Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Ngày thứ sáu

26/04/201114:27(Xem: 6277)
Ngày thứ sáu

ẤN QUANG ĐẠI SƯ KHAI THỊ
tại pháp hội Hộ Quốc Tức Tai tại Thượng Hải (1936)
(Nguyên tác: Ấn Quang Đại Sư Hộ Quốc Tức Tai Pháp Ngữ)
(Liên Hương dịch theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, Đài Bắc)

Ấn Quang Đại Sư Pháp Ngữ
(giảng tại pháp hội Hộ Quốc Tức Tai tại Thượng Hải - 1936)

 

Ngày thứ sáu:

Dùng Chơn Đế và Tục Đế để phát trừ kiến chấp và trần thuật những chuyện linh cảm trong thời cận đại

Thế nhân chấp không, chấp có, vọng sanh kiến giải nên mê muội chẳng giác ngộ. Thế Tôn lập ra giáo pháp, muốn cho chúng sanh phá trừ hai kiến chấp ấy nên đặc biệt bày ra một pháp môn Niệm Phật, mong chúng sanh từ Hữu chứng ngộ được Không, dẫu đắc Không nhưng chẳng phế Hữu thì hai pháp Hữu - Không sẽ hỗ trợ nhau, được lợi ích lớn lao, huống hồ là kiêm nhờ nguyện lực của Phật Di Đà. Vì thế, lực dụng của pháp môn Niệm Phật siêu xuất hết thảy pháp môn, làm chỗ quy túc cho hết thảy các pháp môn.

Trong đời có một hạng người tri kiến hèn kém, nghe nói đến chuyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương bèn bảo: “Chúng ta là hạng nghiệp lực phàm phu, làm sao dám vọng cầu vãng sanh Tây Phương? Chỉ cầu chẳng mất thân người là đủ lắm rồi”. Vướng lấy mối tri kiến này là do chẳng biết tâm tánh của chúng sanh và tâm tánh của chư Phật hệt như nhau, chẳng hai. Bất quá, chư Phật tu đức đến cùng cực nên tánh đức hiển hiện trọn vẹn, còn chúng sanh dẫu đủ tánh đức nhưng chưa thể tu đức, dẫu có tu tập nhưng lắm kẻ vì tu hành trái nghịch với tánh, nên ngược lại, càng thêm mê muội.

Lại có một hạng người tri kiến cuồng vọng. Dạy họ niệm Phật, họ liền bảo: “Ta đã là Phật, cần gì phải niệm Phật? Các ngươi chẳng biết mình chính là Phật thì niệm Phật cũng chẳng hề gì. Ta đã biết mình chính là Phật thì cần gì phải trên đầu lại chồng thêm một cái đầu khác nữa chứ!” Thứ tri kiến này là do chỉ biết đến vị Phật thuộc về Phật tánh sẵn có ngay trong tâm, nhưng chưa biết đến vị Phật đã đoạn sạch phiền hoặc, viên mãn phước huệ. Hạng người này nếu đã biết tánh, tu, Lý, Sự đều chẳng thể thiên chấp, cực lực tu hành tịnh hạnh thì sẽ vượt xa hạng người tri kiến hèn kém. Nếu chẳng vậy, sẽ tự lầm, lầm người, sẽ vĩnh viễn đọa trong A Tỳ địa ngục, trọn không có kỳ ra.

Đối với những hiểu biết lầm lạc chấp không, chấp có, kiến giải hèn kém và kiến giải lầm lạc cuồng vọng này, chỉ có mỗi pháp Niệm Phật là dễ đối trị nhất. “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Nếu chẳng chịu làm Phật thì chẳng thể là Phật được. Hai câu kinh này chính là Vô Thượng Diệu Pháp để phá trừ kiến chấp hèn kém và kiến giải cuồng vọng.

Luận Phật pháp đại nghĩa đến rốt ráo thì chẳng ngoài Chơn Đế và Tục Đế. Chơn Đế: một pháp chẳng lập, là thực thể được thấy biết bởi Thánh Trí. Tục Đế phô bày trọn vẹn vạn hạnh, chính là hành tướng được tu trong pháp môn (chữ Tục ở đây nghĩa là tạo dựng, kiến lập, chứ đừng hiểu là thế tục, tục tằn). Người học Phật phải viên dung Chơn và Tục, hành trọn Nhất Đạo. Bởi lẽ, vì một pháp chẳng lập nên mới có thể tu đạo phô bày trọn vẹn vạn hạnh. Vạn hạnh được phô bày trọn vẹn thì mới hiển hiện được bản thể một pháp chẳng lập.

Ở đây, để dễ hiểu, tôi nói một thí dụ. Bản thể của Chơn Như Pháp Tánh ví như tấm gương quý báu tròn lớn, rỗng rỗng rang rang, trọn không có một vật, thế mà người Hồ đến thì bóng người Hồ hiện, người Hán đến ắt bóng người Hán hiện. Hồ, Hán cùng đến một lúc thì cùng lúc hiện bóng. Chánh đáng rỗng rang, trống lỗng, trọn không có một vật, chẳng trở ngại gì chuyện người Hồ đến, bóng người Hồ hiện; kẻ Hán đến, bóng kẻ Hán hiện. Ngay cả khi người Hồ đến soi bóng người Hồ, người Hán đến soi bóng người Hán, gương vẫn rỗng rang, trống lỗng, trọn không có một vật.

Thiền Tông đặt nặng Chơn Đế, tức là ngay chỗ “vạn hạnh phô bày trọn vẹn” chỉ ngay ra “một pháp chẳng lập”. Tịnh tông chú trọng Tục Đế, tức là ngay nơi “một pháp chẳng lập”, chỉ ra chuyện “vạn hạnh phô bày trọn vẹn”. Bậc trí hiểu rõ Lý sẽ tự chẳng thiên chấp. Nếu không vậy, thà chấp Có còn hơn là chấp Không! Bởi lẽ, nếu chấp Có dẫu chưa viên ngộ Phật tánh vẫn còn có công tu trì; chứ chấp Không sẽ bác không nhân quả, thành ra kiến chấp Đoạn Diệt, hoại loạn Phật pháp, lầm lạc chúng sanh, họa ấy rất lớn, chẳng thể ví dụ nổi!

Chúng ta niệm Phật trước hết phải từ hữu niệm mà khởi. Niệm đến lúc niệm lặng, tình vong ắt không những đã không có Ta là người niệm, mà cũng không có đức Phật để mình niệm, nhưng từng câu, từng chữ vẫn rành rẽ, phân minh, chẳng lầm, chẳng loạn, tức là như thường nói: “Niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm” vậy.

“Niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm” nghĩa là ngay trong lúc đang niệm Phật, trọn chẳng có ý niệm khởi tâm niệm Phật, tuy không có ý niệm khởi tâm niệm Phật nhưng lại niệm rành rẽ, phân minh, liên tục. Nhưng công phu này chẳng phải là điều hạng sơ tâm mong gấp đạt được nổi! Nếu chưa đạt đến mức “vô niệm mà niệm” thì chẳng thể coi chuyện hữu niệm là Sự được, khác nào phá nhà để tìm lấy chỗ trống không! Cái Không ấy quyết chẳng phải là chỗ để an thân lập mạng được!

Các bậc cổ Thiền đức, có nhiều vị lễ bái, trì tụng chẳng tiếc thân mạng, như cứu đầu cháy. Vì thế, Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư ngày làm 108 Phật sự, đêm đi qua ngọn núi khác, đi kinh hành niệm Phật; huống hồ là kẻ hậu học chẳng trọng Sự Tu, mà lại hòng thành tựu được đạo nghiệp hay sao? Muốn triệt ngộ được lý thể “một pháp chẳng lập” thì phải tận lực tu hành công năng “vạn pháp viên tu”; có thế mới là Trung Đạo Không Hữu viên dung!

Kẻ chấp vào Không Giải Thoát, cứ cho chẳng tu một pháp nào hết mới là “một pháp chẳng lập” chính là hạng người chư Phật gọi là “đáng thương xót”. Liên Trì Đại Sư dạy: “Chấp sự mà niệm, giữ cho liên tục thì sẽ chẳng luống uổng công, được nhập vào phẩm vị [vãng sanh]. Chấp lý nhưng tâm chưa thật sự thông đạt, khó tránh nổi cái họa đọa lạc. Bởi lẽ, Sự có công năng dẫn nhập Lý, Lý chẳng thể tồn tại độc lập”.

Vì thế, chúng ta học Phật phải do chính ngay nơi Sự để thành Lý, do chính ngay nơi Lý để thành Sự. Lý - Sự viên dung, Có - Không bất nhị thì mới có thể viên thành tam muội, liễu thoát sanh tử. Nếu tự cho mình chính là Phật, chấp Lý, phế Sự sẽ sai lầm rất nặng. Vì thế hãy nên tận lực dụng công tu trì, nhất tâm niệm Phật, từ Sự hiển Lý, dẫu hiển Lý vẫn chú trọng nơi Sự mới có sở đắc được.

Ngay như hàng Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn phải dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới hầu mong viên thành Phật Quả. Nay đã là phàm phu chẳng biết tự lượng, lầm coi niệm Phật là Tiểu Thừa, chẳng đáng để tu trì, tương lai có khỏi phải vào A Tỳ được chăng?

Vả nữa, người niệm Phật cần phải tận hết bổn phận mình, chẳng trái nghịch luân lý thế gian, dốc sức gìn giữ nhân luân, tận hết bổn phận, ngăn cấm điều tà, gìn giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành. Nếu chẳng hiếu với cha mẹ, chẳng dạy dỗ con cái thì đúng là tội nhân trong Phật pháp. Như vậy mà muốn được Phật cảm ứng gia bị trọn chẳng có lẽ nào! Vì thế, người học Phật phải là cha lành, con hiếu, anh hiền, em kính, tự lập mình, lại chu toàn cho người, tự lợi, lợi tha. Ai nấy tận hết bổn phận mình, dùng chính thân mình đốc suất người khác, rộng tu Lục Độ, vạn hạnh, để làm gương mẫu nhân từ. Phải biết rằng hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ cũng thuộc vào Lục Độ vạn hạnh.

Người chẳng tin Phật trong thế gian giống như người mang cặp kính màu xem xét vạn vật, thấy là xanh hoặc đỏ là do kính khác màu mà ra, chẳng thấy được bản sắc của sự vật. Vì thế, người học Phật chúng ta chớ có chấp vào kiến giải của chính mình. Nếu chấp vào kiến giải chính mình, ngồi đáy giếng nhìn trời, một mai Diêm La đòi mạng mới hay trước đây mình đã sai lầm, có hối cũng chẳng kịp.

Hiện tại, cõi thế rối bời, xã hội loạn lạc, thiên tai, nhân họa sanh khởi trùng trùng. Muốn tính chuyện cứu vãn, ai nấy phải tận lực gìn giữ nhân luân, tận hết bổn phận, hiếu dưỡng cha mẹ, thương yêu trẻ nhỏ, đại công vô tư, yêu người như yêu chính mình thì mới hòng cứu vãn nổi. Nếu nhân tâm thật có thể bình hòa thì thế giới sẽ tự an, quốc nạn sẽ tự dứt.

Hiện tại, mối họa hoạn lớn nhất là con người ôm lòng riêng tư. Lòng riêng tư đến cùng cực thì sẽ chỉ còn biết đến mình, chẳng đoái hoài tới ai khác. Tư ngụy, dối trá, âm độc, hiểm ác, mặc lòng tàn khốc, xâu xé, áp bức, không gì là chẳng làm đến mức kịch liệt; thế giới này trở thành cõi đời La Sát. Rốt cuộc cũng đến nỗi trời giận, người oán, thân nát, nhà tan mà thôi.

Thế nhân ham thích cảnh thịnh trị rạng ngời, rực rỡ, thiên hạ thái bình thời Đường Ngu, cứ than thở thói đời hiện tại suy đồi, nhân tâm hiểm ác, nhưng xét đến cùng cực tại sao nên nỗi thì thật sự chẳng ngoài hai chữ Công và Tư mà thôi! Công đến cùng cực ắt thế giới đại đồng, tư đến cùng cực ắt sẽ giết cha, hãm vợ. Nếu phá trừ được tư tâm thì sẽ chẳng tàn hại lẫn nhau, thì sẽ chẳng khó gì lại được thấy cảnh đời Đường Ngu Tam Đại trong ngày nay!

Xưa kia, tại Phổ Đà có một vị lão Tăng đi đường, chợt va phải cái ghế rêm cả chân, liền cáu tiết, đạp đổ cái ghế xong, còn co chân đạp liên tiếp mấy đạp nữa. Có tri kiến như vậy là do mặc tình ngã mạn, tuyệt chẳng phản tỉnh vì sao xảy ra cớ sự. Nếu cứ để tri kiến như vậy lừng lẫy thì nếu nó đạt đến mức cùng cực, sẽ chẳng khó gì làm chuyện giết người, phóng hỏa mà cũng chẳng coi đó là lỗi, trái lại còn coi đó là chuyện nên làm nữa! Hiện tại sát cơ càng thạnh, dụng cụ giết người càng thêm xảo diệu, đại kiếp đang chờ trước mắt, ai sẽ may mắn thoát khỏi? Chỉ mong đại chúng nhất tâm tu thiện, kiền thành niệm Phật, ai cầu Phật lực gia bị mới nên.

Trong khi chiến cuộc xảy ra ở Thượng Hải, những nhà cửa ở vùng Áp Bắc cháy tan ra tro, chỉ còn khu nhà của một đệ tử quy y là ông Hạ Hinh Bồi chưa bị họa hoạn. Ngay trong lúc chiến sự kịch liệt, toàn gia cùng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cảm ứng. Điều kỳ lạ nhất là bảy ngày sau khi cuộc chiến nổ ra, người trong nhà mới được Thập Cửu Lộ Quân cứu ra; lúc tàn cuộc chiến trở về nhà, chẳng mất một vật gì. Nếu Bồ Tát chẳng gia hộ thì sao mà được như vậy? Đó là do từ khi ông ta làm việc cho một tòa soạn nhật báo đã mấy mươi năm, vợ chồng đều ăn chay, niệm Phật thật chí thành.

Cứ vậy thì biết Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ, đại bi, nếu gặp tai nạn, một phen xưng niệm thánh hiệu, cả nhà đã được cứu giúp. Hoặc có kẻ bảo: “Người đời ngàn vạn, tai nạn phát sanh dồn dập, Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ có một mình làm sao cùng lúc đến cứu từng người được? Dù có cứu giúp cũng khó tránh khỏi mệt nhọc”. Kẻ ấy nào biết Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng phải thật sự đến từng chỗ cứu giúp, mà chính là Quán Âm trong tự tâm mình tự cứu giúp đó thôi! Quán Âm vốn vô tâm, lấy tâm chúng sanh làm tâm, nên ngài có thể xem thấy nên dùng thân nào để cứu độ thì sẽ hiện ngay thân đó để thuyết pháp.

Như vầng trăng vằng vặc trên không, bất cứ chỗ nào có nước đều hiện bóng trăng, ngàn dòng sông có ngàn vầng trăng in bóng. Thử hỏi trăng ấy là một hay là nhiều? Chẳng thể nói là một, vì trăng hiện bóng trong muôn dòng nước. Cũng chẳng thể nói là nhiều vì vầng trăng trên không luôn chỉ có một.

Chư Phật, Bồ Tát cứu độ hữu tình cũng giống như thế. Chẳng được cảm ứng là do chúng sanh còn chưa kiền thành, hoặc là vì nghiệp nặng, chướng sâu quá mức, chứ chẳng phải Bồ Tát không cứu giúp. Như cái ao nước dơ bẩn quá, bóng trăng có muốn hiện trong ấy cũng chẳng được. Hiểu lẽ này rồi thì tôi chẳng tin là đại chúng chúng ta dẫu niệm Phật mà vẫn chẳng chánh tâm, thành ý, khẩn thiết, kính ngưỡng.

Một đệ tử ở huyện Văn Hỷ, tỉnh Sơn Tây là ông Diệp Tư Sơ, cưỡi lừa đi trong vùng núi thẳm, một bên núi cao chót vót, một bên là khe sâu thăm thẳm. Tuyết đông thành băng, con lừa trượt chân, liền rơi xuống khe. Ngang lưng vách núi có một cây to, ông Diệp rớt đúng ngay trên chạc cây ấy, không hề hấn gì, chẳng bị tan thân, nát xương. Sao lại có cái cây mọc ở đó? Ta cũng có thể bảo là Quán Âm Bồ Tát thị hiện vậy!

Lại nữa, năm Dân Quốc mười bảy (1928), ông Thái Nhân Sơ người huyện Ninh Ba mở cửa hàng Ngũ Kim Lưu Ly ở Thượng Hải. Ông là người cực thuần hậu, chơi thân với ông Nhiếp Vân Đài. Vân Đài dạy ông Thái thường niệm Quán Thế Âm, cốt ý để khỏi bị bắt cóc, tống tiền. Nhân Sơ tin theo. Ngày nọ, ông sắp về, có chiếc xe hơi đậu ngoài cửa, bọn cướp cầm súng buộc phải lên xe, ngồi xổm trên đó. Ông Nhân Sơ vừa bước ra, lên xe, xe đã rồ máy chạy. Ông vừa biết là mình bị bắt cóc, liền thầm niệm Quán Âm, mong cho xe chết máy hòng thoát nạn. Quả thật, xe bị bể bánh, xe lăn bánh khặc khừ, nhưng vẫn cứ chạy tiếp. Bình xăng lại bùng cháy khiến xe bắt lửa, bọn cướp phải xuống xe. Chúng cáu kỉnh hướng về phía ông Thái nã liền ba phát súng, nhưng ông Thái chạy né khỏi được, liền ngồi xe kéo trở về. Tháng Sáu năm đó, ông cùng vợ cùng đến Phổ Đà quy y Tam Bảo.

Lại nữa, ông Trương Thiếu Liêm vì việc hàng hải đi kinh lý, ông này trọn chẳng tin Phật. Một ngày kia, ngồi xe hơi lái đến chỗ nghỉ mát, hai tên cướp cầm súng trèo lên xe, buộc ông Trương phải mau lái xe đến chỗ nọ. Mỗi tên đều cầm súng đe nẹt ông. Ông Trương thầm niệm Quán Âm, xe lái đến chỗ nhiệt náo, chợt có hai người đánh lộn, tuần bộ thổi còi, hai tên cướp liền trèo xuống xe, lủi mất. Đấy là vì ông Trương thầm niệm Quán Âm nên hai tên cướp mới lầm tưởng là tuần bộ toan đến bắt chúng. Cậu ông ta là cụ Chu Vị Thạch đã quy y từ trước, một hôm thỉnh tôi đến nhà cụ. Họ Trương cũng đến quy y.

Lại nữa, con ông Lý Cận Châu ở Trấn Hải lo việc buôn bán trên đường biển, bị bịnh thổ huyết đã hai năm. Có lúc thổ huyết thình lình, lúc không thổ huyết thì trong đàm thường lẫn máu. Một ngày, ông bị bọn cướp bắt. Cả nhà ông Cẩn Châu sợ hãi dị thường, cùng niệm cầu Quán Âm cứu ông. Lại thỉnh chư Tăng chùa Pháp Tạng trợ niệm. Sau đấy, bọn cướp đòi năm mươi vạn đồng tiền chuộc. Nhà họ Lý chỉ có năm vạn. Tên đầu sỏ bọn cướp bảo không đủ năm mươi vạn là không xong; nhưng mỗi khi hắn đề cập đến năm mươi vạn, đầu liền bị nhức buốt, sau đành chấp thuận năm vạn tiền chuộc. Từ khi ông Cẩn Châu được bọn cướp thả về, chẳng những không bị thổ huyết, mà có khạc đàm cũng chẳng thấy lẫn máu nữa! Suốt hơn hai năm vương bệnh tật, sau khi bị cướp bắt, bệnh được khỏi hẳn.

Trên đây tôi vừa thuật những sự tích cảm ứng, quý vị nên tin tưởng sâu xa, tận lực hành trì thì mới chẳng uổng công nghe giảng ngày hôm nay vậy. Hiện tại, người học Phật rất nhiều, nhưng người hiểu biết Phật pháp sâu sắc lại quá ít, trái lại, đa số tin vào những lời lẽ của ngoại đạo. Miền Giang Triết có lời ngoa truyền rằng: “Người niệm Phật chẳng được vào phòng đàn bà sanh nở vì mỗi khi bị chất máu tanh hôi của bà đẻ suông nhằm, bao nhiêu công đức niệm Phật từ trước tiêu mất hết”. Vì thế, ai nấy coi đó là cấm địa, dù là phòng sanh của con gái, con dâu mình cũng chẳng dám bước vào. Thậm chí, có người còn tìm chỗ để ẩn mặt sẵn từ trước. Đầy tháng xong mới dám trở về nhà. Lời đồn thổi này mới quái dị làm sao? Chẳng hề biết đó chính là tà thuyết của ngoại đạo làm lầm lạc, điên đảo nhân tâm, sao lại đành tin nhảm vậy?

Tôi nhớ vào năm Dân Quốc thứ mười hai (1923), con dâu thứ của ông Viên Hải Quán, tuổi gần mười sáu, có chút học vấn, có hai trai, hai gái. Lúc con dâu trưởng sắp sanh, có một vị cư sĩ bảo: “Con dâu ông sắp sanh, trong vòng một tháng, ông không được cúng Phật trong nhà, cũng chẳng được niệm Phật”. Ông ta nghe xong, hồ nghi, vừa may tôi đến đất Hỗ, ông bèn hỏi ý việc ấy.

Tôi nói: “Đừng tin lời nói xằng. Về bảo con dâu ông niệm Quán Âm cho nhiều, lúc sanh cần niệm Phật ra tiếng. Ông cùng những người săn sóc sản phụ ai nấy đều nên niệm lớn tiếng thì nhất định chẳng đến nỗi bị sanh khó, không bị những nạn đau đớn, băng huyết v.v… Mà sau khi đẻ xong cũng chẳng bị các điều nguy hiểm”. Ông ta nghe nói, rất mừng. Qua mấy ngày sau, cháu bé sanh ra, thân rất to, lẽ ra phải là người Hồ Nam mới sanh con lớn cỡ đó. Đứa bé nặng đến chín cân rưỡi, nhưng người mẹ chẳng đau đớn gì. Vậy mới biết sức đại từ, đại bi của Quán Âm Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn.

Bình thường niệm Phật, niệm Bồ Tát, phàm lúc sắp ngủ, lúc rửa chân, tắm gội đều nên niệm thầm. Nhưng lúc sanh nở chẳng được niệm thầm vì lúc sanh phải dùng sức, niệm thầm ắt sẽ bị tức khí thành bệnh. Phải nên rất chú ý điểm này. Phải biết là Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, Pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, chúng sanh tâm lực cũng chẳng thể nghĩ bàn, có điều là con người có kiền thành hay không mà thôi!

Vị cao tăng đời Minh là ngài Thọ Xương Huệ Kinh thiền sư lúc sắp sanh, mẹ bị sanh khó. Ông của ngài đứng ngoài phòng sanh, vì con cháu niệm kinh Kim Cang để được dễ sanh. Cụ vừa mới mở miệng niệm xong hai chữ Kim Cang, cháu đã được sanh. Nhân đó, ông cụ bèn bảo đặt tên cho cháu là Huệ Kinh. Lớn lên, quy y và xuất gia đều chẳng lấy tên nào khác. Trong thời Vạn Lịch (Minh Thần Tông 1573-1620), ngài là vị cao tăng lỗi lạc. Do đấy, gẫm xem thì biết là Phật pháp lợi lạc thế gian rất lớn. Niệm Quán Âm Bồ Tát vào lúc sanh sản có lợi ích như thế đó, chớ để tà thuyết mê hoặc mà chẳng tín phụng Ngài!

Thế nhân ăn thịt thành thói quen. Chỉ cần biết là bất cứ loại thịt nào đi nữa đều có chất độc, vì lúc sanh vật bị giết, hận tâm, oán khí ngùn ngụt. Người ăn vào tuy chẳng đến nỗi táng mạng ngay lập tức, nhưng tích tập lâu ngày sẽ phát thành ghẻ chốc, tật bệnh. Những phụ nữ trẻ tuổi nổi nóng xong cho con bú sữa mẹ, đứa bé có thể bị chết; ấy là vì sự nóng giận khiến cho sữa bị nhiễm độc. Sự nóng giận của con người vào lúc chưa phải bị đau khổ trí mạng còn độc đến thế, huống là cái đau mất mạng của những loài heo, dê, gà, vịt, cá, tôm v.v… Cứ suy ra thì biết thịt chúng độc đến đâu!

Hơn mười năm về trước, tôi có thấy một cuốn sách nói: “Một phụ nữ Âu Tây tánh tình nóng nảy quá mức, ngày nọ vừa nổi nóng xong, cho con bú, đứa bé chết ngay, chẳng biết vì nguyên do gì. Sau lại sanh đứa khác, lại nhân lúc nóng giận cho con bú, nó bị chết luôn; bèn đem sữa đi xét nghiệm thì thấy sữa có chất độc. Lúc đó mới biết cả hai đứa con đều chết vì sữa bị hóa độc”.

Gần đây, có một bà cụ đến quy y. Tôi khuyên cụ ăn chay, nại cớ thịt có chất độc và kể chuyện người phụ nữ Âu Tây có hai đứa con chết nói trên làm chứng. Cụ ta bảo mình cũng có hai đứa con bị chết cùng nguyên nhân bởi lẽ chồng cụ tánh khí ngang ngược, man rợ, cứ hễ trái ý liền đánh đập vợ. Con nhỏ trông thấy khóc òa lên, mẹ liền cho bú. Đứa bé chết tốt. Lúc ấy, cụ chẳng biết là sữa bị hóa độc. Con dâu cụ cũng vì cho con bú mà chết mất một đứa. Đủ thấy con nít trong đời bị trúng sữa độc chết chẳng biết là bao nhiêu.

Do người phụ nữ Tây Phương phát giác trước tiên và cụ bà kia xác nhận, ta mới thấy thật minh bạch. Vì thế, người mẹ cho con bú sữa mẹ chớ nên nổi nóng. Nếu như đang giận dữ quá mức thì đừng có cho con bú, cần phải đợi đến lúc tâm trạng lắng dịu, hết còn giận hờn chờ vài tiếng sau mới cho con bú không ngại gì. Nếu ngay lúc đó, chưa bao lâu sau đã cho bú thì không đến nỗi làm chết con, nhưng cũng tạo thành bệnh mà chẳng biết nguyên nhân.

Cùng một lẽ đó, các loài trâu, dê v.v… lúc bị giết tuy chẳng nói được, nhưng oán độc uẩn kết trong máu thịt không biết là bao nhiêu! Chẳng những chỉ tăng thêm sát nghiệp mà còn chiêu lấy tội báo trong tương lai, hiện đời cũng bị lắm bệnh nghiệt, đoản mạng, thật là đáng thương, đáng xót vậy. Ít người biết được điều này nên tôi phải nêu rõ ra, ngưỡng mong đại chúng đều nên lưu ý. Lấy đó mà suy thì thấy: khi người ta nóng giận, chẳng những sữa có chất độc mà nước mắt, nước miếng cũng đều có chất độc. Nếu những thứ này rơi rớt vào miệng, mắt trẻ nhỏ cũng gây hại chẳng ít. Có một vị bác sĩ đến quy y tôi, tôi hỏi ông ta: “Trong sách thuốc có nói đến điều này hay không?” Ông đáp: “Chưa từng thấy”.

Trong thế gian có lắm chuyện vượt ngoài thường tình, chẳng thể vin vào lý do chúng không hợp khoa học mà bác bỏ được. Chẳng hạn như cách trị bệnh ngược (2) thì dùng một tấm giấy trắng rộng hai tấc, bọc hai trái ô mai, hai trái hồng táo, vài hạt hồ đậu (số lượng hồng đậu nhiều ít tùy theo tuổi bệnh nhân, bao nhiêu tuổi bấy nhiêu hạt) xếp thành gói. Trước lúc cơn bệnh phát ra khoảng một tiếng đồng hồ, quấn trên bắp tay, nam tả nữ hữu, thì bệnh sẽ chẳng phát nữa. Cách này rất công hiệu. Dù bệnh đã hai ba năm chẳng lành, cũng chữa lành được. Chẳng phải thuốc, chẳng phải bùa, chẳng phải chú lại có công hiệu lạ kỳ như thế, há có thể vận dụng thường lý để giải thích chăng? Bởi đó, ta biết rằng vạn sự trong thế gian, điều nào cũng khó thể nghĩ bàn cả!

Chẳng hạn như mắt thấy, tai nghe là chuyện cực bình thường, ai ai cũng biết cả, nhưng nếu hỏi vì sao mắt thấy được, tai làm sao nghe được, những nhà khoa học sẽ đáp là do tác dụng của thần kinh. Nếu lại hỏi nữa: Vì sao thần kinh lại có tác dụng như thế? Và tại sao lại có thần kinh? Thì e rằng chỉ một ít người đáp nổi. Trong Phật pháp cũng có những sự chẳng thể nghĩ bàn nhưng lại nghĩ bàn được, có những sự có thể nghĩ bàn nhưng lại chẳng thể nghĩ bàn được. Thần diệu nhưng minh bạch, tồn tại ngay trong con người, chẳng thể vội dùng lẽ thường tình để suy lường được!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn