Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

10. Cây cao bóng cả

05/06/201112:01(Xem: 2424)
10. Cây cao bóng cả

BÓNG ÁO NÂU
TẬP SÁCH VỀ CUỘC ĐỜI THƯỢNG TỌA THÍCH CHƠN THANH

Phần II: Truyện ký Bóng áo nâu
Đồng tác giả:
Thu Nguyệt - Đỗ Thiền Đăng - Thiện Bảo

Cây cao bóng cả

Tại Phật Học viện, có ba vị Hòa thượng mà bất kỳ tăng sinh nào cũng kính nễ. Đó là hòa thượng Bửu Huệ - giám viện, hòa thượng Thiền Tâm - giáo thọ, hòa thượng Thanh Từ -quản viện. Ba vị hòa thượng, mỗi người một sở tu, sở đắc, nhưng đều là những bậc thầy đạo hạnh và uyên thâm giáo điển, cùng chung một sở nguyện chung lo cho đàn hậu tấn.

Để có được ba vị hòa thượng làm trụ cột cho Huệ Nghiêm, trước hết phải nhắc đến công đức của hòa thượng Thiện Hoa, hòa thượng Thiện Hòa. Năm 1957, hòa thượng Thiện Hòa mua lại mảnh đất của một phật tử, xây dựng Huệ Nghiêm, đến cuối năm 1962 thì hoàn thành. Năm 1964, hòa thượng Thiện Hoa, trưởng ban Hoằng pháp, quyết định dời Phật học viện vào An Dưỡng Địa, lập trường Trung đẳng Phật học chuyên khoa - tiền thân của Phật học viện Huệ Nghiêm.

Hòa thượng Thiện Hoa là một bậc danh tăng lỗi lạc. Ngài rất thấu hiểu tâm lý lứa tuổi tăng sinh. Một lần, có vị thầy tuổi trung niên mới xuất gia, thường làm ra vẻ đường đường Tăng tướng, dung mạo khả quan, đến phàn nàn với hòa thượng rằng tăng sinh Phật học viện của ngài quậy quá, ham giỡn nhiều hơn chăm lo thiền định. Hòa thượng cười, bảo: “Mấy chú tu từ nhỏ, quậy một chút cũng không sao, chớ hơn bốn mươi năm qua, ông “quậy” quá trời, có ai nói gì đâu, ông phải biết thông cảm với mấy chú chớ”! Nhiều khi ngồi nghĩ lại, Chơn Thanh kính nể quí thầy quá. Quí ngài hầu như ai cũng phát nguyện sau khi học xong thì nhập thất mười năm để thực chứng những gì mình đã học. Vậy mà vì sự nghiệp chung, đành phải hy sinh mình, đứng ra đỡ đầu, dìu dắt đàn hậu tấn. Chú đọc trong kinh Di giáo, Đức Phật dạy chư đệ tử rằng: một vị thầy mà chăm lo nhiều đồ chúng quá thì cũng giống như cây đại thụ có nhiều chim chóc đến đậu vậy, chẳng mấy chốc cành lá sẽ xơ rụi. Chú hiểu, vì tâm nguyện tiếp dẫn hậu lai, quí ngài đành phải chấp nhận mối nguy hại đó nên càng kính trọng thâm ân của quí ngài nhiều hơn. Các ngài đã để lại trong lòng Chơn Thanh một ấn tượng mà sau này dù có làm gì, đi đến đâu, chú cũng không thể nào quên được.

Hòa thượng Bửu Huệ rất hiền, lại ít nói. Nhưng chính sự uy nghiêm của ngài lại làm cho chúng vô cùng kính phục. Trước khi đến Huệ Nghiêm làm giám viện, hòa thượng đã tịnh tu gần mười năm. Chơn Thanh nghe kể lại: năm 1964, khi hòa thượng đang tịnh tu trong thất Nam Tuyền tại Tân Hương, Long An, còn một tháng nữa là tròn mười năm thì từ sự nhất trí đề cử của hòa thượng Thiện Hòa và hòa thượng Thiện Hoa, hòa thượng Thanh Từ đã đến cung thỉnh ngài về Sài Gòn để chung lo Phật sự. Sau đó, ngài Thanh Từ còn tiếp tục về Bến Tre để thỉnh hòa thượng Thiền Tâm xả thất cùng đến Huệ Nghiêm. Nhờ vậy mà Phật học viện mới có tam sư thường trực đức độ, uy nghiêm, nhiếp chúng với tinh thần vô ngã, vị tha.

Trong ba vị, hòa thượng Thanh Từ nổi tiếng nghiêm khắc. Ngài ít nói nhưng hễ đã nói là làm, nhất nhất không sai chạy. Có lần ngài thực thi kỷ luật, đuổi khỏi viện hai vị học tăng gây gỗ nhau nảy sinh sân tâm, có hành vi không biết kềm chế. Hòa thượng họp chúng, tuyên bố tẩn xuất. Mặc cho hai vị đắp y sám hối và ban Lãnh chúng ngỏ lời xin tha, hòa thượng vẫn không thay đổi quyết định.

Tối hôm đó, trong khi hai sư huynh xếp sách vở, áo quần vào va li, các huynh đệ cùng đến an ủi, Chơn Thanh ngồi xuống bên cạnh, phụ hai huynh xếp đồ. Chú hỏi một trong hai vị: “Huynh có giận Hòa thượng không?”. Huynh ấy im lặng một lát rồi lắc đầu: “Không đâu! Hòa thượng chỉ chiếu theo nội qui Phật học viện. Tôi nhớ ngày trước, khi còn làm điệu, mỗi khi có lỗi, dù lỗi không nặng nhưng vẫn bị sư phụ cho ăn đòn, sư phụ thường nói rằng một đứa bị đau nhưng tránh được nhiều đứa sau này khỏi bị đau. Hòa thượng đuổi chúng tôi khỏi viện chắc cũng vì lý do ấy. Tôi chỉ giận mình, tu lâu rồi mà không làm chủ tâm được”. Sáng hôm sau, hai huynh đệ tách bạch từ giã đại chúng. Chư huynh đệ tiễn hai thầy ra đến cổng, ai nấy ngạc nhiên khi thấy hai chiếc xích lô máy chờ đó tự bao giờ. Hỏi ra mới biết có người gọi sẵn. Hai sư huynh lên xe mà không cầm được nước mắt! Khi trở về phòng, đi ngang qua thất hòa thượng, bất chợt, Chơn Thanh sững người lại: chú thấy Hòa thượng đứng im bên cửa sổ nhìn ra, hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy trên đôi gò má của ngài. Hòa thượng khóc! Lần đầu tiên, và có lẽ cũng là lần duy nhất trong đời Chơn Thanh thấy một vị hòa thượng khóc. Một vị hòa thượng nổi tiếng cứng rắn đã nhỏ đôi dòng lệ từ bi. Ngay lúc đó, chú chợt hiểu tấm lòng bao la của Hòa thượng, đuổi hai người là để đảm bảo kỷ cương của hơn ba trăm người, giữ gìn oai nghi cho đại chúng.

Năm 1966, khóa học đầu tiên kết thúc, hoàn thành tâm nguyện, hòa Thượng Bửu Huệ, hòa thượng Thiền Tâm, hòa thượng Thanh Từ tiếp tục con đường tịnh tu của mình. Toàn thể tăng chúng tiễn đưa quí ngài, bùi ngùi không sao cầm được nước mắt. Chơn Thanh cảm thấy Phật học viện như mất đi những cây cao bóng cả, nghiêm khắc anh minh và bao dung từ ái.

Hòa thượng Bửu Huệ trở lại tịnh thất Nam Tuyền, tiếp tục nhập thất chuyên tu. hòa thượng Thanh Từ thì ẩn thân trên núi; sau hơn một năm dài, ngài về Vũng Tàu thành lập tu viện Chơn Không, khơi mở cội nguồn cho dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hòa thượng Thiền Tâm thì về Đại Ninh lập tịnh thất Hương Nghiêm ròng chuyên tịnh mật trong một vùng hoang sơ đầy rắn. Nơi đó, ngài ở chung với những “đạo hữu không chân” vẫn thường đến để nghe ngài trì chú, niệm Phật. Thỉnh thoảng, Chơn Thanh cùng mấy sư huynh lên thất thăm và giúp Hòa thượng một số công việc. Thấy cảnh hoang sơ ấy, Chơn Thanh cảm thấy rất thương ngài và kính nể ngài gấp bội. Thì ra, trong thời mạt pháp này, vẫn còn đó những cội tùng vững chãi, những tấm gương đạo hạnh sáng ngời. Trong cái sương lạnh của núi rừng, Chơn Thanh cảm thấy lòng mình chợt như ấm lại...

Ba vị Hòa thượng ra đi để lại một nỗi trống vắng lớn lao cho Phật học viện. Để tiếp tục duy trì kỷ cương tu học và nề nếp sinh hoạt, một ban giám đốc mới đã được thành lập, gồm: Thầy Phước Hảo - giám đốc, thầy Tâm Thanh - tổng thư ký, thầy Đức Pháp - giám học, thầy Từ Hóa - thủ quỹ. Đó là một ban giám đốc còn khá non trẻ, vì vậy giáo hội Tăng già thỉnh chư tôn đức, mỗi ngày một vị, ra Phật học viện để trông coi toàn bộ sinh hoạt của tăng chúng: Hòa thượng Minh Châu, hòa thượng Thiện Hoa, hòa thượng Thiện Hòa... Nhờ cái bóng của quí ngài mà mọi sinh hoạt của tăng chúng trở nên ổn định. Nhưng tình hình không thể duy trì như thế mãi. Năm sau, hòa thượng Thiện Hoa lại đích thân xuống thất Nam Tuyền, một lần nữa, cung thỉnh hòa thượng Bửu Huệ trở về làm giám đốc Phật học viện. Tăng chúng Phật học viện từ đó lại được an tâm tu học dưới bóng cao râm mát của ngài...

An cư kiết hạ

nguồn sinh lực của tăng già

An cư kiết hạ là một thông lệ từ lâu của các đạo sĩ Ấn Độ khi tăng đoàn Phật giáo hãy còn chưa xuất hiện. Thời tiết Ấn Độ có vẻ khác hơn Việt Nam hay Trung Quốc cũng như các quốc gia khác: Từ tháng một đến tháng tư là mùa xuân, từ tháng chín đến tháng mười hai là mùa đông. Ấn Độ không có mùa thu. Một năm chia làm ba mùa rõ rệt như thế, nên các đạo sĩ qui định vào những tháng mưa gió nên an trú một nơi nhất định để bảo tồn sức khoẻ và tăng cường đạo lực. Giáo đoàn Phật giáo hợp thức hoá thông lệ này bắt đầu từ Lục quần Tỳ kheo (sáu thầy tỳ kheo chuyên gia khai duyên cho Phật chế giới). Suốt mấy tháng mùa mưa, nhóm sáu thầy tỳ kheo này lang thang du hoá khắp nơi không kể gì mưa gió, đạp dẫm lên hoa cỏ mùa màng mới đâm chồi hay những loài côn trùng vừa sanh nở. Cư sĩ chê trách hàng sa môn Thích tử thật quá đáng, các đạo sĩ khác vẫn có những tháng sống cố định, ngay đến loài cầm thú vẫn có mùa trú ẩn của nó, còn các vị hành đạo này thì luông tuồng không biết nghỉ chân vào mùa nào cả. Lúc ấy, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, trong thành Cấp Cô Độc, biết được sự việc xảy ra liền ban hành quyết định cấm túc an cư cho toàn thể tăng đoàn trong các tháng đầu mùa mưa, tức từ mồng một trăng tròn của tháng A-sa-đà đến hết trăng tròn của tháng A-thấp-phược-đê-xà (Theo ngài Huyền Trang là nhằm 16 tháng 5 của Trung Quốc, sau vì muốn lấy ngày rằm tháng bảy Vu Lan làm ngày Tự tứ nên chọn ngày An cư là 16 tháng 4). Phật giáo Việt Nam cũng tuân theo nguyên tắc này nhưng thời gian có khác một chút. Nghĩa là thời tiết Việt Nam tuy thể hiện rõ rệt chỉ có hai mùa nắng và mùa mưa, nhưng vẫn qui định theo bốn mùa như Trung Quốc: xuân, hạ, thu, đông. Như vậy thời điểm để tu sĩ Phật giáo Việt Nam an cư là bắt đầu từ ngày rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 (mùa hạ), đó gọi là tiền an cư. Hậu an cư là dành cho trường hợp đặc biệt, có duyên sự khẩn thiết thì có thể bắt đầu an cư từ 17 - 4 cho đến 17 - 5, và kết thúc dĩ nhiên cũng phải đủ 90 ngày như tiền an cư (cùng làm lễ Tự tứ, nhưng phải ở lại cho đủ số ngày). Riêng hệ phái Nguyên Thuỷ chọn thời điểm kiết hạ vào ngày rằm tháng 6 cho đến ngày rằm tháng 9. Tuỳ theo quốc độ, địa phương mà có những mùa an cư không hoàn toàn giống nhau, ở Việt Nam, một vài nơi còn có thêm kiết đông bắt đầu từ rằm tháng 9 đến rằm tháng 12 là dựa theo tinh thần của Luật Bồ Tát.

Vì sao lại phát sinnh thêm kiết đông thay vì chỉ có kiết hạ? Có phải an cư là thời gian để tăng già tích luỹ nguốn sinh lực hay không?

Hàng xuất gia trong giáo đoàn Phật giáo bao giờ cũng tâm niệm hai nhiệm vụ cần phải sớm thành tựu: thượng cầu Phật đạo và hạ hóa chúng sanh. Song lộ trình tiến đến quả vị Phật hay Thánh quả thật gian truân cách trở, không phải là vấn đề một sớm một chiều hay một kiếp. Vì vậy việc tự lợi là một nhu cầu cần thiết cho bất cứ một hành giả nào còn vương mang pháp hữu lậu, chưa có phần dự vào dòng Thánh. Nếu như thời gian dành cho việc đi lại bên ngoài quá nhiều, mà căn bản phiền não vẫn còn sâu kín bên trong thì kết quả hoàn toàn sai với tinh thần hóa độ của đức Phật. Người bị trói tất nhiên không bao giờ cởi trói được cho người khác. Người có thật nhiều hạnh phúc, vượt lên trên những khổ đau triền phược mới có thể đưa người ra khỏi dòng tục bến mê. Hóa độ thì xem như chia phần, bớt đi. Mặc dù một ngọn đèn có thể thắp sáng hàng trăm nghìn ngọn đèn khác. Song một khi ngọn đèn ra trước gió, thì sự an nguy cũng giống như một người hành đạo chưa liễu đạo mà phải đương đầu với ngũ dục trần lao. Thế mới biết, an cư là thời gian quý báu để người tu hành có điều kiện nhìn lại chính mình, soi thấu bệnh tật phiền não hoặc mới huân tập hoặc lâu đời mà đoạn trừ, trị liệu. Ngoài ra việc tránh ngộ sát côn trùng hay không ảnh hưởng mùa màng của người thế tục cũng là một duyên cớ để trưởng dưỡng lòng từ bi. Song lý do trước mới là tinh thần chính yếu của việc cấm túc an cư.

Bộ Luật Tư Trì Ký định nghĩa: Lập tâm một chỗ gọi là Kiết; bộ Nghiệp Sớ định nghĩa: Thu thúc thân vào chỗ tịch tĩnh gọi là An. Như vậy dù kiết hạ hay kiết đông an cư thì mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào không quan tâm đến việc tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắc khe này cũng chỉ vì đức Phật muốn bảo hộ sức sống của tăng-già bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân. Nếu ai trong hàng xuất gia đệ tử Phật không tôn kính vâng giữ lời huấn thị của đức Phật, xem an cư là một điều bó buộc, một phương tiện nhỏ nhặt thì quả thật người ấy không những tự chối bỏ phần tự lợi mà gây ảnh hưởng không tốt cho tăng đoàn. Cũng như bác nông phu mỗi năm phải làm ruộng, nếu năm nào bỏ bê không chăm lo đến mùa màng thì bác sẽ bị nghèo nàn đói thiếu. Hàng Bí Sô nếu không có những ngày tháng cùng sinh hoạt cộng trú để sách tấn lẫn nhau thì làm sao có điều kiện để tạo thành năng lực hoà hợp và kiểm chứng giá trị thanh tịnh? Kết thúc khoá an cư là Tự Tứ, một hình thức tối quan trọng để tổng kết quá trình tu tập tiến triển hay lui sụt của từng cá nhân qua ba tiêu chuẩn: thấy, nghe, nghi. Những ai vượt ra khỏi phạm vi giới luật, buông lung theo ba nghiệp, hành động theo bản năng cố hữu thì sẽ bị cử tội giữa đại chúng để bổ khuyết sửa chữa.

Một lần, sau mùa an cư các thầy tỳ kheo lần lượt về vấn an đức Phật và trình bày công phu tu tập của mình. Đức Phật hỏi:

- Vừa qua các ông có được an lạc không?

- Thưa an lạc lắm ạ!

- Thế trong ba tháng ấy các ông tu tập pháp gì?

Các thầy tỳ kheo vui vẻ trả lời:

- Bạch Thế Tôn, chúng con thực hành pháp tịnh khẩu, tự mỗi người giữ im lặng tuyệt đối.

- Đức Phật quở trách:

- Các ông thật vô trí, được sống chung sao không chịu trao đổi hay nhắc nhở nhau tu tập mà lại thực hiện pháp câm như thế, vậy an cư được lợi ích gì chứ? Các ông phải luôn sinh hoạt trong niệm đoàn kết, trên dưới thuận hoà, cùng thống nhất ý kiến, cùng bàn bạc trao đổi và học hỏi lẫn nhau, lẽ nào không thấy được giá trị của thấy, nghe và nghi làm tiêu chuẩn để thanh lọc mỗi người. Các ông đã bỏ phí một mùa an cư. Các ông đã hành động phi pháp.

Năng lực của đại chúng quả thật như biển (Đức chúng như hải) sẽ nâng đỡ những con thuyền lành tốt, khôn khéo chiều theo từng đợt sóng, và sẽ đào thải tất cả những con thuyền hư thủng ra khỏi lòng đại dương. Tăng đoàn muốn hòa hợp theo đúng bản chất của nó như nước với sữa thì buộc mỗi cá nhân phải tự nỗ lực, trang nghiêm chính mình. Ngày nay, những người trí thức ở phương Tây luôn tranh thủ cho mình một khoảng thời gian một tháng hay nhiều hơn trong năm để tu nghiệp, tức là bồi dưỡng thêm nghề nghiệp. Người tu sĩ Phật giáo lấy trí tuệ làm sự nghiệp lẽ nào không đầu tư vào công phu thiền định. Không có thời gian để cùng nhau nhắc nhở giới luật. Tứ niệm xứ, Tứ thánh chủng… Một mình một cõi du hóa lơ lỏng trong nhân gian thì rất khó cho việc thành tựu tuệ giác, hóa độ viên mãn.

Cũng như những giáo hội khác, ngày nay ở Việt Nam không còn giống như thời Phật ở Ấn Độ là hàng xuất gia không phải mỗi người du hóa một phương, mang theo ba y một bình bát và ngủ dưới gốc cây, nhưng lối sống theo từng tông phái, chùa riêng, tổ đình riêng, thầy riêng đệ tử riêng thì cũng xem như rời rạc, chưa đoàn kết hoà hợp. Vì lẽ chưa dung hoà đó mà Kiết hạ an cư đã trở thành qui luật rất cần thiết để làm phương thuốc hồi sinh, làm sống lại tình Linh Sơn cốt nhục mà lắm lúc vì những nguyên do gì đó, vì bệnh nghiệp cá biệt nào đó đã làm cho anh em cùng nhà phải bút chiến, khẩu chiến phân tranh cao hạ, làm cho sư tử phải trọng thương chỉ vì loài trùng ăn gặm trong thân sư tử. Hơn nữa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hôm nay nhắm vào tinh thần thống nhất về tổ chức (thống nhất ý chí và hành động) thì Kiết hạ an cư là một phương tiện thuận lợi cho giáo hội xây dựng tăng đoàn đoàn kết hòa hợp và thống nhất mọi mặt theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - chủ nghĩa xã hội”.

Rõ ràng, ba tháng an cư, cửu tuần tu học đích thực là nguồn năng lực quí báu làm nóng lại và bền vững hơn tinh thần thanh tịnh hòa hợp của tăng-già. Chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy sự hưng thịnh của Phật pháp khi chốn tòng lâm ngày ngày giới luật nghiêm minh, đêm đêm toạ thiền niệm Phật, trên dưới hoà hợp, tu tập trong niệm đoàn kết an hoà.

Mùa An Cư - PL 2544

Thích Chơn Thanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn