Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.

04/03/201101:20(Xem: 9982)
Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.


Han Son Thap Dac

Câu chuyện thuở xưa của
Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.


HT. Thích Huyền Tôn dịch

Ngài Hàn-Sơn : Trong thế gian mà bị người phỉ báng, khi dễ , nhục mạ, cười chê, khinh khi , chà đạp,  ghen ghét , đè bẹp, đố kị ta. Như thế, ta phải xử trị cách nào ?

Ngài Thập-Đắc trả lời : Thản nhiên vì họ mà nhẫn, mà nhường,  mà cung kính, là trọng tự do của họ,  mà tránh đi, cuối cùng đừng để ý tới họ nữa. Chờ vài năm sau sẽ gặp họ.

Hàn-Sơn lại hỏi : Họ vẫn giữ quyết liệt như vậy ! Có thể trốn núp được chăng ?

Ngài Thập-Đắc nói : " Tôi đã từng thuộc Bài Kệ của Bồ-Tát Di-Lặc. Bạn lắng nghe ! Tôi vì Bạn mà niệm bài kệ :


  Hán ngữ    

Việt ngữ

Lão chuyết xuyên nạp áo

Lão mặc chiếc áo nạp.

Đạm phạn phúc trung bảo

 Cơm lạt một bụng no,

Bổ phá hảo giá hàn

 Áo rách che giá lạnh,

Vạn sự tùy duyên liễu

 Muôn việc tự theo duyên.

Hữu nhơn mạ lão chuyết

Có người mắng đuổi lão,

Lão chuyết chỉ thuyết "Hảo"

 Chạy ù lão nói "Tốt",

Hữu nhơn đả lão chuyết

 Có người ví đánh lão,

Lão chuyết tự thùy đảo

Lão té, ngủ giấc dài.

Thế thóa tại diện thượng

 Chê bai khạt trước mặt,

Tùy tha tự càn liễu

Cứ để tự nó khô,

Ngã dã tỉnh lực khí

 Ta đầy đủ năng lực,

Tha nhơn vô não phiền

 Người khác không não phiền,

Giá dạng Ba-La-Mật

 Đó là đến-Bờ-Giác,

Tiện thị diệu trung bảo

 Của báu trong nhiệm mầu,

Nhược tri giá tiêu tức

Nếu biết tiêu tức nầy,

Hà sầu đạo bất liễu

 Buồn chi đạo lâu mau.

Nhơn nhược tâm bất nhược

 Người yếu, tâm không yếu,

Nhơn bần đạo bất bần

 Người nghèo, đạo chẳng nghèo,

Nhất tâm yếu tu hành

 Một lòng gắng tu hành,

Thường tại đạo trung biện

 Thường xử theo trung đạo,

Thế nhơn ái vinh hoa

 Người đời chuộng vinh hoa,

Ngã khước bất đãi kiến

 Ta bỏ, không chờ nó,

Danh lợi, tổng thị không

 Lợi danh đều là không.

Ngã tâm vô yểm túc

 Tâm ta không chán, thích

Đôi kim tích như sơn

 Vàng khối chất như núi,

Nan mãi vô thường hận

Chẳng đổi được vô-thường.

Tử-Cống, tha năng ngôn

 Tử-cống ông ấy nói,

Châu-Công hữu thần toán

 Châu-Công giỏi thần toán,

Khổng-Minh đại-trí mưu

 Khổng-Minh trí mưu lớn,

Phàn Khoái cứu chủ nan

Phàn-Khoái cứu chủ khó,

Hàn-Tín công lao đại

 Hàn-Tín công lao to,

Lâm tử chỉ nhút kiếm

 Chỉ một kiếm là chết,

Cổ kim đa thiểu nhơn

 Xưa nay bao nhiêu người,

Na cá hoạt kỷ thiên

 Mấy ai sống ngàn tuổi,

Giá cá trình anh hùng

 Ai đã làm anh hùng,

Giá cá tố hảo hớn

Ai đã làm hảo hớn,

Khán khán lưỡng tẫn bạch

Cứ xem tóc râu trắng,

Niên niên dung nhan biến

 Hằng năm dung mạo đổi,

Nhựt nguyệt xuyên thoan chức

 Ngày tháng đi như thoi,

Quan âm như tạ tiễn

Sáng tối dường tên bắn,

Bất cửu bịnh lai xăm

 Chốc chốc bịnh lại đến,

Đê đầu ám ta thán

Cúi đầu thầm than thở,

Tự tưởng niên thiếu thời

 Những tưởng trẻ trung hoài,

Bất bả tu hành biện

 Khi khỏe chẳng chịu tu,

Đắt bịnh tưởng hồi đầu

 Bịnh rồi quay lai tiếc,

Diêm vương vô chuyển hạn

 Diêm vương không đợi chờ,

Tam thốn khí đoạn liễu

 Thở ra, không trở lại, !

Nã chỉ na cá biện

 Đã cùng đường giải quyết.

Dã bất luận thị phi

Phải quấy cũng hết rồi,

Giả bất bả gia biện

Việc nhà đành buông trôi,

Giả bất tranh nhơn ngã

 Chẳng còn đua nhân ngã,

Giả bất tố hảo hớn

Chẳng thèm làm hảo hớn,

Mạ trước giả bất ngôn

 Bị mắng vẫn nín thinh,

Vấn trước như á hớn

 Ai hỏi, như câm điếc,

Đã trước giả bất lý

 Ai đánh cũng mặc kệ,

Suy trước hổn thân chuyển

 Thân về chốn minh mông,

Giả bất phạ nhơn tiếu

 Sợ chi ai đàm tiếu,

Giả bất tố kiểm diện

 Đâu còn cơn mặt đỏ,

Nhi nữ khốc đề đề

 Con cái khóc hu hu,

Tái giả bất đắt kiến

 Mắt đó, đâu nhìn thấy,

Hiếu cá tranh lợi danh

 Những lợi danh giành được,

Tu bả hoang dã bạn

 Là bạn với đồng hoang,

Ngã khán thế thượng nhơn

 Ta xem người nhân thế,

Đô thị tinh chỉ đạm

 Đều như giọt sương rơi,

Khuyến quân tức hồi đầu

Mong ai bừng tỉnh lại,

Đơn bả tu hành cáng

 Giử lấy đạo tu hành,

Tố cá đại trượng phu

 Xứng đáng bậc trượng phu,

Nhứt đao triệt lưỡng đoạn

 Đao tuệ chém lợi danh,

Khiêu xuất hồng hỏa khanh

 Vượt khỏi hầm lửa đỏ,

Tố cá thanh lương hớn

 Làm con người trong sạch,

Ngộ đắt trường sanh lý

Ngộ lý lẽ chơn thường,

Nhật nguyệt vi lân lữ

 Nhật nguyệt là bạn hữu.

 


Mùa Vu-Lan 2.544. Việt-Lịch 4.879 Canh-Thìn.

                                          

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 636)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 850)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2004)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1324)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1694)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1235)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1843)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3435)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4661)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4364)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S