Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

12. Ðèn sách

05/06/201112:01(Xem: 2367)
12. Ðèn sách

BÓNG ÁO NÂU
TẬP SÁCH VỀ CUỘC ĐỜI THƯỢNG TỌA THÍCH CHƠN THANH

Phần II: Truyện ký Bóng áo nâu
Đồng tác giả:
Thu Nguyệt - Đỗ Thiền Đăng - Thiện Bảo

Đèn sách

Thầy và các huynh đệ đã bước qua kỳ thi tốt nghiệp Trung đẳng, ráo riết ôn luyện chuẩn bị cho việc dự tuyển vào kỳ thi Cao đẳng Phật học cam go sắp tới.

Hàng ngày, tăng chúng tu viện rất ít khi ra ngoài, phần vì ít nhu cầu thế sự, phần vì qui luật của Phật học viện khá khắt khe, phải đi thưa về trình qui củ; vì vậy, mỗi khi có việc quan trọng, mấy huynh đệ mới xin ra ngoài. Trong thời gian này, thầy gần như chỉ chú tâm vào việc học. Thầy cảm thấy bể học thức sâu rộng, chỉ riêng tri thức Phật học thôi cũng không thể nào chiếm lĩnh hết được. Nhưng kinh điển rất hiếm, không phải lúc nào cũng có sẵn để đọc. Nhiều quyển kinh sách chỉ chư vị giáo thọ sư mới có, nên mỗi buổi học tại lớp, học tăng phải ghi chép rất nhiều. Vì vậy, Phật học viện quyết định thành lập một ban ấn loát, gồm: thầy Phước Tài làm trưởng ban và các thành viên gồm Thiện Tri, Chơn Thanh, Chơn Phát... Ban ấn loát có trách nhiệm viết lại các bản kinh, đặc biệt là kinh chữ Hán, quay roneo làm tài liệu phát cho huynh đệ học tập.

Sau kỳ thi tốt nghiệp Trung đẳng Phật học của tăng sinh, Phật học viện vẫn sinh hoạt như thường lệ, nhưng các thời khóa như được giãn ra. Học tăng chuẩn bị thi vào Cao đẳng Phật học được hưởng một số ưu tiên so với các huynh đệ khác trong những sinh hoạt thường ngày. Một số vị xin phép về trụ xứ để tập trung ôn bài; một số khác ở lại, một mặt duy trì các thời khóa, một mặt chuyên tâm cho việc học hành.

Không khí tại Phật học viện như trầm lắng xuống. Trong khung cảnh quen thuộc với những sinh hoạt thường ngày, không phải lúc nào cũng khiến cho người ta có thể chú tâm vào việc học được, nhiều lúc việc học có thể bị phân tán do những chuyện không đâu. Do vậy một hôm, huynh Trí Hải đề nghị với các huynh đệ: “Ở đây khó chú tâm cho việc học quá. Hay là mình xuống chùa Long Khánh học đi!”. Ý kiến của huynh được mọi người hưởng ứng ngay lập tức. Bởi trong mấy huynh đệ, dường như ai cũng đã từng có lần xuống chùa Long Khánh. Chùa Long Khánh nằm cạnh một con sông nhỏ với vườn cây xanh mát, nhất là phía vườn cau, không khí trong lành và thật yên tĩnh. Sư cô Mỹ Duyên là trụ trì ở đây. Cô là người thân của huynh Trí Hải, từng lo lắng, chăm sóc huynh lúc huynh còn làm điệu “ba chóp”. Tính sư cô khá thoáng, lại rất quíù những học tăng chăm chỉ học hành. Cô không nhận ni chúng, vì vậy, Long Khánh là một nơi khá lý tưởng cho các huynh đệ “trú quân” trong khoảng thời gian dùi mài kinh sử.

Chiều chiều, sau khi cơm nước xong, bốn huynh đệ, thêm thầy Minh Thanh và thầy Thiện Phát nữa, cùng nhau đạp xe xuống chợ Đệm. Mấy huynh đệ được sư cô giao cho một căn phòng khá rộng, đèn đóm đầy đủ. “Mấy thầy muốn học lúc nào thì học, muốn ngủ lúc nào thì ngủ!” - sư cô nói. Thỉnh thoảng, cô lại đem bánh, sữa, mì gói xuống cho mấy huynh đệ “bồi dưỡng”. Nhiều khi, mấy huynh đệ ở lại Long Khánh đến vài ba ngày, tự phân công nhau đi tụng kinh, nấu cơm, rửa chén... phụ với sư cô. Nhiều khi thức khuya quá, sợ ảnh hưởng đến chùa, lại gặp lúc đêm trăng sáng, mấy huynh đệ liền kéo nhau ra vườn cau ngồi học dưới ánh trăng, rồi cùng nhau khảo bài, ai không thuộc thì sẽ bị phạt...

Rồi mùa thi cũng đến. Hội đồng thi tại Viện Đại học Vạn Hạnh - do hòa thượng Minh Châu làm Viện trưởng - rợp màu áo nâu. thầy cũng hòa vào mảng nâu ấy, nhận thấy mình khá nhỏ nhoi giữa hàng trăm tăng ni sinh dự tuyển. Tuy vậy, thầy cũng thấy tự tin bởi đã ôn bài khá kỹ, cộng với những lần đi thuyết giảng cho phật tử, thầy nghĩ vốn giáo lý và vốn sống đạo của mình chắc tạm đủ để có thể vượt qua kỳ thi này.

Kết quả danh sách thí sinh dự tuyển được dán trên một chiếc bảng lớn tại trường. Ngay buổi sáng công bố kết quả, đã có nhiều tăng ni sinh đến xem. Tăng riêng, ni riêng, mỗi bảng danh sách lại được niêm yết thành hai bảng nhỏ: bảng danh sách thí sinh thi đậu và bảng danh sách thí sinh thi rớt. Danh sách thi đậu được xếp theo thứ tự điểm số, từ cao đến thấp. Chưa kịp lướt mắt xuống, Chơn Thanh đã vội dừng ngay lại ở dòng tên đầu tiên: thủ khoa, không ai khác, chính là sư huynh Thiện Tri, tiếp theo, thứ nhì là Chơn Thanh, thứ ba là Minh Đạt. Á khoa! - Thầy thầm nghĩ - mình đã đậu cao hơn nhiều huynh đệ khác! Đó như là một sự may mắn vì thầy biết có nhiều huynh đệ chăm học và còn có khả năng hơn thầy. Tuy vậy, thầy rất vui, thầy nghĩ đây cũng là một quả tốt cho việc đèn sách cần cù của các thầy.

Trong năm này, có một sự kiện đáng nhớ, đó là Phật học viện Huệ Nghiêm được đổi tên thành Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm, do Hòa thượng Trí Tịnh làm viện trưởng, hòa thượng Bửu Huệ làm viện phó đặc trách học vụ, Hòa thượng Quảng Độ làm Tổng Thư ký, Hòa thượng Thiện Hòa làm Giám Luật. Viện Cao đẳng được chia làm ba cấp: bốn năm đầu học cử nhân, hai năm sau học cao học, hai năm sau nữa học tiến sĩ. Chơn Thanh lại tiếp tục cuộc hành trình tu học, mà với thầy, vẫn còn rất xa rộng phía trước...

An cư kiết hạ

nguồn sinh lực của tăng già

An cư kiết hạ là một thông lệ từ lâu của các đạo sĩ Ấn Độ khi tăng đoàn Phật giáo hãy còn chưa xuất hiện. Thời tiết Ấn Độ có vẻ khác hơn Việt Nam hay Trung Quốc cũng như các quốc gia khác: Từ tháng một đến tháng tư là mùa xuân, từ tháng chín đến tháng mười hai là mùa đông. Ấn Độ không có mùa thu. Một năm chia làm ba mùa rõ rệt như thế, nên các đạo sĩ qui định vào những tháng mưa gió nên an trú một nơi nhất định để bảo tồn sức khoẻ và tăng cường đạo lực. Giáo đoàn Phật giáo hợp thức hoá thông lệ này bắt đầu từ Lục quần Tỳ kheo (sáu thầy tỳ kheo chuyên gia khai duyên cho Phật chế giới). Suốt mấy tháng mùa mưa, nhóm sáu thầy tỳ kheo này lang thang du hoá khắp nơi không kể gì mưa gió, đạp dẫm lên hoa cỏ mùa màng mới đâm chồi hay những loài côn trùng vừa sanh nở. Cư sĩ chê trách hàng sa môn Thích tử thật quá đáng, các đạo sĩ khác vẫn có những tháng sống cố định, ngay đến loài cầm thú vẫn có mùa trú ẩn của nó, còn các vị hành đạo này thì luông tuồng không biết nghỉ chân vào mùa nào cả. Lúc ấy, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, trong thành Cấp Cô Độc, biết được sự việc xảy ra liền ban hành quyết định cấm túc an cư cho toàn thể tăng đoàn trong các tháng đầu mùa mưa, tức từ mồng một trăng tròn của tháng A-sa-đà đến hết trăng tròn của tháng A-thấp-phược-đê-xà (Theo ngài Huyền Trang là nhằm 16 tháng 5 của Trung Quốc, sau vì muốn lấy ngày rằm tháng bảy Vu Lan làm ngày Tự tứ nên chọn ngày An cư là 16 tháng 4). Phật giáo Việt Nam cũng tuân theo nguyên tắc này nhưng thời gian có khác một chút. Nghĩa là thời tiết Việt Nam tuy thể hiện rõ rệt chỉ có hai mùa nắng và mùa mưa, nhưng vẫn qui định theo bốn mùa như Trung Quốc: xuân, hạ, thu, đông. Như vậy thời điểm để tu sĩ Phật giáo Việt Nam an cư là bắt đầu từ ngày rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 (mùa hạ), đó gọi là tiền an cư. Hậu an cư là dành cho trường hợp đặc biệt, có duyên sự khẩn thiết thì có thể bắt đầu an cư từ 17 - 4 cho đến 17 - 5, và kết thúc dĩ nhiên cũng phải đủ 90 ngày như tiền an cư (cùng làm lễ Tự tứ, nhưng phải ở lại cho đủ số ngày). Riêng hệ phái Nguyên Thuỷ chọn thời điểm kiết hạ vào ngày rằm tháng 6 cho đến ngày rằm tháng 9. Tuỳ theo quốc độ, địa phương mà có những mùa an cư không hoàn toàn giống nhau, ở Việt Nam, một vài nơi còn có thêm kiết đông bắt đầu từ rằm tháng 9 đến rằm tháng 12 là dựa theo tinh thần của Luật Bồ Tát.

Vì sao lại phát sinnh thêm kiết đông thay vì chỉ có kiết hạ? Có phải an cư là thời gian để tăng già tích luỹ nguốn sinh lực hay không?

Hàng xuất gia trong giáo đoàn Phật giáo bao giờ cũng tâm niệm hai nhiệm vụ cần phải sớm thành tựu: thượng cầu Phật đạo và hạ hóa chúng sanh. Song lộ trình tiến đến quả vị Phật hay Thánh quả thật gian truân cách trở, không phải là vấn đề một sớm một chiều hay một kiếp. Vì vậy việc tự lợi là một nhu cầu cần thiết cho bất cứ một hành giả nào còn vương mang pháp hữu lậu, chưa có phần dự vào dòng Thánh. Nếu như thời gian dành cho việc đi lại bên ngoài quá nhiều, mà căn bản phiền não vẫn còn sâu kín bên trong thì kết quả hoàn toàn sai với tinh thần hóa độ của đức Phật. Người bị trói tất nhiên không bao giờ cởi trói được cho người khác. Người có thật nhiều hạnh phúc, vượt lên trên những khổ đau triền phược mới có thể đưa người ra khỏi dòng tục bến mê. Hóa độ thì xem như chia phần, bớt đi. Mặc dù một ngọn đèn có thể thắp sáng hàng trăm nghìn ngọn đèn khác. Song một khi ngọn đèn ra trước gió, thì sự an nguy cũng giống như một người hành đạo chưa liễu đạo mà phải đương đầu với ngũ dục trần lao. Thế mới biết, an cư là thời gian quý báu để người tu hành có điều kiện nhìn lại chính mình, soi thấu bệnh tật phiền não hoặc mới huân tập hoặc lâu đời mà đoạn trừ, trị liệu. Ngoài ra việc tránh ngộ sát côn trùng hay không ảnh hưởng mùa màng của người thế tục cũng là một duyên cớ để trưởng dưỡng lòng từ bi. Song lý do trước mới là tinh thần chính yếu của việc cấm túc an cư.

Bộ Luật Tư Trì Ký định nghĩa: Lập tâm một chỗ gọi là Kiết; bộ Nghiệp Sớ định nghĩa: Thu thúc thân vào chỗ tịch tĩnh gọi là An. Như vậy dù kiết hạ hay kiết đông an cư thì mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào không quan tâm đến việc tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắc khe này cũng chỉ vì đức Phật muốn bảo hộ sức sống của tăng-già bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân. Nếu ai trong hàng xuất gia đệ tử Phật không tôn kính vâng giữ lời huấn thị của đức Phật, xem an cư là một điều bó buộc, một phương tiện nhỏ nhặt thì quả thật người ấy không những tự chối bỏ phần tự lợi mà gây ảnh hưởng không tốt cho tăng đoàn. Cũng như bác nông phu mỗi năm phải làm ruộng, nếu năm nào bỏ bê không chăm lo đến mùa màng thì bác sẽ bị nghèo nàn đói thiếu. Hàng Bí Sô nếu không có những ngày tháng cùng sinh hoạt cộng trú để sách tấn lẫn nhau thì làm sao có điều kiện để tạo thành năng lực hoà hợp và kiểm chứng giá trị thanh tịnh? Kết thúc khoá an cư là Tự Tứ, một hình thức tối quan trọng để tổng kết quá trình tu tập tiến triển hay lui sụt của từng cá nhân qua ba tiêu chuẩn: thấy, nghe, nghi. Những ai vượt ra khỏi phạm vi giới luật, buông lung theo ba nghiệp, hành động theo bản năng cố hữu thì sẽ bị cử tội giữa đại chúng để bổ khuyết sửa chữa.

Một lần, sau mùa an cư các thầy tỳ kheo lần lượt về vấn an đức Phật và trình bày công phu tu tập của mình. Đức Phật hỏi:

- Vừa qua các ông có được an lạc không?

- Thưa an lạc lắm ạ!

- Thế trong ba tháng ấy các ông tu tập pháp gì?

Các thầy tỳ kheo vui vẻ trả lời:

- Bạch Thế Tôn, chúng con thực hành pháp tịnh khẩu, tự mỗi người giữ im lặng tuyệt đối.

- Đức Phật quở trách:

- Các ông thật vô trí, được sống chung sao không chịu trao đổi hay nhắc nhở nhau tu tập mà lại thực hiện pháp câm như thế, vậy an cư được lợi ích gì chứ? Các ông phải luôn sinh hoạt trong niệm đoàn kết, trên dưới thuận hoà, cùng thống nhất ý kiến, cùng bàn bạc trao đổi và học hỏi lẫn nhau, lẽ nào không thấy được giá trị của thấy, nghe và nghi làm tiêu chuẩn để thanh lọc mỗi người. Các ông đã bỏ phí một mùa an cư. Các ông đã hành động phi pháp.

Năng lực của đại chúng quả thật như biển (Đức chúng như hải) sẽ nâng đỡ những con thuyền lành tốt, khôn khéo chiều theo từng đợt sóng, và sẽ đào thải tất cả những con thuyền hư thủng ra khỏi lòng đại dương. Tăng đoàn muốn hòa hợp theo đúng bản chất của nó như nước với sữa thì buộc mỗi cá nhân phải tự nỗ lực, trang nghiêm chính mình. Ngày nay, những người trí thức ở phương Tây luôn tranh thủ cho mình một khoảng thời gian một tháng hay nhiều hơn trong năm để tu nghiệp, tức là bồi dưỡng thêm nghề nghiệp. Người tu sĩ Phật giáo lấy trí tuệ làm sự nghiệp lẽ nào không đầu tư vào công phu thiền định. Không có thời gian để cùng nhau nhắc nhở giới luật. Tứ niệm xứ, Tứ thánh chủng… Một mình một cõi du hóa lơ lỏng trong nhân gian thì rất khó cho việc thành tựu tuệ giác, hóa độ viên mãn.

Cũng như những giáo hội khác, ngày nay ở Việt Nam không còn giống như thời Phật ở Ấn Độ là hàng xuất gia không phải mỗi người du hóa một phương, mang theo ba y một bình bát và ngủ dưới gốc cây, nhưng lối sống theo từng tông phái, chùa riêng, tổ đình riêng, thầy riêng đệ tử riêng thì cũng xem như rời rạc, chưa đoàn kết hoà hợp. Vì lẽ chưa dung hoà đó mà Kiết hạ an cư đã trở thành qui luật rất cần thiết để làm phương thuốc hồi sinh, làm sống lại tình Linh Sơn cốt nhục mà lắm lúc vì những nguyên do gì đó, vì bệnh nghiệp cá biệt nào đó đã làm cho anh em cùng nhà phải bút chiến, khẩu chiến phân tranh cao hạ, làm cho sư tử phải trọng thương chỉ vì loài trùng ăn gặm trong thân sư tử. Hơn nữa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hôm nay nhắm vào tinh thần thống nhất về tổ chức (thống nhất ý chí và hành động) thì Kiết hạ an cư là một phương tiện thuận lợi cho giáo hội xây dựng tăng đoàn đoàn kết hòa hợp và thống nhất mọi mặt theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - chủ nghĩa xã hội”.

Rõ ràng, ba tháng an cư, cửu tuần tu học đích thực là nguồn năng lực quí báu làm nóng lại và bền vững hơn tinh thần thanh tịnh hòa hợp của tăng-già. Chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy sự hưng thịnh của Phật pháp khi chốn tòng lâm ngày ngày giới luật nghiêm minh, đêm đêm toạ thiền niệm Phật, trên dưới hoà hợp, tu tập trong niệm đoàn kết an hoà.

Mùa An Cư - PL 2544

Thích Chơn Thanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn