CHƯƠNG 7: TÁN THÁNH, THẦN

03/01/201103:17(Xem: 5964)
CHƯƠNG 7: TÁN THÁNH, THẦN

CHƯƠNG BẢY: TÁN THÁNH, THẦN

1. Ngưỡng Bằng

Ngưỡng bằng phù sứ dĩ thông tri,
Vân mã đằng không nhứt phiến thời.
Phật quốc thiên cung giai tiến tấu,
Dương gian âm phủ cấp luân di.
Nhứt thành thượng đạt tu cánh đáo.
Ngũ vị đăng trình cấp thảo trì.
Thử dạ mân cần khâm sắc chỉ,
Thần thông biến hóa cấp như phi.

2. Dục Trượng

Dục trượng ngũ phương khai giác lộ,
Tiên bằng nhất trượng tín tâm hương.
Thốn thành liên ngụ u minh hiển,
Ngưỡng khởi thần cơ giáng cát tường.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.chú,

3. Dương Dương

Dương dương ư tai thương,
Hoặc lâm tả hữu chi.
Thốn thành tam bôi chước
Tham thấu quỷ thần ky.

4. Vi Đà

Vi Đà thiên tướng,
Bồ Tát hóa thân.
Ủng hộ Phật Pháp thệ hoằng thâm,
Bảo chử trấn ma quân
Công đức nan luân,
Kỳ thọ phó quần tâm.
Nam mô Phổ Nhãn Bồ Tát.

5. Già Lam

Già lam chủ giả,
Hiệp tự oai linh.
Khâm thừa Phật sắc cọng thâu thành.
Ũng hộ Pháp Vương thành,
Vi hàn vi bình.
Phạm sát vĩnh an ninh/khương.
Nam mô Hộ Pháp Tạng Bồ Tát.

6. Nguyên Thần

Phật quang chú chiếu,
Bổn mạng nguyên thần.
Tai tinh thối độ phước tinh lâm,
Cửu diệu bảo trường sinh.
Vận hạn hòa bình
Phước thọ vĩnh khương ninh.

7. Quang Minh

Quang minh chính đại,
Cảm ứng đạo giao.
Thần tư minh phước nghiệp băng tiêu,
Phật nhựt vĩnh chiêu chiêu.
Lợi ích phong nhiêu,
Tán thán quả cao siêu.

8. Vũ Lộng

Vũ lộng khổng tước triệu châu trà
Thanh thủy hương tuyền hổ phách ba.
Phân khí ngọc bôi hương phúc úc,
Cúng dường Hiền Thánh (hỷ thiện đa)Thiện Phổ Đa.
Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát.

9. Khổng Bí

Khổng bí kim thao thập địa tiên,
Phiêu phiêu kỵ hạc thượng kim liên.
Phú vận từ bi lâm pháp hội,
Nguyện kỳ thần thức giáng trai diên.
Vân lai tập Bồ Tát.

10. Kim Liên

Kim liên phi thượng đáo thiên đình,
Phổ ứng từ quang dung hiễn hiện quang.
Bạch hạc phi thiên trình biểu dẫn,
Dương gian trai kỉnh thiết đàn tràng.

11. Thành Hoàng

Thành Hoàng đương cảnh trấn trung gian,
Trú dạ tuần vô lẫm lẫm hoàng.
Pháp giới chúng sanh vô phân biệt
Thử (nhật, dạ) kim thời lai phú hội
Nam mô Phước Đức Chánh Thần Bồ Tát.

12. Tứ Sanh

Tứ sanh đa phá trận Lao Mông,
Tam hữu tích khai tâm địa hoàn.
Pháp giới chúng sanh vô bĩ thử,
Nhứt tề diễn bạch thượng ngu sa.
Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9375)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 25966)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7407)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 6867)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 14612)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5200)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5116)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20539)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6757)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 10780)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.