Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Kinh Bát Ðại Nhân Giác - HT Nhất Hạnh Việt dịch

24/03/201109:49(Xem: 1641)
Kinh Bát Ðại Nhân Giác - HT Nhất Hạnh Việt dịch

KINHTÁMĐIỀU GIÁC NGỘ của BẬC ĐẠI NHÂN
(KINHBÁTĐẠI NHÂN GIÁC)
HoàThượngThích Nhất Hạnh

Giớithiệu:
KinhBát Ðại Nhân Giác do ngài An Thế Cao dịch từ chữ Phạnsang chữ Hán, vào thời Hậu Hán đời vua Hán Hoàn Ðế, niênhiệu Kiến Hòa năm thứ 2 (148 CN). Ngài là Thái tử xứ AnTức (Parthie), nay một phần thuộc Ba Tư (Persia, Iran) một phầnthuộc A Phú Hãn (Afghanistan). Lúc bấy giờ Ðạo Phật từẤn Ðộ truyền sang rất thịnh hành trong vùng đó. Ngài xuấtgia tu học, tinh thông kinh điển. Sau đó, ngài đi Trung Hoa hoằnghóa Phật Pháp và dịch quyển kinh nầy sang chữ Hán. Ðâylà bài kinh số 779 trong Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh (HánTạng).

Dướiđâylà bản dịch và chú giải của HT Thích Nhất Hạnh

Làđệ tử Phật thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọctụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đãgiác ngộ.

ThứNhấtlà giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, chếđộ chính trị nào cũng dễ xụp đổ, những cấu tạo củabốn đại [1] đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ,con người do tập hợp của năm ấm [2] mà có, lại không cóthực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và khôngcó thực quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là nguồn suốiphát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ củatội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát đượccõi sinh tử.

ThứHailà giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càngnhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tửđều do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thìkhông bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâmmình được thư thái.

ThứBalà giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danhlợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi cũng theo đómà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ Tát [3] thì khác hẳn:họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống vớiđạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất củamình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ.

ThứTưlà giác ngộ rằng tính lười biếng đưa đến chỗđọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo,phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, và ra khỏi ngụctù của năm ấm và ba giới [4].

ThứNămlà giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giamhãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thì thường xuyên nhớrằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạtđược biện tài để giáo hoá cho mọi người, để cho tấtcả đạt tới niềm vui lớn.

ThứSáulà giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta sinhra nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm nhữngnhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên tu phépbố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua nhữngđiều ác mà người khác đã làm đối với mình và khôngđem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác.

ThứBảylà giác ngộ rằng năm thứ dục vọng [5] đã gâynên tội lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy là ngườisống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục,thường quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếcáo cà sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí,rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch đểhành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ biđể tiếp xử với tất cả mọi người.

ThứTámlà giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nênmọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậycho nên ta phải phát tâm Ðại Thừa, nguyện cứu tế cho tấtcả mọi người, nguyện thay thế cho mọi người mà chịukhổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạttới niềm vui cứu cánh.

Támđiều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đạinhân, Phật và Bồ Tát; những vị này đang tinh tiến hànhđạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thânđến được Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độthoát cho chúng sinh, họ đều dùng tám điều giác ngộ ấyđể khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến chúngsanh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏđược ngũ dục và hướng tâm vào con đường thánh .

Nếuđệ tử Phật mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗikhi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giácngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử,thường trú trong sự an lạc.

Bảndịch và Chú thích của HT. Thích Nhất Hạnh:
(Trích:"Nghi Thức Tụng Niệm", NXB Lá Bối, California, 1989)

ChúThích :

BốnÐại là bốn nguyên tố hay là bốn chất cấu thành vũ trụ.Bốn đại gồm có: Ðịa đại, Thủy đại, Hỏa đại, vàPhong đại.

Nămấm là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sắc là thân thểcó hình có sắc. Thọ là cảm thọ vui buồn. Tưởng là trigiác bằng hình ảnh tưởng tượng lại. Hành là dụng tâmlàm việc này hay việc khác. Thức là phân biệt, hay biết.Năm ấm cũng còn gọi là năm uẩn.

BồTát là dịch âm từ chữ Phạn, dịch âm đầy đủ là Bồđề tát đỏa, có nghĩa là giác hữu tình Bồ Tát là người,sau khi tin Phật, học Phật, phát nguyện tự độ, độ tha,thậm chí hy sinh cả bản thân mình để cứu giúp người.Muốn làm Bồ Tát trước hết phải có tâm nguyện lớn, chủyếu là bốn lời nguyện:"Chúng sinh vô biên thề nguyện độ,phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lương thệnguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành". Mọingười từ khi phát tâm cho đến khi thành Phật được gọilà Bồ Tát, vì vậy mà có phân ra Bồ Tát phàm phu và BồTát hiền thánh. Các vị Bồ Tát được nói tới trong cáckinh Phật thường là các vị Bồ Tát hiền thánh.

Bagiới là dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, là ba cõisống của chúng sinh: Loài người thuộc về dục giới, cõisống của chúng sinh còn có lòng tham dục. Sắc giới là cõisống của loài Trời. Ở cõi Trời sắc giới này, chúng sinhđã thoát khỏi mọi lòng dục, nhưng vẫn còn sắc thân. Vôsắc giới là cõi gồm những chúng sinh, không những khôngcòn có lòng dục mà cũng không còn có sắc thân nữa, chỉcòn có tinh thần thuần tuý mà thôi.

Nămthứ dục vọng là năm thứ ham muốn: sắc, thanh, hương,vị, và xúc.

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn