Giấc mộng vàng son

10/04/201311:55(Xem: 6332)
Giấc mộng vàng son

Giấc mộng vàng son

Lam Khê

Kinh thành Kosambi đang trải qua những ngày chấn động kinh hoàng. Hoàng hậu của nhà vua vừa bị ám hại, còn bà thứ phi xinh đẹp sắp lên giàn hoả. Dân chúng sống trong nỗi khoắc khoải lo âu. Họ sợ cả tiếng trống sang canh giữa đêm khuya im vắng, tưởng chừng như đó là hồi chuông báo tử đang giáng xuống đất nước lâu nay vốn rất yên bình hoà nhã.

Một bóng người lầm lũi bước đi trong đêm. Kinh thành hoa lệ cứ lùi dần phía sau. Người ấy cố đi nhanh như thể trốn chạy, nhưng thỉnh thoảng ngoảnh đầu nhìn lại ra vẻ hối tiếc. Làn sương lạnh thấm đẫm đôi vai gầy, hai gót chân trần nhói đau lên từng chập, người thiếu phụ khẻ rên rỉ, rồi quỳ gục xuống bên đường.

Có bàn tay ai đó lay nhẹ. Một giọng nói mang theo hơi gió thoảng về lạnh buốt :

_ Tiểu Liên! Mau đứng dậy rời khỏi đây ngay. Trời sắp sáng rồi.

Nàng giật thót mình ngẩng lên. Bóng người chập chờn mờ ảo trong ánh sao đêm, nhưng giọng nói nghe thật quen thuộc. Cái tên Tiểu Liên chỉ người trong hoàng cung mới biết. Sợ hãi nàng cất tiếng run run :

_ Hoàng Hậu, người còn sống à. Hay hồn ma bóng quế của người dõi theo Tôi đến đây để báo oán?

_ Đừng sợ Tiểu Liên. Chẳng phải ta đã xin Hoàng Thượng tha chết cho em đó sao. Ta là người hiểu đạo, biết rõ nhân quả cùng nghiệp lực trả vay, nên đã đón nhận cái chết một cách an lành, tuyệt không có lòng nuối tiếc, oán hận. Vì nghĩ còn chút duyên nợ nên không nở nhìn em sa vào con đường lầm lạc khổ đau. Em nên đi theo hướng này mới mong gặp được Phật và cầu xin sám hối. Oan trái bao đời từ nay rủ bỏ. Giấc mộng vàng son có đó rồi lại không, sao bằng hướng tới một con đường hoàn thiện an vui vĩnh cữu.

Không gian lặng lẽ chừng như nghe rõ từng chiếc lá cây rụng từ cánh rừng xa xa. Chỉ mới hôm qua thôi, ngọn lửa bùng phát lên nơi phía hậu cung. Ngọn lửa nung nấu vì lòng ganh ghét và ý muốn chiếm hữu ngôi vị chánh cung cao tột, Tiểu Liên đã không ngần ngại mưu tính việc sát hại Hoàng Hậu. Người luôn được nhà vua và quần thần kính phục vì tính cách nhân từ đoan chánh. Ngọn lửa được dập tắt nhưng Hoàng hậu chỉ còn chút hơi thở thoi thóp. Kẻ chủ mưu bị bắt liền sau đó. Nhà Vua nổi giận truyền đem lên giàn hoả, Hoàng hậu trong lúc tàn hơi vẫn cố lấy hết sức can ngăn :

_ Hoàng Thượng…xin hãy tha cho Thứ Phi. Xin đừng gây thêm cảnh tang thương nơi chốn hậu cung nữa. Đây là nghiệp chướng nhiều đời mà thần thiếp phải trả. Thiếp không oán hận gì, xin Bệ Hạ gia ơn lần cuối…

Trước phút lâm chung, gương mặt Hoàng Hậu không hề lộ vẻ đau đớn mà phảng phất ánh lên một niềm tin, một sự mãn nguyện như sắp đi đến một nơi nào đó thật an nhiên hạnh phúc. Bà chắp tay mỉm cười ra đi thanh thản. Mọi người nghe có tiếng niệm Phật, tiếng nhạc du dương lắng dịu từ thinh không. Theo nguyện vọng của Người, nàng được nhà vua phóng thích và buộc rời khỏi hoàng cung ngay đêm đó. Kinh thành tổ chức lễ tang Hoàng Hậu trong nỗi tiếc thương và trân trọng thần phục. Đêm đó nàng chạy khỏi cung cấm mà như chạy trốn cả chính mình.

Những tia nắng đầu tiên trong ngày chiếu xuống con đường đầy bụi mù cát gió. Tiếng chim hót, tiếng người nói chuyện râm ran qua lại làm cho Tiểu Liên chợt bừng tỉnh thức. Nàng chua xót khi thấy mình đang ngồi trà trộn cùng đám dân hạ tiện. Những con người lam lũ nghèo khổ mà sao ánh mắt họ vẫn ngời sáng thế kia. Họ an phận, điều đó chắc hẳn rồi. Mọi người quỳ xuống bên đường và hình như đang chờ đợi điều gì đó. Trên tay Họ cầm vài gói thức ăn …một gói xôi, một chiếc bánh, một nấm cơm vắt, dăm trái cam quýt. Những gương mặt thành kính trang nghiêm, thoáng trên môi ẩn kín một nụ cười bình an tin tưởng. Tiểu Liên ngồi bệt xuống đất. Nàng chẳng có điều gì để chờ đợi ở đây cả. Đói lả, nhưng nàng không muốn làm một kẻ ăn mày. Ngày còn dài mà đôi chân thì đã mỏi lắm rồi. Con chim ở chốn lồng son bất chợt được thả ra, chưa thể định vị được ngay hướng bay giữa cảnh trời đất bao la thăm thẳm mịt mù.

Mọi người bỗng hướng cặp mắt nhìn về cuối con đường, nơi có khu vườn cây xanh lẩn khuất trong đám sương mù chưa tan hết. Một đoàn người đang khoan thai bước tới. Tiểu Liên chợt nhận ra đó là đoàn sa môn của đức Cù Đàm vào làng khất thực. Hình ảnh này nàng từng thấy khi còn trong cung. Mấy mùa hạ liền Phật về trú mưa ở kinh thành này. Nhà vua chưa bao giờ thỉnh Phật vào cung cúng dường, bởi lẽ vua là người còn ham trần thế, nên không thích nghe những bài giảng đạo mang tính triết lý và thoát tục của Phật. Nhưng Hoàng hậu hiền thục thì rất mến đạo. Bà thường tự tay làm thức ăn rồi sai người mang đến Tinh Xá dâng cúng cho Phật và chúng Tăng. Thứ phi thường thấy Bà đi dạo trong vườn mỗi buổi sáng, và quỳ xuống khi Phật cùng tăng chúng đi khất thực ngang qua với dáng vẻ hết sức thành tâm ngưỡng mộ.

Muốn lấy lòng sủng ái của vua, Thứ Phi bèn tâu với Hoàng Thượng là chánh phi mỗi ngày cứ đứng ngắm Phật đi khất thực một cách rất say sưa ngây dại. Vua cho xây kín hết mọi cánh cửa sổ trong khu vườn. Hoàng Hậu không còn dịp đảnh lễ đức Thế Tôn nữa, nhưng Tiểu Liên cũng chẳng đạt được gì hơn. Từ ấy lòng ganh tức đố kỵ của Nàng ngày một sâu sắc. Rắp tâm tìm mọi cách để hãm hại, nàng mua chuộc những người hầu cận của Hoàng Hậu, nhân lúc đêm khuya nổi lửa đốt cung thất của Bà. Hoàng Hậu chết đi. Ân oán bao đời, người đã trả xong. Tiểu Liên lại vừa mới vay thêm món nợ ân tình. Trong cuộc vay trả trả vay này, người mất vẫn như còn đó, mà người còn thì lại đánh mất tất cả.

Đoàn Sa Môn hành hoá đi vào làng và thọ nhận vật thực của những người đang quỳ lạy bên đường. Tiểu Liên vẫn ngồi yên. Khoảnh khắc thời gian cứ trôi qua, rồi Nàng nhìn thấy Phật đang đi tới. Bước chân của Ngài sao tự tại, vẻ mặt của Ngài sao thanh cao thánh thiện quá. Tiểu Liên chợt nghe lòng dâng lên niềm xúc cảm của người vừa tỉnh giấc mơ hoa. Một người đã trót gây ra nhiều tội nghiệp, đã ôm ấp biết bao điều xấu xa đen tối. Ngay lúc này đây, Nàng muốn lạy xuống chân Phật, muốn nói những lời sám hối mà vẫn không thể. Tiểu Liên ngồi chồm dậy trong tư thế quỳ. Nàng nghe mặt đất dưới chân mình đang chuyển động. Màu vàng y của đức Tôn Sư luôn toả sáng, ánh bình minh từ phía chân trời cũng toả sáng. Mọi người quanh Nàng thì mãi lo tận hưởng niềm vui đạo lý bất diệt, chỉ riêng nàng là kẻ lạc loài. Một con người mang đầy mặc cảm tội lỗi …

Có vị Sư Nữ đang đi trên đường và hướng về phía Nàng. Dung nghi đỉnh đạt, phong thái uy nghiêm thanh thoát làm Tiểu Liên ngắm nhìn không chớp mắt. Vị Ni sư đến bên đưa cho nàng một gói cơm và bảo:

_ Tiểu Liên, cô hãy dùng lấy chút thức ăn này cho đở dạ.

Ngạc nhiên, Nàng không dám đón nhận, mà chỉ khẻ khàng hỏi :

_ Bạch Sư … Con không dám. Con chẳng có gì để cúng dường người cả. Nhưng sao Ni biết tên con. Người là ai …?

Vị Sư đưa cánh tay xoa nhẹ lên đầu Nàng. Tiểu Liên nghe một luồng hơi ấm tuôn chảy vào tâm não, lòng nhẹ mở như bước vào một thế giới mới lạ. Một thế giới thật sự bình yên, không còn tranh chấp theo vòng danh lợi phù hư. Thoáng chốc, giòng nước mắt tuôn dài trên gương mặt hốc hác bơ phờ. Nàng không hiểu mình khóc vì mừng vui hay buồn tủi nông nổi. Có một sự sống khác thường đang đến mà Nàng chưa bao giờ nghĩ tới. Nó như giọt nước cam lồ ngấm dần vào lòng đất làm lắng dịu hết mọi thứ vẫn đục trầm mê.

Vị Sư Nữ vẫn nhỏ nhẹ:

_ Con cứ khóc cho dù những giọt nước mắt kia chưa thể xoá sạch bao tội lỗi của kiếp người. Nhưng đó là dấu hiệu của sự hối cải, của lòng mong muốn đựơc trở về sống trong ánh từ bi pháp lạc. Còn bây giờ con ăn tạm nắm cơm này cho cơ thể tươi tỉnh lại khi vừa trải qua một đêm dài thao thức. Sau đó sẽ là một ngày dài để cho con suy gẫm những sự việc đã qua và những gì sắp đến. Bến giác bờ mê chính là lúc biết ngoảnh đầu nhìn lại. Ngày hôm qua và hôm nay đã là một kiếp đời khác. Qúa khứ vinh hoa của một thời cũng sớm trở thành giòng nước chảy mây trôi. Cởi bỏ hết thì con mới tìm ra được giá trị thiết thực cho đời sống hiện tại của mình. Nhận chân con đường thoát khổ, thì con mới tìm ra chơn lý giải thoát. Con hỏi ta là ai ư? Ngày xưa Ta cũng từng sống trong cảnh lầu son nhung gấm. Rồi cũng bao lần gặp nổi tân toan khổ lụy. Sự đời nếm trải nhiêu khê, Ta đã nuôi ý định trả thù đời bằng thứ vũ khí mà người phụ nữ vốn có. Nhưng Ta đã sớm gặp đấng từ phụ. Ta tinh tấn tu niệm trong đạo và chứng quả vô sinh bất diệt ngay nơi cõi đời sanh diệt này. Thôi bây giờ Ta phải vào thành khất thực đây. Đến trưa, Đức Thế Tôn trở về Tinh Xá dùng ngọ rồi thuyết pháp. Con nên đến nghe Ngài giảng, Ta sẽ chờ con nơi đó. Biết đâu chẳng gặp được duyên lành tỏ ngộ.

Quay đầu nhìn lại là bờ. Đơn giản như thế mà đôi khi con người ta tìm cầu suy nghiệm cả đời vẫn không thể nắm bắt được. Tiểu Liên ngỡ như mình nhận ra chơn lý ấy từ lâu lắm. Con đường trở về không xa. Chỉ vì lâu nay Nàng mãi sống trong cõi mộng, yêu thuơng buồn giận, tìm cầu danh vọng, gặt hái khổ đau cũng trong mộng. Mộng đời đã tan. Đường đạo thì hãy còn xa với kẻ lạc lầm. Cơ duyên đến …và giờ đây khi trong tay có được nắm cơm pháp vị thì cơn đói khát mệt mỏi không còn nữa. Nàng đứng dậy đi nhanh về khu Tinh Xá, nơi có dấu chân bậc đại giác, có cả hình bóng vị Ni Sư khả kính và Hoàng Hậu quá cố. Tất cả cứ hiện dần ra trên lối mòn tâm thức, để đón nhận bao cánh chim đời lạc lối quê xưa.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 772)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1763)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1258)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1612)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1211)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1789)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3352)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4598)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4166)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S