CHƯƠNG 6: CÚNG GIÁC LINH

03/01/201103:17(Xem: 6452)
CHƯƠNG 6: CÚNG GIÁC LINH

CHƯƠNG SÁU: CÚNG GIÁC LINH

1. Giới Thân

Giới thân sơn vị trọng,
Pháp nhủ hải phi thâm.
Bạch bố triền viên đảnh,
Truy truy viễn thốn thầm.

2. Tiêu Diêu

Tiêu diêu chơn thế giới,
Khoái lạc bảo liên trung
Hiệp chưởng Thế Tôn tiền,
Như Lai chơn thọ ký.

3. Thuyền Đường

Thuyền đường thanh tịch tịch,
Pháp tọa ảnh liêu liêu.
Tứ chúng ta hà thị
Thê thê phách dục tiêu.

4. Hàn Yên

Hàn yên mê trượng thất,
Lãnh nguyệt chiếu thuyền song.
Huyễn chất tiêu gian mộng
Chơn thân tuế hậu tòng. (trùng vĩ)

5. Tứ Đại

Tứ đại giang tâm nguyệt,
Tam thân cảnh diện hoa.
Huề lai chơn đích tử,
Trường giá bạch ngưu xa. (Trùng vĩ)

6. Điện Cáo Giác Linh

Chơn thể tùy duyên xứ,
Nguyên minh hốt tơ tàng.
Nga nhiên vân quyện tận,
Lưu nhứt đạo hàng quang. (Trùng vĩ)

7. Thuyền Thất

Thuyền thất đăng quang lãnh,
Kinh song nguyệt ảnh không.
Nhứt triêu hề chích lý
Thiên tải mích vô tung. (Trùng vĩ)

8. U Minh

U Minh Giáo Chủ đức nan cùng,
Ứng hiện chư hình xứ xứ thông.
Đại đạo tam đồ triêm diệu hóa,
Tứ sanh thập loại mộc ân đồng.
Nam mô Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.

9. Tâm Nhiên

Tâm nhiên ngũ phận,
Giới định huệ hương.
Giãi thoát tri kiến điệu nan lường,
Tịnh độ khỉ căn nguyên.
Nhiệt biến tam thiên,
Phụng hiến Giác linh tiền.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.

10. Trầm Nhũ

Trầm nhủ chiên đàn giá mạc luân,
Kim lô tài nhiệt phún tường vân.
Nhân huân biến triệt tam thiên giới
Duy trượng chơn hương dĩ giáng thần.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.

11. Trượng Thất

Trượng thất không lưu nguyệt,
Thiền phòng bán tỏa yên.
Bổn lai chơn diện mục?
Hồ họa xuất thiên nhiên. (Trùng vĩ)

12. Bát Trung

Bát trung lương tích phạn,
Bôi lý Triệu Châu trà.
Liểu dĩ kiểu thuyền duyệt,
Thành kỳ mặc hữu gia. (Trùng vĩ)

13. Chơn Như

Chơn như bất biến thả tùy duyên,
Ế họa trần tiêu nhứt tánh viên.
Cử túc dĩ siêu tam giới ngoại,
Hoàn lai hựu thượng độ sanh thuyền.

14. Thiên Nhiên

Thiên nhiên nhứt trản triệu châu trà,
Thạch đỉnh phanh lai vị khả tri.
Xuyết trước phương tri tiêu tức xứ,
Hinh hương mãn khẩu phụng đoàn hoa.

15. Niết Bàn

Niết bàn nhứt khứ vạn duyên hưu
Cao quãi cân bình dĩ triệt đầu.
Chích lý Tây Qui quan man khỗn,
Nhứt hoa tạ hậu cảnh nán lưu.

16. Giác Linh

Giác linh tảo góa bạch ngưu xa,
Bảo sở tuệ đăng mặc sa đà,
Tam thỉnh giác linh đăng bảo tọa
Cửu liên trì thượng tọa lâu hoa.

17. Sắc Không

Sắc không không sắc bổn cố nhiên,
Sanh tử na năng một bạn biên.
Phiên thân đạp trước bồ đề lộ,
Cử bộ tiện đăng Bát nhã thuyền.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9586)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 29607)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7753)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 7228)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 15654)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5360)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5311)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20939)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6946)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 11569)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.