Người lữ khách cô độc

01/06/201714:39(Xem: 5672)
Người lữ khách cô độc


Nguyen Hanh _duc quoc (1)

NGƯỜI LỮ KHÁCH CÔ ĐỘC

 

 

          Tôi quen bác Victor trong một trường hợp thật tình cờ. Cứ mỗi năm chị em chúng tôi lại họp mặt nhau một lần, năm nay lại họp nhau lại Überlingen - một thành phố có hồ Bodensee xinh đẹp, đầy thơ mộng nằm giữa biên giới ba nước Đức, Áo và Thụy sĩ.

          Đến tối, vào giờ coi tin tức thì cái Tivi nhà cô bạn bị trục trặc, cũng may nhà bác Victor ở gần đó nên cô bạn đã nhờ Bác sang điều chỉnh và tôi quen Bác từ đó.

          Bác là dân Tây -cha Tây mẹ Tàu- nói tiếng Việt không rành. Xa quê hương đã lâu, Bác rất thèm nói tiếng Pháp nên gặp ai nói tiếng Pháp với Bác là Bác vui mừng vô cùng! Tôi thì chỉ lỏm bỏm được một ít cũng gắng vận dụng trí nhớ của mình để nói cho Bác vui và chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã trở thành gần gũi thân thiết với Bác hơn.

          Gặp tôi và các bạn, bác như được sống lại với không khí ấm cúng quây quần của một đại gia đình. Bác vui với những trận cười, những lời đùa giỡn của chúng tôi. Từ đó, trong những ngày chúng tôi lưu lại Überlingen, không ngày nào là không có Bác.

          Nhờ Bác, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm rất nhiều thắng cảnh của thành phố, đi thăm vườn Hạc, vườn Trúc, nhà sàn của thổ dân, thăm những vùng núi đồi xinh đẹp. Ngoài ra Bác còn là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp nên đã chụp cho chúng tôi rất nhiều tấm hình quý giá, còn sang cho chúng tôi mỗi người một cuốn Album lưu niệm. Dưới ống kính của Bác, màu sắc của những tấm hình thật ngời sáng, cây cỏ xinh tươi cùng với trời mây nước chập chùng!

         

Bác thường ở lại ăn cơm tối với chúng tôi, phần nhiều Bác ngồi nghe chúng tôi ríu rít, chỉ góp nụ cười nhưng chúng tôi đã đọc thấy trong đôi mắt Bác rực sáng cả niềm vui!

          Rồi một hôm Bác mời chúng tôi sang thăm nhà Bác. Mới bước vào  nhà đã thấy một lá cờ Pháp rất lớn treo ngay cửa chính, trên tường là những lá cờ nhỏ. Nhà Bác giống như một cái Studio thì đúng hơn. Những máy hình to lớn đặt khắp phòng vì đó là lẽ sống và cũng là thú tiêu khiển của cuộc đời Bác. Cứ mỗi mùa, Bác lại mang máy ảnh đi lang thang, từ khu rừng này sang khu rừng khác, chụp nhiều tấm hình thật độc đáo vô cùng.

          Đến tuổi già, không ai tránh khỏi bệnh tật, Bác cũng vậy, vừa đau cột sống, vừa đau dạ dày; thật ái ngại xót xa khi đau ốm cũng chỉ có một mình! Cũng may còn có cô bạn thân của tôi ở gần còn chạy qua chạy lại thăm viếng, mang thức ăn hoặc phụ giúp Bác một ít việc nhà, cũng đỡ cho Bác những khi tối lửa tắt đèn.

          Điều làm tôi giật mình khi Bác đưa chúng tôi vào xem cái giường thứ hai bác kê sẵn trong Toilette. Bác  bảo rằng "Nếu có chết, tôi chỉ muốn chết trên giường chứ không muốn chết dưới đất". Đó là lý do vì sao Bác có 2 cái giường! Hình ảnh này cứ làm tôi xót xa mãi và cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy trong đời. Trên đường về, chúng tôi đều im lặng, không ai nói với ai một lời, lòng nặng trĩu  cả ưu tư và xúc động!

          Nhìn cuộc sống của Bác quá thảm thương, không một người thân, khi đau nằm xuống cũng chỉ có một mình! Cả cuộc đời Bác là một bài học sống động về sự vô thường của kiếp người và suy rộng ra là cả một biến chuyển lịch sử tang thương của đất nước Việt nam cách đây hơn 60 năm về trước.

          Lịch sử Việt Nam từng lên án cái gọi là "thực dân Pháp", đúng là họ đã có nhiều lầm lỗi với những quốc gia nhỏ bé như Việt Nam chúng ta. Nhưng biết bao nhiêu người được đào tạo từ trường Pháp, được du học bên Pháp, không phải tất cả bị mất gốc, truyền thống, đạo đức, lễ nghi vẫn còn được họ tôn trọng. Ngoài ra, những công trình kiến trúc đồ sộ có tên tuổi, đường sá cầu cống mà người Pháp xây dựng cho đến bây giờ vẫn còn được xử dụng tốt như thường. Điển hình là nhà thờ Đức Bà ở Sàigòn, cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Tràng Tiền (Huế) và kết cấu nhà Bưu điện Sàigòn... Cha đẻ của ba kiệt tác sau là một người Pháp lừng danh, người đã từng xây tháp Eiffel tại Paris. Đó là ông Gustave Eiffel.

          Đối với chúng tôi, bác Victor là tấm gương sáng về lòng vị tha và độ lượng! Thử hỏi trong chúng ta, nếu có ai bị người khác bắt cha mình đi giết, bắt mình và mẹ đi tù, hành hạ khổ sở đến độ ra tù một thời gian sau, mẹ đau đớn khổ sở mà chết, thế mà mình lại không hề có chút oán hận không? Vậy mà  bác Victor đã làm được điều đó!

          Trong suốt thời gian tiếp xúc và trò chuyện thân tình với chúng tôi, Bác không hề có thái độ tức giận hay giọng nói hằn học. Khi kể về quá khứ, nét mặt Bác hơi buồn, lộ vẻ thương tâm và chỉ có thế.

          Dĩ vãng đã qua, lịch sử không lặp lại, bác Victor bình thản chấp nhận số phận với một tâm hồn khoan dung, ôn hòa như vậy.

          Đúng lý ra, là con trai cưng của một bác sĩ Pháp lừng danh, bác Victor sẽ được ăn học tới nơi tới chốn và cũng có thể nối nghiệp cha để trở thành một người có địa vị cao trong xã hội lúc bấy giờ, nếu như không có những biến cố đau thương trọng đại xảy ra làm cả nhà tan tác.

          Năm chưa đầy tám tuổi, Bác đã theo mẹ đi tù khắp nơi, bị cùm chân, bỏ đói, mắng chửi, bị chôn sống ngập đến cổ, trong khi Việt Minh gầm gừ đi qua đi lại hăm doạ: "Nếu bọn Pháp thả bom xuống đây, bọn tao sẽ cắt cổ hai mẹ con mày ngay".

          Thế mà cuối cùng Bác vẫn sống!  Sống còn sau bao nhục nhằn khổ ải đổ lên đầu một thằng bé ngây thơ mới tám tuổi, chỉ quen sống trong nhung lụa từ lúc mới lọt lòng!

-           Mẹ tôi là người Tàu, tôi hay theo mẹ đi Chùa và biết ăn cơm, có lẽ vì thế mà lúc đi tù, tôi không bị chết đói, chứ bố tôi chỉ biết ăn đồ Tây, Việt Minh không giết thì ông cũng bị chết đói thôi, Bác tiếp tục kể lể tâm tình.

          Đến bây giờ Bác vẫn thích có dịp thì đi Chùa, mặc dù đến chẳng biết lễ lạy, cầu xin gì mà chỉ nhìn mọi người đi qua đi lại mà thôi.

-                   Tôi không biết đọc và viết tiếng Việt. Sở dĩ tôi nói được là do học được trong thời gian... đi tù.

Chúng tôi tò mò hỏi:

-          Sau đó thì Bác làm gì khi "mãn hạn tù" ?

-         Bố tôi bị Việt Minh trói tay dẫn đi, có lẽ ông bị giết mất xác ở đâu đó rồi.

 

Lần ấy người ta khuyên bố tôi nên vào đồn Tây lánh nạn nhưng ông không chịu, viện cớ rằng ông là bác sĩ chỉ cứu người chứ có làm gì nên tội đâu mà sợ. Thế là ông cứ ở lại nhà và Việt Minh đâu cần biết ông là ai, có tội hay không, cứ là người Pháp là giết ngay. Tôi và mẹ tôi bị bắt đi hướng khác, sau khi được thả, chúng tôi quay về nhà cũ. Một thời gian sau mẹ tôi cố chạy chọt xoay xở dẫn tôi sang Pháp.

          Chúng tôi cứ ngỡ cuộc đời của Bác được lật sang một trang mới khi Bác được về lại quê cha. Là con trai của một liệt sĩ. Chắc Bác được nhiều ưu đãi lắm và sẽ được hạnh phúc hơn. Nhưng cuộc đời của Bác vẫn còn lắm truân chuyên.

          Về Pháp một thời gian sau, người mẹ lại ngã bệnh rồi chết, Bác phải về ở nhờ người chú ruột. Tự nhiên bị tròng vào cổ một gánh nặng trời ơi đất hỡi, ông chú không vui và trút hết những bực tức của mình lên đầu thằng cháu nhỏ vô tội.

 Nguyen Hanh _duc quoc (2)

          Thế là, chưa đầy mười tám tuổi, không nghề nghiệp, không tiền bạc, Bác vẫn quyết chí ra khỏi nhà, tìm đường tự lực cánh sinh.

-         Tôi làm đủ thứ lặt vặt để kiếm sống, sau đó học nghề chụp ảnh và khá thành công. Tôi sống dư giả, mua được một căn nhà nhỏ xinh xắn sau bao năm đi làm dành dụm. Cuối cùng cưới được một cô đầm xinh xắn.

          Chúng tôi tươi hẳn nét mặt, toan mở lời chúc mừng thì Bác lại tiếp tục kể lể:

-         Một thời gian sau, vợ tôi theo thằng bạn thân của tôi cũng người Tàu lai. Tôi bỏ nhà bỏ cửa cho hết vợ tôi và người tình của Bà. Tôi đi lang thang! Cuối cùng bỏ xứ theo một người bạn sang Đức đi làm và ở lại cho đến bây giờ.

          Chúng tôi ngậm ngùi nhìn bác Victor. Khuôn mặt Bác vẫn hồn nhiên, không lộ vẻ gì hối tiếc hay oán trách người, trách đời trong cái quá khứ đầy đen tối và bất hạnh đã qua. Thật là một người đàn ông hiền lương hiếm có trên đời.

          Thế là trong những ngày chúng tôi họp mặt, chúng tôi hay mời Bác sang ăn cơm chung cho vui để Bác được tận hưởng và sống lại không khí gia đình mà Bác đã mất từ lâu.

          Tất cả chúng tôi đều có cảm tưởng như có bổn phận phải làm tất cả những gì tốt đẹp nhất có thể làm được để bù đắp lại những mất mát to lớn mà bác Victor vô tội phải gánh chịu.

          Là những Phật tử thuần thành, thường nghe kinh, nghe Pháp nhiều, tâm hồn dần dần trở nên rộng mở, chúng tôi không cho rằng nỗi đau khổ chính mình là to lớn, còn của người khác chẳng là gì, mà phải biết chia sẻ niềm đau của mọi người!

          Rời khỏi chế độ Cộng Sản vô nhân, chúng tôi may mắn được sống trong một đất nước thanh bình, một Âu Châu bình yên đầy lòng vị tha và nhân bản.     Mỗi lần, sau những buổi niệm kinh, chúng tôi thường cầu xin cho chúng sanh được an vui hạnh phúc, trong đó dĩ nhiên có  cả bác Victor tội nghiệp, người lữ khách cô độc trên "con thuyền viễn  xứ" mà chúng tôi tình cờ gặp gỡ trong chuyến viễn du đầy kỷ niệm của cuộc đời.

          Một lần nữa xin cám ơn bác Victor đã cho chúng tôi nhận thức thêm một bài học sống động về lẽ vô thường!

 

 

 

                                                        Nguyên Hạnh HTD.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 822)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 938)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2191)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1428)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1867)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1326)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1883)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3707)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4848)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4613)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S