64. Đại Kinh Malunkyà

19/05/202010:28(Xem: 16017)
64. Đại Kinh Malunkyà

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH (NIKÀYA)
Thi Hóa
TRUNG BỘ KINH

( Majhima  Nikàya )


Tập II
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU
Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

Chuyển thể Thơ :

Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG  tự TUỆ NGHIÊM

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : [email protected]



64. Đại Kinh MÀLUNKYÀ
( Mahà Màlunkyà sutta )
 
Như vậy, tôi nghe :
 
          Một thời, đức Thế Tôn Thiện Thệ 
          An trú tại Xá-Vệ thành này
              Sa-Vát-Thí  cũng là đây
       Chê-Ta-Va-Ná  hôm mai tịnh, hòa
          Còn có tên Chê-Ta-Va-Ná
          Khu vườn do Trưởng giả tên là
              A-Na-Thá-Pin-Đi-Ka
       Tức Cấp-Cô-Độc, thuần hòa tín gia
          Mua lại từ Kỳ Đà thái tử
          Để cúng dường Điều Ngự Thế Tôn
              Cùng với Tăng đoàn Sa-môn
       Có nơi hoằng hóa pháp môn nhiệm huyền.
          Lúc bấy giờ Phật liền cho gọi
          Chúng Tỷ Kheo câu hội đủ đều
              Phật gọi : “ Này các Tỷ Kheo ! ”
       Chúng Tăng cung kính vâng theo lời Ngài.
 
    T – “ Các Tỷ Kheo ! Lâu nay có giữ
Năm hạ phần kiết sử(1)  thọ trì
              Do Ta giảng dạy nhiều khi ?
 
       Được nghe hỏi vậy, một vì xuất gia
    ___________________________
 
    (1) :  Năm hạ phần  Kiết Sử :  
   a) Thân kiến ( Sakkàya-ditthi ).     b) Hoài nghi  ( Vicikicchà ).              
   c) Giới cấm thủ ( Sìlabata-pàràmàsa ) .           d) Tham Dục         
                           ( Kàma-ràga  ).  e) Sân hận ( Vyàpàda ) . 
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  376
 
          Tôn-giả Ma-Lun-Da-Pút-Tá
          Thưa Phật rằng con đã thọ trì.
 
        – “ Ma-Lun-Dá ! Về năm chi
       Hạ phần kiết sử thọ trì ra sao ? ”.
    – “ Bạch Thế Tôn ! Trước sau tín thọ
          Con hành trì theo đó năm điều
              Hạ phần kiết sử sớm chiều
       Thế Tôn đã dạy chúng nhiều hiểm nguy
          Là thân kiến, hoài nghi tích tụ
Giới cấm thủ, tham dụcsân ”.  
 
       – “ Ma-Lun-Dá ! Hãy tỏ phân
       Vì ai hay có nguyên nhân là gì
          Ông thọ trì năm phần kiết sử
          Đã do Ta tuần tự giảng ra ?
              Này Ma-Lun-Dá-Pút-Ta !
       Có phải ông đã trải qua có lần
          Bị đạo nhân ngoại đạo cật vấn
          Với thí dụ được dẫn ra đây
              Về đứa con nít thơ ngây
       Khi ngủ, đứa con nít đây làm bằng :
          Nó không có tự thân diễn biến
          Đâu có thể thân kiến khởi lên ?
              Nhưng mà thân kiến tùy-miên
       Thật sự trong nó sống riêng tiềm tàng.
          Nếu đứa bé khi đang nằm ngửa
          Không cất chứa các pháp nào, thì
              Từ đâu có thể khởi nghi ?
       Ẩn trong nó, tùy-miên nghi ngờ này.
          Nếu như đứa bé đây nằm ngửa
          Không có giới, thì đứa bé đây                
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  377
 
              Từ đâu có thể khởi ngay
Giới-cấm-thủ trong giới này. Tuy nhiên
          Giới-cấm-thủ tùy-miên vẫn có
 Sống tiềm tàng trong nó sâu xa.    
              Này Ma-Lun-Dá Pút-Ta !
       Nếu đứa con nít ê a đang nằm
          Không có những dục tham ; như thế
          Đâu có thể khởi dục tham lên,
              Nhưng lòng dục-tham tùy-miên
       Vẫn tiềm tàng sống sát liền nó thôi !
          Nếu đứa bé đang chơi, nằm đó
          Thì không có các loải hữu tình
              Từ đâu có thể phát sinh
       Lòng sân với các hữu tình gần xa,
          Sân tùy-miên thực ra vẫn có
 Sống tiềm tàng trong nó sâu xa.  
              Này Ma-Lun-Dá Pút-Ta !
       Có phải ông đã trải qua có lần
          Bị đạo nhân ngoại đạo cật vấn
          Với ví dụ được dẫn trên đây ? ”.
 
              Nghe Thế Tôn nói như vầy
       A-Nan Tôn-giả bạch ngay Phật Đà :
 
    – “ Bạch Thế Tôn ! Thật là viên mãn
          Đã đến thời, xin giảng pháp chân
              Về kiết sử năm hạ phần
       Sau khi nghe giảng, Chư Tăng thọ trì ”.
 
    – “ A-Nan-Đa ! Vậy thì nghe kỹ
          Khéo tác ý, Ta sẽ trình bày ”.
 
        – “ Bạch Phật ! Xin vâng lời Ngài ”.
A-Nan Tôn-giả đáp ngay lời Thầy.
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  378
 
          Đức Thế Tôn pháp này thuyết giảng
          Năm kiết sử  viên mãn, toàn chu :
 
        – “ A-Nan-Đa ! Kẻ phàm phu
       Ít nghe, không thấy phạm trù Thánh Nhân (1)
          Không thuần thục pháp phần bậc Thánh
          Không tu tập pháp Thánh chánh chân.
              Không được thấy các Chân Nhân  (1)
       Không thuần thục pháp Chân-nhân các phần,
          Không tu tập Chân-nhân các pháp
          Sống với tâm bị các trược phiền
              Bởi thân kiến ; chi phối liền
       Cũng bởi thân kiến, liên miên mọi thì
          Không như thật tuệ tri về chuyện
  Sự xuất ly thân kiến khởi lên.
              Thân kiến kiên cố vị trên
       Không được nhiếp phục, trở nên một phần
 Là hạ phần kiết sử : Thân kiến.
 
          Vị ấy hiện đang sống với tâm
              Bị nghi-hoặc triền phược thầm,
       Bị nghi-hoặc chi phối tâm mọi thì.
          Không như thật tuệ tri vững chắc
          Sự xuất ly nghi-hoặc khởi lên,
              Nghi-hoặc kiên cố vị trên
       Không được nhiếp phục, trở nên một phần
 Là hạ phần kiết sử : Nghi-hoặc.   
 
          Cũng như vậy, các mặt khác sinh :   
              Vị ấy sống với tâm mình
       Bị giới cấm thủ, tận tình dục tham ,
   _____________________________
 
   (1) :  Xem chú thích ở Kinh số 1 : “Pháp Môn Căn Bản”  .
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  379
 
          Bị sân làm đảo điên lạc lối,
Bị triền phược chi phối mọi thì.
              Y không như thật tuệ tri
       Để khởi lên sự xuất ly, bao hàm
          Giới cấm thủ, dục tham, sân nộ,
          Ba điều ấy kiên cố chẳng lay
              Và không được nhiếp phục ngay,
  Ba hạ phần kiết sử này xảy ra.
 
          A-Nan-Đa ! Vị Thánh đệ tử 
Đa văn, tự yết kiến Thánh nhân,
              Thuần thục pháp bậc Thánh nhân.
       Đến yết kiến bậc Chân nhân các ngài,
          Pháp các ngài Chân nhân tuân thủ
          Tu tập đủ pháp Thánh & Chân nhân.
              Sống với tâm không bị phần
       Thân kiến, nghi hoặc hay phần dục tham,
          Giới cấm thủ , sân… làm triền phược,
          Bị chi phối, nên được tuệ tri
              Như thật về sự xuất ly
       Hạ phần kiết sử năm chi khởi liền.
          Năm kiết sử tùy miên đoạn diệt  
    Khi vị ấy mãi miết tinh cần.
 
              A-Nan-Đa ! Phải hiểu rằng
       Đường nào khéo diệt năm phần trói trăn
          Năm hạ phần kiết sử như vậy ?
          Nếu không hành đường ấy cố cần,
              Nhưng năm kiết sử hạ phần
       Được biết, thấy rõ, hay năng đoạn trừ
          Sự tình như nói trên, không thể
    Không xảy ra bất kể thế nào.   
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  380
 
              A-Nan ! Ví dụ như sau :
       Với một cây lớn thẳng cao dãi dầu,
          Một người muốn đẽo vào trong lõi
          Không đẽo loại dần vỏ, giác cây,
      Không thể xảy ra việc này.
 
       Còn lộ trình dẫn thẳng ngay, đưa dần 
          Đến đoạn trừ năm phần kiết sử,
          Nếu thực sự đường ấy thực hành
              Thời năm kiết sử hạ phần
       Sẽ được biết, thấy rõ rành khoan thư,
          Hay sẽ được đoạn trừ, như vậy
    Sự tình ấy chắc chắn xảy ra.
 
              Cũng như, này A-Nan-Đa !    
       Với cây lớn ở rừng già thẳng cao
          Nếu người ấy đẽo vào lớp vỏ
          Rồi sau đó đẽo lớp giác cây
       Thời sẽ đẽo được lõi cây.
Chắc chắn có sự tình này xảy ra.
 
          A-Nan-Đa ! Ví như đề cập
          Bờ sông Hằng nước ngập đầy tràn
              Quạ trên bờ uống dễ dàng,
       Một người ốm yếu thuận đàng đến đây
          Y suy nghĩ : ‘Sông này rộng thật !
          Ta sẽ bơi ngang tắt sông Hằng
              Với tay, ta sẽ tự thân
       Lội qua an ổn sang phần bờ bên’.
          Nhưng người trên không thể bơi được
          Ngang dòng nước rộng lớn sông Hằng.
              Cũng như vậy, này A-Nan !
       Bất cứ ai chưa sẵn sàng tâm tư
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  381
 
          Được giảng pháp đoạn trừ thân kiến
          Nếu tâm hiện không thích thú gì
              Không vui, không định tĩnh chi
       Không có giải thoát ; vậy thì cần xem
          Người ấy đem so người ốm yếu
 Không tự hiểu sức mình khó bơi.
 
              Ví dụ khác, có một người
       Là lực sĩ muốn qua nơi sông Hằng
          Y nghĩ rằng : ‘Ta sẽ bơi lội
          Ngang sông Hằng qua tới bờ bên
              Một cách an toàn, tự nhiên’.
       Người ấy quả thật làm liền điều đây.
          A-Nan ! Bất cứ ai thực hiện
          Giảng pháp để thân kiến đoạn trừ,
              Nếu tâm vị ấy khoan thư
       Thích thú, định tĩnh, an như, dễ dàng,
          Có giải thoát, hân hoan như vậy
     Thời vị ấy sánh lực sĩ này.
 
              A-Nan ! Thế nào ở đây
       Là con đường đưa đến ngay chẳng lầm
          Đoạn trừ năm hạ phần kiết sử ?
          A-Nan ! Tự Tỷ Kheo lánh xa
              U-Pa-Đi-Vi-Vê-Ka
     ( Các sanh y ). Cũng trải qua diệt trừ
          Bất thiện pháp do từ ý định
          Làm an tịnh thân thô ác đây
             Một cách toàn diện, hành ngay
       Ly bất thiện pháp, ly rày dục tham,
          Chứng, trú tâm vào Thiền thứ Nhất
          Trạng thái rất hỷ lạc âm thầm   
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  382
 
              Ly dục sanh & có tứ, tầm,
       Chánh quán Sắc pháp mọi phần trải qua,
          Thọ, Tưởng, Hành cùng là Thức pháp
          Đều vô thường, khổ khắc lênh đênh
              Như bệnh, cục bướu, mũi tên,
       Như điều bất hạnh, như bên địch thù,
          Như bệnh chết hoặc như phá hoại,
          Là ‘không’, lại ‘vô ngã’ như vầy.
 
              Vị này giải thoát tâm ngay
       Khỏi các pháp ấy. Rồi nay tinh cần
          Tập trung tâm vào bất-tử-giới :
         ‘Tịch tịnh với vi diệu là đây,
              An chỉ tất cả hành này
     Sanh y tất cả từ rày xả ly.
          Sự ái diệt mọi thì, đoạn diệt,
          Sự vô tham, tịnh khiết, Niết-bàn’.
 
              Nếu đạt vững chắc trú an
       Vị này đạt đến dễ dàng mục tiêu
  Sự đoạn tận các điều lậu-hoặc.
          Nếu không diệt lậu-hoặc vô minh
              Thời do Tham pháp linh tinh
       Và do Hỷ pháp của mình là nhân.
          Do đoạn tận năm phần kiết sử 
          Vị ấy tự hóa sanh, Niết-bàn,
     Đời này không trở lui sang.
       A-Nan ! Đây chính con đàng chân như
          Đưa đến sự đoạn trừ tuần tự
   Năm hạ phần kiết sử trải qua.
 
              Lại nữa, này A-Nan-Đa ! 
       Vị Tỷ Kheo diệt tầm và tứ đây
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  383
 
          Chứng, trú ngay Nhị Thiền tự tại
          Một trạng thái hỷ lạc, định sanh
              Ly hỷ trú xả, nhất tâm
       Chánh niệm tỉnh giác, thì thân cảm liền
          Sự lạc thọ, thánh hiền gọi đủ
          Là ‘xả niệm lạc trú’ tâm chuyên
      Chứng và an trú Tam Thiền.
       Như vậy vị ấy an nhiên chứng liền
 Vào Sơ, Nhị, Tam Thiền các mục.
          Vị hành giả tiếp tục định thiền
             Xả lạc, xả khổ ; tâm yên
       Diệt hỷ, ưu, cảm thọ – liền trước đây
          Chứng và trú vào Thiền Đệ Tứ
          Không khổ, lạc ; không giữ niệm nào.
 
             A-Nan ! Tỷ Kheo thanh cao
       Vượt mọi Sắc tưởng cho dầu bao nhiêu,
          Chướng-ngại-tưởng mọi điều diệt kỹ
          Không tác ý với dị-tưởng liền,
              Nghĩ : ‘Hư không là vô biên’
       Chứng, trú Hư Không Vô Biên Xứ này.
 
          Rồi vượt ngay Không Vô Biên Xứ
          Suy nghĩ sự ‘Thức là vô biên’
     Chứng, trú Xứ Thức Vô Biên.
 
       Vượt lên mọi Thức vô biên Xứ này,
          Nghĩ như vầy : ‘Không có gì cả’
          Chứng, trú Vô Sở Hữu Xứ ngay.
 
              Tư duy vị Tỷ Kheo này
       Chánh quán Sắc pháp mọi phần trải qua,
          Thọ, Tưởng, Hành cùng là Thức pháp
          Đều vô thường, khổ khắc lênh đênh
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  384
 
              Như bệnh, cục bướu, mũi tên,
       Như điều bất hạnh, như bên địch thù,
          Như bệnh chết hoặc như phá hoại,
          Là ‘không’, lại ‘vô ngã’ như vầy.
 
              Vị này giải thoát tâm ngay
       Khỏi các pháp ấy. Rồi nay tinh cần
          Tập trung tâm vào bất-tử-giới :
         ‘Tịch tịnh với vi diệu là đây,
              An chỉ tất cả hành này
     Sanh y tất cả từ rày xả ly.
          Sự ái diệt mọi thì, đoạn diệt,
          Sự vô tham, tịnh khiết, Niết-bàn’.
 
              Nếu đạt vững chắc trú an
       Vị này đạt đến dễ dàng mục tiêu
  Sự đoạn tận các điều lậu-hoặc.
          Nếu không diệt lậu-hoặc vô minh
              Thời do Tham pháp linh tinh
       Và do Hỷ pháp của mình là nhân.
          Do đoạn tận năm phần kiết sử 
          Vị ấy tự hóa sanh, Niết-bàn,
     Đời này không trở lui sang.
       A-Nan ! Đây chính con đàng chân như
          Đưa đến sự đoạn trừ tuần tự
   Năm hạ phần kiết sử trải qua ”.
 
        – “ Bạch Thế Tôn ! Nếu đây là  
       Con đường đưa đến diệt mà tuyệt căn
          Tất cả năm hạ phần kiết sử
          Thời như vậy, do sự hành trì
               Một số Tỷ Kheo các vì                    
       Tâm-giải-thoát họ tức thì chứng ngay ?       
Trung Bộ (Tập 2) Đại Kinh 64 :   MALUNKYA     * MLH –  385
 
          Hay chứng ngay vào Tuệ-giải-thoát ? ”.
 
    – “ A-Nan ! Do sai khác nhằm vào
              Do căn tánh họ khác nhau
     ( Sự chứng giải thoát không sao tương đồng ) ”.
          Được nghe từ Thế Tôn Điều Ngự       
          Năm hạ phần kiết sử giảng ra
              A-Nan cùng khắp Tăng-Già
       Hoan hỷ tín thọ Phật Đà kim ngôn ./-
 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )
 
*   *   *
 
(  Chấm dứt  Kinh số 64  :  Đại Kinh  MÀLUNKYÀ
–  MAHÀ MÀLUNKYA   Sutta  )
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2091)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1965)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1670)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1617)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2127)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1623)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1287)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1555)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1821)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2425)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!