69. Kinh Gulisàni

19/05/202010:32(Xem: 15928)
69. Kinh Gulisàni

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH (NIKÀYA)
Thi Hóa
TRUNG BỘ KINH

( Majhima  Nikàya )


Tập II
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU
Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

Chuyển thể Thơ :

Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG  tự TUỆ NGHIÊM

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : [email protected]



69. Kinh GULISÀNI
( Gulisàni  sutta )
 
Như vậy, tôi nghe :
 
          Một thời, Đức Thế Tôn Giác Giả
          Trú Vương Xá – Rá-Chá-Ga-Ha  (1)
              Trúc Lâm – Vê-Lú-Va-Na  (1)
     ( Được dâng cúng bởi Tần-Bà-Sa-La )   
          Ka-Lanh-Đa-Ka-Ni-Va-Pá  (1)
       ( Chỗ vốn đã nuôi sóc thường kỳ ).
 
              Lúc ấy, Gu-Lí-Sa-Ni  (2)
       Là một Phích-Khú (3) tu trì tại nơi
          Vùng rừng núi, tánh thời lỗ mãng
          Hảnh động dạng thô tháo, lỗi lầm,
    Đến gặp Tăng Chúng Trúc Lâm.
 
       Tại đây, Tôn-giả thâm trầm uy nghi
          Xá-Lợi-Phất – nhân vì vị ấy
          Đã khuyên dạy Tăng Chúng nơi đây :
 
        – “ Chư Hiền ! Vị Tỷ Kheo này
       Sống quen rừng núi, nhưng nay trú cùng
          Với Chúng Tăng – phải dùng pháp kính
          Phải tôn trọng, cung kính tỏ bày
    Với đồng-Phạm-hạnh các ngài.
 
       Nếu Tỷ Kheo nọ sống ngay núi rừng
          Đến giữa Tăng, không từng trọng thị,
          Không cung kính các vị đáng tôn
     ___________________________
 
( ) : Xem chú thích ở Kinh số 58 : Vương Tử Vô Úy , trang 92 .
(2) : Tỷ Kheo tên Gulisàni .
(3) : Bhikkhu  – Tỳ-Khưu hay Tỷ Kheo .
Trung Bộ  (Tập 2 )   Kinh 69 :   GULISÀNI            *   MLH –  448
 
             Thời có người sẽ nói dồn :
    “ Tốt lành gì với vị Tôn-giả này !
          Quen sống ở rừng dày núi thẳm
          Sống một mình với lắm tật riêng,
              Làm theo sở thích, chẳng kiêng
       Chẳng biết cung kính, mối giềng tôn ty
          Với các vì là đồng-phạm-hạnh ”. 
 
          Nếu Tỷ Kheo sống lánh núi rừng,
              Đến giữa Tăng để trú cùng,
       Phải biết cung kính, phục tùng Chúng Tăng.
          Tỷ Kheo hằng sống nơi rừng rú
          Nay đến trú giữa Chúng Tăng, thời
              Phải khéo léo về chỗ ngồi.
       Nghĩ rằng : ‘Ta sẽ không ngồi trái ngang
          Để chiếm chỗ các hàng Thượng Tọa,
          Không chiếm cả chỗ niên-thiếu Tăng’.
 
              Sơn Tăng đến trú giữa Tăng  
       Nếu mà không khéo xử phân chỗ ngồi
          Thì sẽ có những lời chỉ trích :
       “ Chỉ làm theo sở thích của mình,
              Không biết ‘như pháp’ thực hành ”.
       Do vậy, vị sống rừng xanh xa vời
          Về chỗ ngồi phải biết khéo xử
Khi đến trú giữa Chúng Tăng đây.
 
              Chư Hiền ! Vị sơn tăng này
       Đến trú giữa Chúng Tăng đầy Luật nghiêm :
      –  Không nên tìm vào làng sớm quá,
       Và trở về khi đã xế trưa.
          –  Không biết gia chủ ăn chưa
       Không nên đến lúc họ vừa mới ăn,
Trung Bộ  (Tập 2 )   Kinh 69 :   GULISÀNI            *   MLH –  449
 
   Hay trước lúc bữa ăn của họ,
          Vì sẽ có chỉ trích không chừng :
             ‘Vị này quen sống núi rừng,
       Thời giờ phí phạm, không ngừng đi rong’. 
 
          Vị Tỷ Kheo sống nơi rừng rú
          Nay đến trú giữa Chúng Tăng, thời :
          –  Không nói tạp nhạp, nhiều lời.
 
   –  Là người thiện-hữu, là người dễ nghe
        ( Người dễ bảo và nghe lời thiện,
          Sống hòa hợp, thuộc diện bạn lành )
 
         –  Cần phải thủ hộ các căn,
 
   –  Tiết độ trong sự uống ăn của mình,
 
      –  Cần giữ gìn, chú tâm cảnh giác.
 
      –  Phải tinh tấn, không nhác lười thây,
 
         –  Chánh niệm tỉnh giác đêm ngày,
 
   –  Phải có Thiền định sâu dày công phu.
 
      –  Phải siêng tu, phải có trí tuệ.
      –  Pháp thực tế A-Phí-Đam-Ma  (1)
          ( Thắng Pháp Vi Diệu cũng là )
       Cùng A-Phi-Ví-Na-Da (2) hai điều,
          Là Thắng Luật - Phải đều thực tập.
     Để nếu gặp ai hỏi, trả lời.
 
          –  Tịch tịnh giải thoát pháp, thời
       Cần phải thực tập. Vượt rời khỏi xa
    Sắc pháp và các vô sắc pháp.
    Nếu ai hỏi sẽ đáp từng phần. 
    _________________________
 
  ( ) : Abhidhamma  – Vi Diệu Pháp hay Thắng Pháp . 
  (2) : Abhivinaya  – Thắng Luật  .
Trung Bộ  (Tập 2 )   Kinh 69 :   GULISÀNI            *   MLH –  450
 
          –  Phải thực tập các pháp cần
       Tịch tịnh giải thoát chánh chân, đó là
          Sanh-Ta-Vi-Mô-Kha (1) thiện pháp,
          Vượt Sắc & Vô-sắc-pháp các phần.
 
          –  Thực tập các pháp thượng nhân.
 
       Chư Hiền ! Phích-Khú cô thân độc hành,
          Sống tu hành núi non, rừng rú
          Đã đến trú giữa Chúng Tăng vầy,
              Khi được hỏi những pháp này
       Nếu không đáp được, có ngay phê bình :
       “ Tỷ Kheo này một mình đã sống 
          Chốn núi rừng, hành động buông lơi,
              Lại nói tạp nhạp, nhiều lời
       Là người ác-hữu, là người khó nghe,
          Cũng không hề các căn thủ hộ,
          Không tiết độ trong sự uống ăn,
              Chú tâm tỉnh giác không hằng,
       Không có tinh tấn, bản thân biếng lười,
          Không chánh niệm, không thời Thiền định,
          Không trí tuệ, tịch tịnh cũng xa.
              Thắng Pháp – A-Phí-Đam-Ma
       Và Thắng Luật, không trải qua thực hành.
          Giải thoát pháp an lành tịch tịnh (1)
          Vượt khỏi chính Sắc-pháp, cùng là
       Các vô-sắc-pháp lánh xa,
       Các thượng-nhân-pháp phải qua thực hành ”.
 
          Nghe Tôn-giả đành rành giảng giải,  
          Vị Tôn-giả Mốc-Gá-La-Na
     _______________________________
 
  (1) : Santavimokha – Pháp tịch tịnh giải thoát .
Trung Bộ  (Tập 2 )   Kinh 69 :   GULISÀNI            *   MLH –  451
 
              Hỏi ngài Sa-Ri-Pút-Ta :
 
 – “ Hiền-giả ! Các pháp vừa qua trình bày
          Cần phải chấp trì ngay, thực hiện
          Chỉ phương tiện cho các Tỷ Kheo
              Sống ở rừng núi đèo heo,
       Hay cho tất cả Tỷ Kheo sống gần
          Các thôn làng hay gần thành thị ? ”.
 
    – “ Này Hiền-giả ! Không chỉ dành riêng
              Các vị ở núi, lâm tuyền
       Cần chấp trì, thực tập chuyên chú đều,
          Mà cho cả Tỷ Kheo các vị
          Gần thôn làng, thành thị hành trì ”.
 
              Duyên do Gu-Lí-Sa-Ni   
       Ngài Xá-Lợi-Phất thuyết vi pháp này ./-
 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )
 
 
 
*  
*   *
 
 
( Chấm dứt  Kinh số 69  :  GULISÀNI   – GULISÀNI  Sutta )
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/05/2025(Xem: 6687)
Thơ mộng, uyên bác, thấu suốt Phật lý... Những dòng thơ của Thầy Tuệ Sỹ hiện lên trang giấy như các dãy núi nơi những đỉnh cao ẩn hiện mơ hồ giữa các vầng mây. Do vậy, dịch thơ Thầy Tuệ Sỹ qua tiếng Anh cũng là một công trình lớn, khi phải cân nhắc từng chữ một để giữ được cái thơ mộng, cái uyên bác, và cái nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường của một nhà sư thiên tài, độc đáo của dân tộc. Hai dịch giả Terry Lee và Phe X. Bạch đã làm được phần rất lớn trong việc giới thiệu thơ của Thầy Tuệ Sỹ cho các độc giả trong thế giới Anh ngữ.
22/05/2025(Xem: 5590)
Âm nhạc được xem là nghệ thuật giúp tỉnh thức ! Chỉ một lời nhắn nhủ đánh động tâm linh Mời ngâm nga hai lời nhạc khiến cảnh tỉnh mình (1) Trong hành trình tâm thức , thong thả nhìn vũ trụ, trò đời trưởng dưỡng
20/05/2025(Xem: 6318)
Hôm nay con vào nghe Thầy giảng về từ thiện Con vào chậm nửa tiếng anh Huệ Sơn hỏi Thầy Về từ thiện xã hội ban đầu phát tâm lành Nhưng sau sanh bất thiện xin Thầy giảng cho nghệ
17/05/2025(Xem: 5147)
Sống một kiếp người, bình an là được! Hai bánh, bốn bánh chạy được là được Tiền ít ,tiền nhiều sống được là được Người xấu, người đẹp dễ coi là được Người trẻ, ngườì già miễn khỏe là được Nhà giàu, nhà nghèo hòa thuận là được Ông xã về trễ miễn về là được Bà xã càu nhàu miễn thương là được
17/05/2025(Xem: 8683)
Trong 6 năm qua, từ năm 2019 đều đặn mỗi năm Viên Giác Tùng Thư và Báo Viên Giác có xuất bản một Đặc San Văn Hóa Phật Giáo. Và chính quý Ngài và quý thân hữu đã đóng góp những bài viết giá trị (xin xem 1 bản mẫu của năm 2024 đính kèm). Chúng con/ chúng tôi tiếp nối truyền thống đó nên viết Thư này kính mong quý Ngài tiếp tục gởi bài cho Đặc San 2025 (chi tiết xin xem Thư đính kèm). Đặc San năm nay mang chủ đề là "TÂM BÌNH - THẾ GIỚI BÌNH". ấn hành vào tháng 8 năm 2025 nhân dịp Chào mừng Đại lễ Vu Lan Phật lịch 2569.
16/05/2025(Xem: 3864)
Ngày xưa con bé mẹ bồng Bón cơm mớm sửa quạt nồng Mẹ chăm Bây giờ Mẹ tuổi gần trăm Thân vương bệnh yếu Mẹ nằm con lo Sớm trưa đều đặn thăm dò Cận kề bên cạnh nhỏ to lời lành Dâng Mẹ chay tịnh cơm canh Thuốc thang sửa uống để nhanh phục hồi Mỗi khi trời nóng bức oi Tay cầm quạt phẩy như thoi đưa đều Tạo nên thoáng mát hiu hiu Giúp Mẹ an giấc thiu thiu trưa hè Bài thơ dâng tặng, câu vè Nhờ người đọc để Mẹ nghe vui lòng Phận con chí hiếu rõ trông Khiến người ngưỡng mộ nhủ lòng noi gương.
15/05/2025(Xem: 5449)
Đừng định kiến vì không thể thích nghi với đời sống hiện đại ! Khi nhịp sống, công cụ , cách tiếp cận khác biệt xa Nào …qua YouTube cùng nghe pháp thoại miễn là Cần một thiết bị để nghe rõ, giữ gìn mãi trong tâm trí Đến từ bài giảng của bậc cao tăng truyền trao chân lý
14/05/2025(Xem: 7105)
Tháng tư ngập tràn nắng gió Cây cỏ xanh tươi Trời đất mười phương lộng lẫy Ba ngàn thế giới hoan ca
14/05/2025(Xem: 5720)
Mẹ bệnh nằm nhà thương Thầy tự tay săn sóc Dỗ Mẹ từng bữa ăn Cho Mẹ vui ngon miệng Mau khỏe khỏi bệnh căn Thầy cầm bàn tay Mẹ Truyền hơi ấm tình thương Của người con chí hiếu Tình Mẹ như ngàn phương Kính thương cầm tay Mẹ Thầy chăm sóc thương yêu Cắt móng tay Mẹ hiền Con thấy Mẹ bình yên Chúm chím Mẹ nhoẻn cười Con Mẹ liều thuốc tiên! Ngày xưa khi còn trẻ Mẹ lặn lội bờ sông Cho con nguồn hạnh phúc Mẹ phấn đấu nuôi con Chẳng quảng bao nhọc nhằn Giờ con Mẹ là Tăng Theo gót Đức Thế Tôn Luôn kính yêu Mẹ già Lòng Mẹ thật bao la Tình Thầy khắp gần xa Thương cho đời nhân thế Khổ đau kiếp con người Thầy giảng Tứ Diệu Đế Lòng Mẹ thật an vui. Thầy đọc cho Mẹ nghe Những câu vè Mẹ kế Ngày xưa nơi làng Mẹ Mẹ vui hồi tưởng lại Sửa cho Thầy từng câu Chỗ nào tên không đúng Thầy cười trông thật vui Khi thấy Mẹ minh mẫn Con xem hình ảnh ấy Cảm động sao cảm động Nước mắt bỗng dâng trào Bài pháp về lòng hiếu Từ Thầy con cảm nhận Nhân ngày Phật sơ sanh Con kính
13/05/2025(Xem: 8864)
Sự chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Sanskrit: Anuttara-samyak-sambodhi) là một thuật ngữ cao quí, giác ngộ hoàn toàn không sai lầm vượt qua mọi giới hạn loại bỏ hoàn toàn vô minh, thấu rõ trọn vẹn bản chất của vũ trụ và Phật đã nói ra giáo pháp, chỉ rõ con đường, phương pháp để hành giả chứng ngộ, an lạc, giải thoát. Giáo pháp đã được truyền thừa qua kinh điển mà thiền đường, tu viện…nơi các nhà sư giảng giải khơi thông những khúc mắc, hoài nghi, hướng cho phật tử đến tu tập ngày càng thấu rõ hơn. Ghi ơn sự truyền dạy ấy trong tập nầy tác giả phần lớn những bài thơ tán thán công đức chư vị giảng sư, trụ trì, hành giả … và hoạ lại những bài thơ của chư vị Tỳ Kheo, thi hữu.