Kinh Hạnh Bồ-tát

04/04/201320:36(Xem: 5779)
Kinh Hạnh Bồ-tát

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

KINH HẠNH BỒ-TÁT

Thứ bốn mươi

Lúc bấy giờ, tôn giả Tu-bồ-đề thưa Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là hạnh Bồ-tát?” O

Đức Phật dạy: “Nầy Tu-bồ-đề! Hạnh Bồ-tát là vì Vô Thượng Bồ-đề mà thực hành.”

Nếu đại Bồ-tát thực hành quán chiếu “sắc” là không, “thọ-tưởng-hành-thức” là không, sáu giác quan, sáu đối tượng giác quan đều không, thực hành sáu Ba-la-mật, thực hành nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhứt nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thỉ không, tánh không, các pháp không, tự tướng không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không, thực hành bốn thiền sắc giới, thực hành từ bi hỷ xả, thực hành bốn thiền vô sắc giới, thực hành bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy yếu tố giác ngộ, thực hành tam-muội “không, vô tướng và vô tác,” thực hành tám giải thoát, thực hành chín thiền định, thực hành mười lực, bốn không sợ sệt, bốn trí vô ngại, mười tám đặc tính của Phật, thực hành tâm đại từ đại bi, thực hành hạnh trang nghiêm cõi Phật, thực hành hạnh thành tựu chúng sanh, thực hành các thứ biện tài, văn tự, không văn tự, các môn Đà-la-ni, tánh hữu vi, tánh vô vi, thực hành tất cả chỉ vì đạt được Vô Thượng Bồ-đề mà thôi, không vì một mục tiêu nào khác. O

Như vậy, nầy Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật gọi là Vô Thượng Bồ-đề hạnh, đây là Bồ-tát hạnh.

- Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là Phật?

- Nầy Tu-bồ-đề! Biết thật nghĩa của các pháp nên gọi là Phật. Được thật tướng của các pháp nên gọi là Phật. Thông đạt thật nghĩa nên gọi là Phật. Biết tất cả các pháp đúng như thật nên gọi là Phật. O

-Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là ý nghĩa của Bồ-đề?

- Nầy Tu-bồ-đề! Nghĩa “không” là nghĩa Bồ-đề. Nghĩa như, nghĩa pháp tánh là nghĩa Bồ-đề. Danh tướng ngôn thuyết là nghĩa Bồ-đề.

Nầy Tu-bồ-đề! Thật nghĩa của Bồ-đề chẳng hoại được, chẳng phân biệt được. Thật tướng của các pháp chẳng hư dối, chẳng dị biệt là nghĩa Bồ-đề. Bồ-đề đó là sở hữu của các Đức Phật. Lại nầy Tu-bồ-đề! Các Đức Phật Chánh Biến Tri nên gọi là Bồ-đề. O

- Bạch Đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ-tát vì Bồ-đề đó mà thực hành sáu Ba-la-mật cho đến nhứt thiết chủng trí, đối với các pháp, gọi là đắc, là thất, là tăng, là giảm, là sanh, là diệt, là cấu, là tịnh ?

- Nầy Tu-bồ-đề! Nếu đại Bồ-tát vì Bồ-đề mà thực hành sáu Ba-la-mật cho đến hành nhứt thiết chủng trí, đối với các pháp không được, không mất, không thêm, không bớt, không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch. O

Tại sao vậy? Vì đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã Ba-la-mật chẳng vì được mất, thêm bớt, sanh diệt, nhơ sạch mà phát tâm tu hành nên đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã Ba-la-mật mà vẫn có thể dung thông và bao trùm được bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định Ba-la-mật, bao trùm được từ nội không đến vô pháp hữu pháp không, bao trùm bốn thiền sắc giới, bốn tâm vô lượng, bốn thiền vô sắc, ba mươi bảy yếu tố giác ngộ, ba cửa giải thoát, mười lực, bốn không sợ sệt, tứ trí vô ngại, mười tám đặc tính Phật, đại từ đại bi, mười địa của Bồ-tát, vượt hơn bực Thanh Văn, bực Bích-chi Phật, và an trụ trong cảnh giới Bồ-tát. O

Nầy Tu Bồ đế ! Lúc thực hành Bát-nhã Ba-la-mật, đại Bồ-tát vì chẳng lấy hai pháp mà hành sáu Ba-la-mật nhẫn đến vì chẳng lấy hai pháp mà thực hành nhứt thiết chủng trí.

- Bạch Đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ-tát vì chẳng lấy hai pháp mà thực hành sáu Ba-la-mật, nhẫn đến vì chẳng lấy hai pháp mà thực hành nhứt thiết chủng trí thì Bồ-tát từ lúc mới phát tâm đến tối hậu tâm làm sao có thể làm lớn mạnh gốc lành ?

- Nầy Tu-bồ-đề! Nếu lấy hai pháp mà hành thì căn lành chẳng lớn thêm được. Tại sao? Vì tất cả phàm phu đều nương hai pháp mà chẳng lớn thêm được căn lành. Đại Bồ-tát chẳng lấy hai pháp mà hành nên từ sơ tâm đến hậu tâm, căn lành nhờ vậy được tăng trưởng. Vì thế nên tất cả thế gian, Trời, Người, A-tu-la đều không thể phục, không thể hoại được căn lành của đại Bồ-tát, để làm cho sa vào các pháp bất thiện, đều không thể cản trở được đại Bồ-tát trên con đường thực hành sáu Ba-la-mật.

Nầy Tu-bồ-đề! đại Bồ-tát phải như vậy mà hành Bát-nhã Ba-la-mật. O

- Bạch Đức Thế Tôn! Có phải đại Bồ-tát vì căn lành mà thực hành Bát-nhã Ba-la-mật?

-Này Tu-bồ-đề! Không phải vì căn lành cũng chẳng phải chẳng vì căn lành và cũng chẳng phải vì chẳng phải căn lành mà đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã Ba-la-mật. Nầy Tu-bồ-đề! Theo pháp đại Bồ-tát, chưa cúng dường pháp đến các Đức Phật thì chưa đầy đủ căn lành, chưa được chơn thiện tri thức thì chẳng có thể được nhứt thiết chủng trí. O

- Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát cúng dường pháp đến các Đức Phật, đầy đủ căn lành, được chơn thiện tri thức có thể được nhứt thiết chủng trí ? 

-Nầy Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát từ lúc mới phát tâm cho đến lúc đạt được giác ngộ vô thượng, phải luôn học tập, thọ trì và truyền bá chánh pháp, thể hiện qua mười hai thể loại kinh được các Đức Phật tuyên nói. Vì thấu rõ nên được Đà-la-ni. Vì được Đà-la-ni nên phát khởi trí tuệ vô ngại. Vì phát khởi trí tuệ vô ngại nên dù sanh về đâu, cho đến khi được nhứt thiết trí trọn chẳng quên mất. Đại Bồ-tát cũng ở chỗ chư Phật trồng căn lành. Do gốc lành đó hộ trì mà vị Bồ-tát không thể sa vào ác đạo và các chướng nạn. Do nhờ căn lành đó mà thâm tâm của bồ-tát được thanh tịnh. Vì thâm tâm được thanh tịnh nên có thể làm thanh tịnh cõi Phật, thành tựu việc giáo hoá các chúng sanh. Nhờ thiện căn đó gia hộ nên Bồ-tát không một tích tắt xa rời thiện tri thức, đó là chư Phật, chư đại Bồ-tát và chư Thanh Văn hay tán thán Phật, Pháp, Tăng. O

Như vậy, nầy Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát phải cúng dường pháp đến các Đức Phật, trồng căn lành, gần gũi chơn thiện tri thức.”

Sau khi nghe Đức Phật dạy về Hạnh Bồ-tát tất cả đại chúng đều vui mừng khôn xiết, phát nguyện thực hành theo. O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/11/2015(Xem: 7396)
Trước đây do phương tiện truyền thông còn nhiều hạn chế nên người ta ít khi nghe và thấy chữ "Tân Viên Tịch" trong các văn thư, cáo phó, phân ưu, điếu từ và điếu văn trên các phương tiện truyền thông, nhưng gần đây người ta thấy chữ "Tân Viên Tịch" nhiều hơn trước để chỉ sự kiện một vị Tôn Đức Tăng Ni Giáo Phẩm vừa viên tịch. Vậy trong thực tế có sự khác nhau giữa viên tịch và tân viên tịch không?
19/08/2015(Xem: 8858)
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng, v.v…Xưa tại Ấn Độ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Đức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng Bố tát, nghe pháp…Ngũ Phần Luật có ghi: “chư Tỳ kheo bố tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…”.
14/07/2015(Xem: 21798)
Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 8) sẽ được tổ chức tại chùa Pháp Bảo – Sydney, Úc Châu vào cuối tháng 9 năm 2014. Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 9) năm 2015 dự định sẽ được tổ chức tại chùa Khánh Anh - Evry, Pháp Quốc nhân lễ Khánh Thành chùa cũng như lễ Đại Tường của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Trong dịp này, chư Tăng Ni sẽ hội luận vào ngày thứ bảy 15.08.2015 như chương trình gửi kèm theo đây. Chư Tôn Đức cũng như quý Phật tử nào không tham dự được suốt chương trình các ngày Lễ thì xin mời chọn những ngày thích hợp để đến với Tăng đoàn nhằm nói lên tinh thần cộng trụ trong sinh hoạt Phật sự tại hải ngoại ngày nay. Kính mong chư Tôn Đức và quý vị Phật tử hồi báo cho Ban Tổ
06/06/2015(Xem: 14483)
Nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản là nơi đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Đây là những hình ảnh ghi lại tại nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản. Nơi đây đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Những bức tường được ngăn thành rất nhiều ngăn, mỗi ngăn có đặt một bức tượng Phật bằng pha lê và được chiếu sáng bằng đèn LED nhiều màu. Đằng sau mỗi bức tượng là hũ đựng tro cốt của người đã khuất. Như có thể thấy trong hình ảnh, màu sắc từ mỗi bức tượng được điều khiển một cách có chủ đích, tạo nên "bức tranh" đầy màu sắc trên tường.
31/03/2015(Xem: 26525)
“Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh thế gian danh lợi khách Kinh thanh Phật hiệu hoán hồi khổ hải mộng trung nhơn”. Một làn khói trầm vương nhẹ, một lời kinh khuya sớm, một tiếng chuông rơi… đều làm cho tâm hồn ta nhẹ nhàng, thanh thoát, hướng thượng và quay về với nội tâm. Mỗi tôn giáo đều có những nghi thức và pháp khí hành lễ đặc thù, phù hợp với truyền thống và văn hóa của tôn giáo mình. Đạo Phật, gần hai ngàn năm gắn liền với Dân tộc chúng ta, cho nên những pháp khí, tiếng trống, tiếng chuông chùa… trở thành thân thương, gần gũi, quen thuộc với văn hóa Dân tộc và lắng đọng trong tâm hồn người Việt Nam.
17/11/2014(Xem: 42059)
"Thọ Mai gia lễ" là gia lễ nước ta, có dựa theo "Chu Công gia lễ" tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc, nhưng không rập khuôn theo Trung Quốc. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn áp dụng phổ biến, nhất là tang lễ. Tác giả của "Thọ Mai gia lễ" là Hồ Sỹ Tân hiệu Thọ Mai (1690-1760), người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông đậu tiến sỹ năm 1721 (năm thứ hai triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế.
09/10/2014(Xem: 7860)
Một buổi lễ tụng kinh Pali theo truyền thống Nam tông Tụng kinh hay cầu kinh là một điều phổ biến trong các tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ trong vấn đề này. Tuy nhiên, mục đích của việc tụng niệm thì khác nhau giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Phật giáo là tôn giáo duy nhất không xem tụng niệm như là cầu nguyện. Đức Phật trong nhiều phương cách đã chỉ dạy chúng ta phải có niềm tin vào hành động của mình và kết quả của nó, và qua đó khuyến khích chúng ta nương tựa vào chính mình mà không vào một ai khác. Điều này trong thực tế là điều cốt lõi nơi thông điệp sau cùng của Ngài ở trong kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). Một trong những thông điệp trong kinh ngày là: “Này A Nan, hãy nương tựa chính mình và chớ nương tựa vào ai khác, hãy nương tựa Chánh pháp và chớ nương tựa vào pháp nào khác”.
25/09/2014(Xem: 36856)
Phụng hành lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni trong Kinh Du Hành - bộ Trường A Hàm : “ Chúng Tỳ Kheo phải thường xuyên theo đúng các qui định của Luật Tạng, để giảng luận Chánh Pháp, khiến cho các Tỳ Kheo trong trú xứ cùng sinh hoạt hòa hợp, là pháp đầu trong Bảy Pháp Bất Thối của hàng Thích tử ”. Theo tinh thần đó, chúng ta đã và đang nối gót các bậc Thầy Tổ trong sự nghiệp kế thừa gia bảo của Đức Thế Tôn qua Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư hay Ngày Về Nguồn năm nay là năm thứ 8.
08/09/2014(Xem: 16419)
Đức Phật từng dạy: “Trên đời có hai hạng người đáng quý. Thứ nhất, người chưa hề phạm tội và thứ hai là người lỡ phạm tội nhưng hết lòng sám hối, nguyện không tái phạm.” Kinh sách ghi lại nhiều bài sám với những hình thức ngắn, dài, đại cương hoặc chi tiết, để mỗi hành giả tùy căn cơ, nhu cầu và phương tiện mà phát nguyện sám hối. Ở đây, chỉ xin được chia sẻ đôi giòng, sau hai tuần lễ đại chúng đạo tràng chùa Phật Tổ hành trì, trong khóa tu sẽ liên tục một tháng, tụng lạy bộ“Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp Lương Hoàng Sám”
02/09/2014(Xem: 11257)
Đạo Phật là Đạo cứu chúng sanh ra khỏi sáu cõi sinh, tử, luân hồi khổ đau, để đến các cõi Phật, là những cõi vô sanh, vô tử. Do đó chư Phật trong 10 phương thế giới Phật, đều thị hiện vào Tam giới, Lục đạo, để cứu khổ chúng sanh theo sở nguyện và phương tiện(giáo pháp, tâm đại từ bi, trí tuệ) của mình. Như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện vào cõi Ta bà, nói Pháp và hướng dẫn con Người tu tập giáo pháp, để giải thoát sanh tử, luân hồi. Đức Phật còn thuyết minh về các kinh