Kinh Dụ Ngôn Bọt Nước

04/04/201320:01(Xem: 6354)
Kinh Dụ Ngôn Bọt Nước

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

KINH DỤ NGÔN BỌT NƯỚC

Thứ hai mươi chín

Lúc bấy giờ, Thế Tôn an trụ,

bên sông Ấn Độ: Hằng hà

Sóng đùa bọt nước tung ra,

Phật kêu đệ tử ra mà quán soi. O

***

Hãy chuyên chú nhìn rồi quán sát,

Lấy lý nhìn bọt nước rỗng không,

Bọt không có lõi bên trong,

Làm sao có lõi giữa lòng bọt kia.

Này Tỳ-kheo cũng như thế đấy,

Phàm những gì “sắc” thấy xưa nay,

Đã qua, hiện tại, vị lai,

Nhuyễn thô, xấu tốt, trong ngoài, gần xa.O

Hãy chuyên chú để mà quán sát,

Lấy lý nhìn thấy “sắc” trống không,

“Sắc” nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi giữa lòng “sắc” kia.

Này tỳ-kheo cũng như ví dụ,

Vào mùa thu mưa dội ở ngoài,

Mưa to bong bóng nổi đầy,

Hiện rồi biến mất trong vài sát-na.O

Hãy chuyên chú để mà quán sát,

Lấy lý nhìn, bong bóng trống không,

Bóng nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi giữa lòng bóng kia.O

***

Này Tỳ-kheo cũng như thế đấy,

Phàm những gì “thọ” thấy xưa nay,

Đã qua, hiện tại, vị lai,

Nhuyễn thô, xấu tốt, trong ngoài, gần xa.

Hãy chuyên chú để mà quán sát,

Lấy lý nhìn thấy “thọ”trống không,

“Thọ” nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi giữa lòng “thọ” kia.O

Này Tỳ-kheo cũng như ví dụ,

Vào mùa hè đến độ giữa trưa,

Giờ này đứng bóng đang mùa,

Ráng trời một khoảng mới vừa hiện lên.

Hãy lấy lý mà nhìn, quán sát

Chuyên chú nhìn, thấy chúng rỗng không,

Ráng nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi giữa lòng ráng kia.O

***

Này Tỳ-kheo cũng như thế đấy,

Phàm những gì “tưởng” thấy xưa nay

“Tưởng” nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi trong lòng “tưởng” kia. O

Này Tỳ-kheo ví như có kẻ,

Đi ra rừng để kiếm lõi cây,

Người này thấy cụm chuối dầy,

Thân cao mọc thẳng ra tay chặt liền.

Rồi vội vã đến bên lột vỏ,

Vỏ hết rồi, tìm lõi được sao ?

Mọi người chuyên chú nhìn vào,

Lấy lý quán sát chuối nào lõi đâu.

Chúng hiện rõ bấy lâu trống rỗng,

Làm sao mà có lõi ở đây,

Rõ ràng thân chuối phơi bày,

Không hề có lõi ở ngay trong lòng.

Thân chuối lộ rỗng không đâu lõi,

Làm sao mà có lõi bên trong,

Rõ ràng trong ruột rỗng không,

Làm sao có lõi giữa lòng chuối kia. O

***

Này Tỳ-kheo cũng như vậy đấy,

Phàm những gì “hành” thấy xưa nay,

“Hành” nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi giữa lòng “hành” kia. O

Này Tỳ-kheo như trò ảo thuật,

Của những người làm xiếc chuyên môn,

Bày trò những ngón tinh khôn,

Nếu nhìn chuyên chú tỏ tường ngay thôi.

Hãy lấy lý rạch ròi quán sát,

Mọi người nhìn thấy chúng trống không,

Trò này không thật bên trong,

Làm sao có lõi trong lòng “trò” kia.O

***

Này Tỳ-kheo cũng như thế đấy,

Phàm những gì “thức” thấy xưa nay

“Thức” nào có lõi bên trong,

Làm sao có lõi trong lòng “thức” kia.

Đã thấy vậy, Tỳ-kheo nên biết,

Thánh Đa Văn đệ tử chán nhàm,

Của “sắc, thọ, tưởng, thức, hành”

Cũng nhờ nhàm chán tự mình lìa tham.

Bởi lìa tham dễ dàng giải thoát,

Hết buộc ràng, chánh trí khởi lên:

“Ta vừa giải thoát đảo điên,

Không còn chìm đắm triền miên luân hồi.

Vị này biết rõ thế rồi,

Thế Tôn cũng giảng nơi nơinhư vầy: O

***

“Sắc” như bọt nước tan ngay,

“Thọ” như bong bóng nước ngoài mưa rơi.

“Tưởng” thì ví tựa ráng trời,

“Hành” như thân chuối khắp nơi mọi vùng.

“Thức” như ảo thuật vô chừng,

Chư Phật và các thánh nhân trên đời.

Đều cùng giảng nói vậy thôi,

Rõ ràng “ vô ngã” tự nơi thân mình.

Như vầy chuyên chú mà nhìn,

Lý chơn quán sát tận tình chiếu soi.

Dựa vào lý quán rạch ròi,

Rõ ràng các pháp tánh thời trống không. O

Khởi đầu hãy tự quán thân,

Những gì Đại Trí vẫn thường thuyết như:

Khi nào ba pháp tiêu trừ,

Bấy giờ thấy “sắc” bị từ bỏ đi.

Thân giả hợp có ra chi,

Không còn hơi ấm, “thọ” lìa “thức” tan.

Bị quăng nằm đó ai màng,

Làm mồi cấu xé cho đàn chim muông.

Sắc thân luân chuyển vô thường,

Ngu si ảo hoá khôn lường tinh ranh.

Như là những kẻ sát sanh,

Lõi cây không thấy quẩn quanh tìm hoài.O

***

Quán soi các uẩn như vầy,

Tỳ-kheo tinh tấn đêm ngày không lơi.

Phải luôn tỉnh giác từng thời,

Tư duy chánh niệm không rời thân tâm.

Bỏ đi tất cả buộc ràng,

Để làm chỗ tựa bình an đi vào.

Sống như “chữa lửa cháy đầu,”

An vui tịch tịnh, ngõ hầu chứng nên.O

Nam Mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/11/2015(Xem: 7331)
Trước đây do phương tiện truyền thông còn nhiều hạn chế nên người ta ít khi nghe và thấy chữ "Tân Viên Tịch" trong các văn thư, cáo phó, phân ưu, điếu từ và điếu văn trên các phương tiện truyền thông, nhưng gần đây người ta thấy chữ "Tân Viên Tịch" nhiều hơn trước để chỉ sự kiện một vị Tôn Đức Tăng Ni Giáo Phẩm vừa viên tịch. Vậy trong thực tế có sự khác nhau giữa viên tịch và tân viên tịch không?
19/08/2015(Xem: 8800)
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng, v.v…Xưa tại Ấn Độ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Đức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng Bố tát, nghe pháp…Ngũ Phần Luật có ghi: “chư Tỳ kheo bố tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…”.
14/07/2015(Xem: 21666)
Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 8) sẽ được tổ chức tại chùa Pháp Bảo – Sydney, Úc Châu vào cuối tháng 9 năm 2014. Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 9) năm 2015 dự định sẽ được tổ chức tại chùa Khánh Anh - Evry, Pháp Quốc nhân lễ Khánh Thành chùa cũng như lễ Đại Tường của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Trong dịp này, chư Tăng Ni sẽ hội luận vào ngày thứ bảy 15.08.2015 như chương trình gửi kèm theo đây. Chư Tôn Đức cũng như quý Phật tử nào không tham dự được suốt chương trình các ngày Lễ thì xin mời chọn những ngày thích hợp để đến với Tăng đoàn nhằm nói lên tinh thần cộng trụ trong sinh hoạt Phật sự tại hải ngoại ngày nay. Kính mong chư Tôn Đức và quý vị Phật tử hồi báo cho Ban Tổ
06/06/2015(Xem: 14395)
Nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản là nơi đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Đây là những hình ảnh ghi lại tại nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản. Nơi đây đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Những bức tường được ngăn thành rất nhiều ngăn, mỗi ngăn có đặt một bức tượng Phật bằng pha lê và được chiếu sáng bằng đèn LED nhiều màu. Đằng sau mỗi bức tượng là hũ đựng tro cốt của người đã khuất. Như có thể thấy trong hình ảnh, màu sắc từ mỗi bức tượng được điều khiển một cách có chủ đích, tạo nên "bức tranh" đầy màu sắc trên tường.
31/03/2015(Xem: 26340)
“Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh thế gian danh lợi khách Kinh thanh Phật hiệu hoán hồi khổ hải mộng trung nhơn”. Một làn khói trầm vương nhẹ, một lời kinh khuya sớm, một tiếng chuông rơi… đều làm cho tâm hồn ta nhẹ nhàng, thanh thoát, hướng thượng và quay về với nội tâm. Mỗi tôn giáo đều có những nghi thức và pháp khí hành lễ đặc thù, phù hợp với truyền thống và văn hóa của tôn giáo mình. Đạo Phật, gần hai ngàn năm gắn liền với Dân tộc chúng ta, cho nên những pháp khí, tiếng trống, tiếng chuông chùa… trở thành thân thương, gần gũi, quen thuộc với văn hóa Dân tộc và lắng đọng trong tâm hồn người Việt Nam.
17/11/2014(Xem: 41304)
"Thọ Mai gia lễ" là gia lễ nước ta, có dựa theo "Chu Công gia lễ" tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc, nhưng không rập khuôn theo Trung Quốc. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn áp dụng phổ biến, nhất là tang lễ. Tác giả của "Thọ Mai gia lễ" là Hồ Sỹ Tân hiệu Thọ Mai (1690-1760), người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông đậu tiến sỹ năm 1721 (năm thứ hai triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế.
09/10/2014(Xem: 7801)
Một buổi lễ tụng kinh Pali theo truyền thống Nam tông Tụng kinh hay cầu kinh là một điều phổ biến trong các tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ trong vấn đề này. Tuy nhiên, mục đích của việc tụng niệm thì khác nhau giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Phật giáo là tôn giáo duy nhất không xem tụng niệm như là cầu nguyện. Đức Phật trong nhiều phương cách đã chỉ dạy chúng ta phải có niềm tin vào hành động của mình và kết quả của nó, và qua đó khuyến khích chúng ta nương tựa vào chính mình mà không vào một ai khác. Điều này trong thực tế là điều cốt lõi nơi thông điệp sau cùng của Ngài ở trong kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). Một trong những thông điệp trong kinh ngày là: “Này A Nan, hãy nương tựa chính mình và chớ nương tựa vào ai khác, hãy nương tựa Chánh pháp và chớ nương tựa vào pháp nào khác”.
25/09/2014(Xem: 36580)
Phụng hành lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni trong Kinh Du Hành - bộ Trường A Hàm : “ Chúng Tỳ Kheo phải thường xuyên theo đúng các qui định của Luật Tạng, để giảng luận Chánh Pháp, khiến cho các Tỳ Kheo trong trú xứ cùng sinh hoạt hòa hợp, là pháp đầu trong Bảy Pháp Bất Thối của hàng Thích tử ”. Theo tinh thần đó, chúng ta đã và đang nối gót các bậc Thầy Tổ trong sự nghiệp kế thừa gia bảo của Đức Thế Tôn qua Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư hay Ngày Về Nguồn năm nay là năm thứ 8.
08/09/2014(Xem: 16210)
Đức Phật từng dạy: “Trên đời có hai hạng người đáng quý. Thứ nhất, người chưa hề phạm tội và thứ hai là người lỡ phạm tội nhưng hết lòng sám hối, nguyện không tái phạm.” Kinh sách ghi lại nhiều bài sám với những hình thức ngắn, dài, đại cương hoặc chi tiết, để mỗi hành giả tùy căn cơ, nhu cầu và phương tiện mà phát nguyện sám hối. Ở đây, chỉ xin được chia sẻ đôi giòng, sau hai tuần lễ đại chúng đạo tràng chùa Phật Tổ hành trì, trong khóa tu sẽ liên tục một tháng, tụng lạy bộ“Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp Lương Hoàng Sám”
02/09/2014(Xem: 11167)
Đạo Phật là Đạo cứu chúng sanh ra khỏi sáu cõi sinh, tử, luân hồi khổ đau, để đến các cõi Phật, là những cõi vô sanh, vô tử. Do đó chư Phật trong 10 phương thế giới Phật, đều thị hiện vào Tam giới, Lục đạo, để cứu khổ chúng sanh theo sở nguyện và phương tiện(giáo pháp, tâm đại từ bi, trí tuệ) của mình. Như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện vào cõi Ta bà, nói Pháp và hướng dẫn con Người tu tập giáo pháp, để giải thoát sanh tử, luân hồi. Đức Phật còn thuyết minh về các kinh