranh

Nào ngờ lính nọ nấp rình một nơi

Dùng gươm đâm lén ngựa nòi

Bên sườn máu đỏ tuôn rơi dầm dề

Hằn sâu thương tích nặng nề

Khiến quan kỵ mã nghĩ suy ngại ngần

Lòng can đảm chợt tiêu tan

Nghĩ rằng: "Ngựa yếu khó ngăn quân thù

Địch quân kia khó đánh thua

Đạo quân thứ bẩy có vua kiêu hùng,

Ta nên chọn một ngựa thường

Phủ ngoài áo giáp, yên cương sẵn sàng

Cũng to lớn, cũng hiên ngang

Để thay cho ngựa nòi đang thảm sầu!"

Nghĩ xong ông chẳng chờ lâu

Lệnh thay thế ngựa truyền mau ra rồi.

Tuy đang đau đớn thân người

Ngựa nòi thấy vậy mở lời can ngăn:

"Thưa ông, ông có biết chăng

Nếu ông xử dụng ngựa thường như xưa

Giết nhau mong chuyện hơn thua

Thì dù thắng cũng bằng thừa mà thôi

Sát sinh đã tạo nghiệp rồi

Vinh quang chốc lát, luân hồi dài lâu

Xin ông hãy xét lại mau

Ngựa nòi thuần chủng đứng đầu là tôi

 

Riêng tôi giúp được ông thôi

Xông vào trận tuyến đủ tài tấn công

Phá tan hàng ngũ địch quân

Mà không sát hại một nhân mạng nào

Bắt vua thứ bảy. Lành sao!

Chiến tranh chấm dứt biết bao an bình!"

Ông quan nghe ngựa khuyên mình

Nghe xong ông lại lên tinh thần rồi

Theo lời ngựa thi hành thôi.

Ngựa nòi gắng gượng vươn người đứng lên

Vết thương băng bó kỹ thêm,

Chở quan kỵ mã trên yên kiêu hùng

Với đà cố gắng phi thường

Ngựa lao trở lại chiến trường hăng say

Đạo quân thứ bảy phá ngay

Đồng thời bắt sống vua này êm xuôi

Hết xâm lăng! Hết nổi trôi!

Chiến tranh lắng đọng, khắp nơi thái bình.

*

Ngựa nòi trầm trọng bệnh tình

Quốc vương nhỏ lệ, thân hành đến thăm

Ngựa bèn trịnh trọng trối trăng:

"Tôi xin được một đặc ân cuối cùng

Hòa bình khi tái lập xong

Đừng thêm đổ máu mới mong lâu dài

Tôi xin trông cậy ở ngài

Ra tay phóng thích, triển khai tâm từ

Thả luôn tất cả bảy vua

Lân bang chung sống coi như một nhà!"

Nói xong ngựa duỗi mình ra

Từ từ nhắm mắt lìa xa cõi trần.

Quốc vương cùng với quan, quân

Xót xa nhỏ lệ muôn phần tiếc thương,

Thả vua bảy nước lân bang

Về sau chung sống trăm đường bình yên,

Cùng nhau hỏa táng ngựa hiền

Khắp nơi vang vọng lời khuyên nhân từ.

*

(NHẬN DIỆN TIỀN THÂN:

Ngựa nòi giống tốt và thông minh

là tiền thân Đức Phật.

Vị quốc vương là Ananda.

Người cưỡi ngựa là Xá Lợi Phất.)

 

TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO

(thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE GREAT HORSE KNOWING-ONE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/03/2026(Xem: 999)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1041)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1381)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2717)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1866)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 2806)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1917)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2489)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4559)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5695)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.