17. Kinh Khu Rừng

18/05/202019:54(Xem: 20827)
17. Kinh Khu Rừng

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH (NIKÀYA)
Thi Hóa
TRUNG BỘ KINH

( Majjhima  Nikàya )


Tập I
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU
Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

Chuyển thể Thơ :

Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG  tự TUỆ NGHIÊM

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : [email protected]



17. Kinh KHU RỪNG

( Vanapattha sutta )

 

Như vậy, tôi nghe :

 

          Một thời, Đức Thế Tôn an trụ

          Kỳ Viên Tự  – Chê-Tá-Va-Na

              Do Cấp-Cô-Độc tín-gia

A-Na-Thá-Pin-Đi-Ka – cúng dường 

          Tại đây, Đấng Pháp Vương liền gọi :

    – “ Chư Tỷ Kheo ! Ta nói pháp này

              Hãy nghe, suy nghiệm kỹ rày

       Về ‘Khu Rừng’, pháp Ta nay trình bày ”.

          Các Tỷ Kheo nơi đây vâng đáp

          Rồi lắng nghe thời pháp của Ngài.

 

        – “ Này chư Tỷ Kheo ! Ởđây      

       Tỷ Kheo nào sống ở ngay khu rừng

          Các niệm nào chưa từng an trú

Đã không được an trú tức thì

              Tâm tư chưa định tĩnh gì

       Không được định tĩnh mọi thì bình an

          Các lậu hoặc chưa hoàn toàn dứt

          Không hoàn toàn được dứt trừ nhanh

              Vô thượng an ổn tịnh thanh

       Khỏi các ác phược chẳng lành đáng chê

          Chưa chứng đạt, không hề chứng đạt

          Những vật dụng này, khác rất cần

              Cho người xuất gia, độc thân

       Phải sắm đầy đủ tự thân bốn phần :

          Thuốc trị bệnh, thức ăn khất thực,

Trung Bộ (Tập 1)  Kinh 17 :  KHU RỪNG          *  MLH  – 250

 

          Cùng sàng tọa, y phục của Tăng

              Các vật dụng kiếm khó khăn

       Vị Tỷ Kheo ấy phải cần nghĩ suy :

         ‘Khu rừng này mọi thì khó sống

          Khi ta sống đây chẳng dễ dàng

              Các niệm chưa được trú an

       Không được an trú hoàn toàn trong ta

          Tâm tư ta vốn chưa định tĩnh     

          Vẫn không được định tĩnh an hòa

              Rồi các lậu-hoặc của ta

       Chưa hoàn toàn diệt, vẫn là còn nguyên

          Chưa chứng đạt hiện tiền vô thượng

          Khỏi ác phược các chướng chưa thành

              Không được chứng đạt, hoàn thành

       Về tứ-vật-dụng rất cần cho ta

          Khó kiếm được nếu ta vẫn sống

          Tại khu rừng sâu rộng như vầy’.

              Này Tăng Chúng ! Tỷ Kheo này

       Phải từ bỏ khu rừng ngay tức thì

          Không ở lại làm gì rừng đó

          Dù ban đêm hay ở ban ngày.

 

          *  Mặt khác, vị Tỷ Kheo này

       Sống ở một khu rừng dày vắng teo

          Vị Tỷ Kheo sống nơi rừng ấy

          Tự cảm thấy niệm chưa trú an

              Thì niệm không được trú an

       Tâm chưa định tĩnh, không màng tĩnh an

          Các lậu hoặc chưa hoàn toàn dứt

          Không hoàn toàn được dứt trừ nhanh

              Vô thượng an ổn tịnh thanh

Trung Bộ (Tập 1)  Kinh 17 :  KHU RỪNG          *  MLH  – 251

 

       Khỏi các ác phược chẳng lành đáng chê

          Chưa chứng đạt, không hề chứng đạt

          Những vật dụng này, khác rất cần

              Cho người xuất gia, độc thân

       Phải sắm đầy đủ tự thân bốn phần :

          Thuốc trị bệnh, thức ăn khất thực

          Cùng sàng tọa, y phục của Tăng

              Vật dụng kiếm không khó khăn

      (Vì có làng xóm khá gần rừng đây)

          Tỷ Kheo này phải cần suy nghĩ :

 ‘Ta sở dĩ sống ở rừng này

              Không vì vật-dụng hằng ngày

       Y phục, vật thực nơi đây dư dùng

          Thuốc trị bệnh tốt, cùng sàng tọa,

          Ta là một hành-giả tu thiền 

              Các niệm không được trú yên

       Không được định tĩnh, chướng duyên vẫn còn

          Các lậu-hoặc không hoàn toàn dứt

          An ổn, khỏi ách phược không thành

              Thì sự lợi dưỡng phát sanh

Ích gì cho sự tu hành của ta !’.

          Tỷ Kheo sau khi qua suy nghĩ

          Rốt cuộc chỉ chọn một con đường :

              Từ bỏ, không ở lại rừng.

 

   *  Này Tỷ Kheo Chúng ! Đã từng trải qua

          Vị Tỷ Kheo nào mà sống tại

          Một khu rừng nào đấy cưu mang

              Các niệm chưa được trú an

       Thì được an trú dễ dàng tại đây

          Tâm chưa định thì nay định tĩnh

Trung Bộ (Tập 1)  Kinh 17 :  KHU RỪNG          *  MLH  – 252

 

          Các lậu-hoặc mắc dính đoạn trừ

              Vô thượng an ổn như như

       Khỏi các ác phược, an từ chứng ngay

          Nhưng tại đây khó khăn vật thực,

          Thuốc trị bệnh, y phục khó khăn

              Sàng tọa ngủ nghỉ … các phần

       Nói chung tứ sự khó khăn, thiếu nhiều.

          Nhưng Tỷ Kheo đăm chiêu suy nghĩ :

         ‘Ta sống đây để chỉ tu hành

              Tuy tứ-vật-dụng phát sanh

       Thảy đều thiếu thốn sẵn dành cho ta

          Nhưng đường tu của ta chứng đạt

          Còn việc khác, lợi dưỡng không cần’,

              Tỷ Kheo suy tính, quyết rằng

       Phải nên ở lại tinh cần tịnh tu.  

 

      *  Còn Phích-Khu đã từng an trú

          Tại một nơi rừng rú, tu thiền

              Các niệm đã được trú yên

       Tâm tưđịnh tĩnh, an nhiên vô vàn

          Các lậu-hoặc hoàn toàn diệt được

          Khỏi ách phược, an ổn chứng rồi.

              Thuốc trị bệnh dễ kiếm thôi

       Thức ăn khất thực cũng dồi dào ra

          Y phục và sàng tòa đầy đủ

          Nói chung tứ-vật-dụng dễ dàng.

              Tỷ Kheo ấy cần nghĩ rằng :

      ‘Nơi đây đáp ứng điều hằng ước mong

          Bề tứ-sự thì không trở ngại

          Đường tu hành cũng lại hanh thông

              Chứng đạt được phần đợi trông’,

Trung Bộ (Tập 1)  Kinh 17 :  KHU RỪNG          *  MLH  – 253

 

       Vịấy cần phải sống trong khu rừng

          Đến trọn đời nếu từng phát nguyện

          Không thối chuyển rời bỏ rừng đây.

 

          *  Mặt khác, vị Tỷ Kheo này

       Sống tại làng mạc, sống ngay đô thành

          Tinh Xá nào hay quanh thị trấn

          Trong địa phận một quốc gia nào

              Sống gần vị thiện hữu nào

      (Một vị Sư trưởng hay vào bạn tu)       

      *  Trường hợp một, cho dù chuyên chú

          Các niệm không an trú, vọng tâm

              Tâm không định tĩnh, sóng ngầm

       Các lậu-hoặc không được thầm diệt đi

          Chưa chứng đạt những gì mong mỏi

          Về tứ sự các loại cần dùng :

              Vật thực, y phục, phụ tùng

       Thuốc men, sàng tọa – nói chung thiếu nhiều.

          Vị Tỷ Kheo trọng điều chứng đắc

          Suy tính thật chu đáo ngọn ngành

              Cần phải bỏ chốn này nhanh

       Không cần xin phép vị hành giả kia.

 

      *  Trường hợp hai, cùng chia gian khổ

          Sống cùng chỗ phạm hạnh đồng tu

              Tỷ Kheo dù cố công phu

       Nhưng các niệm vẫn mịt mù không an

          Tâm chưa định,hoàn toàn không định 

          Các lậu-hoặc mắc dính không trừ

              Không chứng đạt để an như

       Dù tứ-vật-dụng thường dư dả nhiều.

          Vị Tỷ Kheo trọng điều chứng đắc

Trung Bộ (Tập 1)  Kinh 17 :  KHU RỪNG          *  MLH  – 254

 

          Suy tính thật chu đáo ngọn ngành

              Cần phải bỏ chốn này nhanh

       Không cần xin phép vị hành giả kia.

 

      *  Trường hợp ba, không lìa phạm hạnh

          Cùng chung sống trong cảnh đạo tràng

              Tỷ Kheo các niệm trú an

       Tâm được định tĩnh hoàn toàn nghiêm trang

          Các lậu-hoặc hoàn toàn diệt được

          Khỏi ác phược chứng đạt chánh chân,

              Tứ-sự thì kiếm khó khăn

       Y phục, thuốc bệnh, thức ăn, sàng tòa.

          Nhưng Tỷ Kheo trải qua suy tính :

 ‘Vì mục đích giải thoát khổ này

              Dù tứ-vật-dụng nơi đây

       Khó kiếm, thiếu thốn hằng ngày cho ta,

          Nhưng phải ở lại mà hành đạo

          Phải theo sát vị giáo-thọ này’.

 

          *  Trường hợp thứ tưởđây

       Vị Tỷ Kheo ấy hằng ngày cùng tu

          Với vị thầy ôn nhu phạm hạnh

          Được thuận lợi trong cảnh đạo tràng

              Các niệm chưa được trú an

       Thì được an trú, tâm càng thảnh thơi

          Tâm chưa định nay thời định tĩnh

          Các lậu-hoặc mắc dính, đoạn trừ

              Khỏi các ác phược, an như

       Chứng đạt vô thượng do từđiều đây.

          Tứ-vật-dụng nơi này đầy đủ

          Do khất thực, thí chủ cúng dường,

              Tỷ Kheo ấy cần am tường

Trung Bộ (Tập 1)  Kinh 17 :  KHU RỪNG          *  MLH  – 255

 

       Những gì mình được, phải thường suy tư :

  ‘Vị giáo-thọ hiền từ bên cạnh

          Đồng phạm hạnh sách tấn cùng nhau

              Kết quả tu tập tiến mau

       Chứng đạt những pháp cao sâu mình cần

          Tứ-vật-dụng các phần đầy đủ

Đây là nơi an trú tốt thay !’,

              Này Tăng Chúng ! Tỷ Kheo này

       Cần phải theo sát vị thầy ởđây

          Suốt trọn đời, không thay đổi ý

          Không lìa bỏ, dù bị đuổi đi ”.       

 

              Nghe Phật thuyết giảng uy nghi

       Chư Tăng tín thọ, hành trì pháp siêu ./-

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  ( 3 L )

 

*

*    *

 

(  Chấm dứt  Kinh số 17 :  KHU RỪNG – 

VANAPATTHA Sutta  )

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/02/2026(Xem: 2862)
Hai không hai sáu đến rồi Hân hoan chào đón trên môi mỉm cười Dù trời mưa gió vẫn tươi Tâm yên cành tịnh tình người dễ thương Bao la ân nghĩa muôn phương Thiền môn luôn đẹp đồng hương thạnh hành Mây trôi chầm chậm hay nhanh Tuỳ duyên nhìn ngắm không sanh mong cầu
06/02/2026(Xem: 2174)
Nghêu ngao khúc hát mục đồng Thong dong bãi lục đất dồng dắt trâu Hiền ngưu vẫn đó chứ đâu đôi sừng lẫm liệt đại đầu vờn mây Cỏ non hoa dại rợp dầy Vi vu sáo thổi tháng ngày dọc ngang Đồi cao gió hú kinh vàng Đường trần khúc khuỷu
04/02/2026(Xem: 2316)
Là một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm, Phật sự đa đoan, lòng tôi vẫn cảm thấy tràn đầy nguồn an ủi vô biên trong những lúc mệt nhọc. Những ngày gần đây, các bài thơ trong tập thơ Hoa Thiền, mang tâm ý Phật Pháp, được Cô Đặng Lan và các thi sĩ ngâm vịnh, được Phật tử Tâm Nghiêm đọc vào đĩa, được Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ nhạc… với những niềm khích lệ đó, khiến tôi cố gắng sáng tác thêm những vần thơ mới. Và hôm nay, tập thơ Hoa Thiền tái bản, mang vóc dáng trang trọng, gói trọn một nội dung hồn thơ và ý nhạc, khiến cho lời thơ nhẹ nhàng bay vút khắp nơi và tuôn chảy vào tận cõi lòng người. Tôi xin chân thành cảm nhận tất cả và trân trọng khắc ghi vào lòng một kỷ niệm đẹp trong suốt hành trình dấn thân vì Đạo. 🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
04/02/2026(Xem: 2168)
Phật Sự Mục đích Thế Tôn đến cõi đời, Mở bày tri kiến Phật mà thôi. Trong nhà của báu quên tìm thấy, Búi tóc minh châu sẵn đó rồi. Đương thể hiện tiền đang chính nó, Nhắc ra cái ấy có nơi người. Thấy nghe hay biết lìa hay biết, Trên bước chân như mỉm miệng cười. Thích Nữ Phước Hoàn (Như Thanh)
04/02/2026(Xem: 2590)
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
04/02/2026(Xem: 2494)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.
02/02/2026(Xem: 3543)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 3767)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 3015)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 3011)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.