100. Đẹp hơn con vua

04/03/201103:31(Xem: 11026)
100. Đẹp hơn con vua

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ MƯỜI: CÁC NHÂN DUYÊN KHÁC

ĐẸP HƠN CON VUA

Lúc ấy, Phật ở thành Vương-xá, nơi tinh xá Trúc Lâm. Bấy giờ có vị phu nhân vợ của vua Ba-tư-nặc thọ thai, sanh được một người con trai dung mạo xinh đẹp hơn người, cặp mắt sáng đẹp như mắt chim câu-na-la. Nhân đó, vua đặt tên là Câu-na-la.

Vua hài lòng với dung nhan hoàng tử lắm, truyền cho trang sức bằng những loại trân bảo, y phục quý giá, sai người theo bảo vệ, đi hỏi khắp các nơi trong nước rằng: “Thế gian này có đứa trẻ nào xinh đẹp hơn thế này nữa chăng?”

Bấy giờ có người thương khách đi buôn xa, nghe được lời ấy liền tâu lên rằng: “Xin đại vương đừng giận dữ, cũng đừng bắt tội nô tài này, thì mới dám nói lời thật.” Vua liền đáp: “Ngươi cứ nói ra, đừng sợ. Ta hứa không bắt tội.”

Người khách buôn ấy liền nói: “Nơi chỗ thôn tôi ở, có một đứa trẻ tên là Tôn-đà-lỵ, dung mạo xinh đẹp, thù thắng, so với hoàng tử đây vượt trội hơn nhiều. Hơn thế nữa, khi đứa trẻ ấy sanh ra, trong nhà tự nhiên hóa hiện một dòng suối mát, lại thêm các thứ trân bảo quý giá cũng đồng thời hiện đến.”

Vua nghe lấy làm lạ, liền sai sứ đến ngay nơi ấy, ban lệnh vua rằng: “Ta sẽ thân hành đến đó xem mặt đứa trẻ Tôn-đà-lỵ.”

Người trong thôn nghe lệnh vua như vậy, bàn với nhau rằng: “Vua muốn đến đây, chỉ để xem mặt Tôn-đà-lỵ. Sao bằng ta tự đưa trẻ đến cho vua xem?” Nghĩ như vậy rồi, liền phục sức nghiêm trang cho Tôn-đà-lỵ, cho đeo vào các món trân châu, anh lạc, rồi cùng nhau đưa đến chỗ vua.

Vua nhìn thấy Tôn-đà-lỵ, cũng nhận là xinh đẹp hơn nhiều, lấy làm quái lạ, khen là chưa từng có, liền đưa đứa trẻ ấy cùng đi đến chỗ Phật, ý muốn thưa hỏi nhân duyên được thân thể tốt đẹp của Tôn-đà-lỵ.

Khi đến chỗ Phật, Tôn-đà-lỵ nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, liền sanh tâm hoan hỷ, chí thành lễ bái rồi đứng sang một bên. Phật liền thuyết pháp Tứ diệu đế cho nghe. Tâm ý được khai mở liền chứng quả Tu-đà-hoàn, lạy Phật cầu xin xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán.

Vua Ba-tư-nặc thấy việc như vậy, liền thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chẳng hay Tôn-đà-lỵ đây trước đã tạo những nhân lành như thế nào, mà nay sanh ra tự nhiên có suối nước trong xuất hiện trong nhà, lại thêm các thứ trân bảo quý giá đồng thời hiện đến, lại đến nay gặp Phật, xuất gia đắc đạo?”

Phật bảo vua Ba-tư-nặc với chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Khi ấy có mười tám ngàn vị tỳ kheo cùng vào chốn rừng sâu mà tu tập thiền định.

Có vị trưởng giả tình cờ đi đường gặp được, sanh tâm hoan hỷ, liền quay trở về nhà chuẩn bị nấu nước thơm cho chư vị tỳ-kheo tắm gội, lại bày biện các món ăn ngon quý, tinh sạch, cùng các thứ phẩm vật hương hoa, rồi thỉnh chư tỳ-kheo tăng đến thọ nhận cúng dường. Cúng dường các món ăn xong, lại còn dùng chậu nước quý bằng trân bảo mà dâng cho tăng chúng nữa.

“Nhờ công đức ấy, trải qua vô số kiếp chẳng đọa vào các nẻo dữ, trong cõi trời người thường được sanh ra cùng với suối nước mát và các thứ trân bảo quý giá.

Phật lại dạy rằng: “Vị trưởng giả cúng dường chư tăng ngày trước, nay chính là Tôn-đà-lỵ đó.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/12/2014(Xem: 5164)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 18001)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.
28/11/2014(Xem: 5693)
Tôi và cả vợ tôi nữa, hình như mấy ngày hôm nay, lòng lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, hạnh phúc vô cùng! Chuyện chẳng có gì to tát lắm đâu mà sao chúng tôi vui mừng đến vậy. Tối thứ bảy vừa qua, sau khi tắt đèn, mở cửa phòng đi tìm nước uống chuẩn bị đi ngủ, tôi phát hiện ngay trước cửa phòng một túi quà nhỏ, món quà nhỏ bé của các con tôi, với một tờ giấy võn vẹn sáu chữ "Happy 40th year from your children". Chỉ với sáu chữ võn vẹn đó...đã khiến vợ chồng tôi ngẩn ngơ, quên đi hai chiếc đồng hồ tuyệt đẹp trên tay vợ tôi! Vợ tôi thì xúc động lắm, còn tôi, miệng thì luôn hỏi sao tụi nó lại nhớ đến ngày cưới của mình, nhưng lòng lại mơ màng nghĩ về những ngày này của 40 năm trước...Tôi cưới vợ!
16/11/2014(Xem: 7199)
Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm sóc bà những năm tuổi già.Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học. “Khổ đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó.Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng, không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: “Đi đón mẹ chúng ta thôi!”.
15/11/2014(Xem: 17488)
Không và Có tương quan mật thiết với nhau như bóng với hình. Có bao nhiêu cái có thì cũng có bấy nhiêu cái không. Nếu cái có vô cùng vô tận, thì ...
14/11/2014(Xem: 6550)
Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.
08/11/2014(Xem: 8406)
Người đàn bà ngồi tựa vào tường trên lối mòn của một con hẻm. Mệt mỏi và thiếp đi cạnh quang gánh của mình. Hai đầu gánh là đủ thứ quà vặt như bánh tráng, kẹo, đến chanh, ớt… rồi có cả đồ chơi trẻ con chằng cột. Chị như muốn kéo cả thế giới chung quanh đi theo mình trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn không có ngày tháng cuối.
07/11/2014(Xem: 12502)
Tại sao lại là những bài học bình dị? Vì những câu truyện ở đây sẽ chỉ ra cho các em thấy được những bài học đạo đức rất gần gũi trong cuộc sống...
07/11/2014(Xem: 41847)
Nói "Chùa Khánh Anh sau 30 năm" có nghĩa là đã bắt đầu bước sang năm thứ 30+1... Thật vậy, chùa Khánh Anh bắt đầu sinh hoạt từ Lễ Phật Đản 1974, tức 1 năm trước biến cố lịch sử 30/4/1975. Tại sao lại không phải là sau ngày 30/4/75 như nhiều nơi khác, và nhiều chùa khác ở hải ngoại? Thưa quý vị và bà con cô bác, đó mới là có chuyện để kể lại. Và cái đoạn này có nhiều chuyện để kể lắm. Nghĩa là nguyên nhân do đâu, và từ bao giờ đưa đến việc thành lập chùa Khánh Anh trước năm 75 và sinh hoạt cho đến ngày hôm nay?
01/11/2014(Xem: 7231)
Trước 1975, tôi là một phi công Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi qua Mỹ từ ngày mất nước, khi tuổi đời vừa mới 25. Mang tiếng pilot bay bướm nhưng tôi không có lấy một mảnh tình, bởi vì tôi không có tài tán gái. Thời đó mặc dù phụ nữ Việt nam cao giá, mấy thằng bạn không quân lanh lẹ vẫn vớt được một cô vợ Việt. Tôi khù khờ, vài năm sau đành yên bề gia thất với một thiếu nữ Mỹ tuổi đôi mươi. Hồi mới cưới, cuối tuần tôi thường dẫn Carrol hội họp bạn bè, nhưng nàng cảm thấy lạc lõng giữa đám người Việt bất đồng ngôn ngữ và từ chối những buổi họp mặt. Xuất giá tòng thê, mất liên lạc với đám bạn cũ, tôi hoàn toàn hội nhập vào đời sống Mỹ. Khi đứa con gái lên 5, chẳng may Carrol bị bịnh thận. Căn bịnh quái ác kéo dài hành hạ nàng hơn 20 năm và nàng qua đời vào thời gian đứa cháu ngoại vừa tròn 3 tuổi. Gần 2 năm qua, nỗi buồn mất người vợ Mỹ tuy đã nguôi ngoai nhưng tôi vẫn giữ thói quen sống không bè bạn, vẫn âm thầm cô đơn chiếc bóng.