Mật Tạng Việt Nam số 30

02/05/201320:04(Xem: 11475)
Mật Tạng Việt Nam số 30

MẬT TẠNG

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân

---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 30

CỰC LẠC NGUYỆN VĂN

Mật Tạng Bộ 2No.935( Tr.80 - Tr.82 )

Chùa Phước Cổ, Đạt Lạt Ma Mộc Đan Đạt Nhĩ Kiết

soạnra Hán văn.

Việt dịch :Sa Môn Thích Quảng Trí

Bố Thí phước đức không tận rất ít có

Mỗi niệm hay khiến xa lìa các thứ nạn

Xem khắp hữu tình như là con mồ côi

Trước Đức Thế Tôn Vô Lượng Thọ lễ lạy

Tiếp đến lễ lạy Phật Thích Ca

Xưng tán ngợi khen việc làm tốt

Cầu sanh Cực Lạc Nguyện Văn này

Do vì Từ Bi nên cố gắng

Thiện ác các thứ vô minh che

Trời Người mạng sống không bền chắc

Thương yêu cột trói nẻo Luân Hồi

Ngụp lặn chìm nơi ba biển độc

Bệnh, già các thứ thật ghê thay

Chí quyết thoát ly biển sanh tử

Không tham các Dục phải trầm luân

Không chỗ dựa nương cầu cứu độ

Đem hết lòng thành nguyện hiến dâng

Cứu độ chúng con :Di Đà Phật

Quán Âm, Thế Chí, các Bồ Tát

Cùng với quyến thuộc lại vây quanh

Bởi lũ chúng con nhiều số kiếp

Phát lời thệ nguyện chẳng hề quên

Mau chóng như chim dang cánh rộng

Từ Bi thương xót giáng Đạo Tràng.

Phục nguyện :Con và tất cả chúng sanh đầy đủ Phước Trí, hai món tư lương. Khi mạng chung được gần gũi thấy Phật Di Đà, hai vị Bồ Tát :Quán Âm, Thế Chí cùng các quyến thuộc trước sau vây quanh. Bấy giờ, đối với Phật và quyến thuộc sanh lòng tôn kính, chí thành không bị khổ vì sự chết chóc, không xa lìa tâm thành kính, cùng thấy được Cảnh Giới nên niệm không gián đoạn. Tám Đại Phật Tử dùng các Thần Biến đi đến chỉ lối đưa đường dẫn về Cực Lạc.Theo đây mà được về cảnh giới Thù Thắng của Phật, sanh nơi hoa sen báu, phát căn lành Chủng Tánh Đại Thừa.

Khi vừa sanh ra, tất cả các Pháp: Tổng trì, Thiền định, Vô Duyên Đạo Tâm, Vô Tận Biện Tài, các công đức thù thắng đều có đầy đủ. Nương vào Đạo Sư A Di Đà Phật cùng mười phương chư Phật, Bồ Tát thảy đều hoan hỷ, được thọ các pháp Đại thừa, nơi nghĩa các pháp trong khoảng chốc lát đều được thấu hiểu. Lại nương Thần Biến vô ngại đến khắp các cõi nước của chư Phật, rộng làm các Hạnh Bồ Tát, nguyện được đầy đủ.

Khi được sanh ra nơi cõi Phật rồi, khởi tâm dõng mãnh Từ Bi, dùng Thần Biến không ngăn ngại đến các cõi nhơ uế vì các chúng sanh, theo nhân duyên của chúng mà giáo hóa. Nguyện tất cả đều xưng tán và an ở nơi Đạo thanh tịnh của chư Phật, làm những việc hiếm có, mau được đầy đủ, lợi ích vô biên chúng sanh, làm cho tất cả mau được Quả Phật.

Nguyện khi con lâm chungDi Đà và quyến thuộc

Rõ ràng hiện trước mắt Khiến cho con tin chắc

Nơi thân Trung Ấm được Các Phật Tử dẫn đường

Sanh về nơi Tịnh Độ Trở lại cứu Hàm Linh

Cảnh Giới thù thắng trên, nếu chưa được sanh vào.Nguyện xin đời đời kiếp kiếp thường gặp Phật Pháp, trong các Kinh Điển liễu ngộ :Văn, Tư , Tu . Nguyện được thân thanh tịnh.Được thân này rồi, nơi bảy Đức trang nghiêm, Nguyện không xa lìa, nơi tất cả mọi lúc luôn luôn nhớ niệm đời trước.Nguyện được Túc Mệnh Trí.Đời đời kiếp kiếp thấy tam hữu, sanh tâm nhàm lìa.Nơi công đức giải thoát, khởi tâm ham vui, ưa nơi Phật Đạo.Nguyện được xuất gia, khi được xuất gia, nơi các chỗ ác tâm không nhiễm đắm, giữ gìn giới cấm đầy đủ, đắc Đại Bồ Đề.Nguyện như Đại Tỳ Kheo của Phật A Súc.

Lại đời đời kiếp kiếp, nơi các pháp sạch dơ, nghĩa lý đều rõ, mau được Đạo Quả. Nơi văn nghĩa các pháp, giữ gìn không mất các tổng trì.Nguyện đầy đủ cả, ghi nhớ các pháp, không quên nơi các khổ, các thời.Nguyện được thanh tịnh, biện tài vô ngại.

Lại đời đời kiếp kiếp, các môn Định như :Lăng Nghiêm… Nhẫn Nhục, cho đến Ngũ Nhãn, sáu cảnh giới thần thông. Nguyện đều được tất cả.Lại đời đời kiếp kiếp, tự có sức lực ,phân rõ các thứ Thiện Ác . Nguyện được Trí Huệ rộng lớn.Nơi các pháp nhiễm tịnh, nghĩa lý sâu xa thảy đều hiểu thấu, không có lẫn lộn.Nguyện được Lợi Minh Trí Huệ.

Nếu có chỗ chưa rõ, chưa hiểu, sanh tâm nghi ngờ.Khi vừa khởi tâm, đều bị tiêu diệt không sót.Nguyện Tốc Kiến Trí Huệ được đầy đủ.Thấy người không đủ sức phân tách nghĩa lý Diệu Pháp.Nguyện được Thậm Thâm Trí Huệ.

Nói chung, trình bày các tội về Trí Huệ và nghĩa lý Văn Chương khó hiểu, thảy đều trình bày mổ xẻ rõ ràng, từ phương tiện Chánh Trí tu Hạnh Bồ Tát mau đến bờ kia. Nguyện được như Bồ Tát Văn Thù.Như vậy, vì lợi ích rộng lớn, nguyện mau được các món Trí Huệ sâu xa, tùy duyên gìn giữ, chiết phục các Tà kiến khiến kẻ Trí hoan hỷ, nghe Phật nói Pháp, hay rõ ràng giải nói . Nguyện có Trí Huệ Đáo Bỉ Ngạn.

Lại đời đời kiếp kiếp, vì trọng tự lợi đối với các Hạnh to lớn của Bồ Tát sanh lòng thoái chuyển, nguyện đều chặt đứt.Dùng tâm dõng mãnh làm lợi ích cho kẻ khác đều đến bờ kia, tùy theo phương tiện, nơi Đạo Bồ Đề làm hạnh Bồ Tát đến cuối cùng. Nguyện được như Bồ Tát Quán Tự Tại.

Lại đời đời kiếp kiếp, tu hành lợi mình lợi người, trừ dẹp tà ma, ngoại đạo và tất cả thời, tùy phương tiện sức lực tu hạnh Bồ Tát cho đến rốt ráo.Nguyện được như Bồ Tát Bí Mật Chủ Kim Cang Thủ.Lại đời đời kiếp kiếp, luôn luôn tinh tấn, làm đủ các Hạnh vidiệu của Bồ Tát mới phát tâm, không một giây phút ngừng nghỉ. Từ nơi Hạnh Đại Tinh Tấn đó, mau được Bồ Đề.Nguyện được như Phật Vô Đẳng Thích Ca Vương.

Lại đời đời kiếp kiếp, trừ diệt sự gián đoạn trong khi tu tập, thân tâm có bệnh thời niệm danh hiệu của Phật tức hay trừ các sai lầm của thân, khẩu, yÙ. Nguyện được như Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang.Lại đời đời kiếp kiếp, nếu muốn sống lâu, xưng danh hiệu Phật tức hay trừ diệt hoạnh tử.Nguyện được như Như Lai Vô Lượng Thọ.

Nếu Thọ chướng ( Chướng nạn của mạng sống ) đến, tức thấy Cứu Tế Vô Lượng Thọ dùng 4 nghiệp, tùy nghiệp hiện thân (Noãn, thai, thấp, hóa) điều phục, được thấy thân Ngài. Nguyện thọ chướng thảy đều diệt sạch.Khi được hiện thân hóa độ tức biết được sống lâu, không còn tạo ác nghiệp.Chí thành nương theolực này sanh về các cõi. Nguyện không xa lìa Phật Vô Lượng Thọ, gần gũi các Thiện Tri Thức.

Lại nguyện đời đời kiếp kiếp được đầy đủ các công đức căn bản xuất thế gian ,đầy đủ căn tánh Đại Thừa. Nguyện Thiện Trí Thức Sư hoan hỷ hộ trì.Khi được hộ trì, ở trước Thiện Trí Thức Sư được sanh lòng tin bền chắc, không lui sụt.Nguyện được hoan hỷ.Lại Thiện Trí Thức Sưdạybảo, các lời dạy bảo đều nhớ đầy đủ, theo đó tu tập. Nguyện được rốt ráo dầu trong chốc lát, nguyện không bị bạn ác sai khiến.

Lại đời đời kiếp kiếp, tin sâu nhân quả và tâm xa lìa.Thấy biết rõ ràng tâm Bồ Đề, không thù ghét, ganh tỵ.Nguyện thường không gián đoạn.Dầu sanh nơi nào đều theothân khẩu ý, tu các căn lành, thảy đều vì lợi tha. Nguyện thành Thanh Tịnh Bồ Đề.

Chỉ có Quả Phật là trên hết

Dầu con hiện nay chưa chứng được

Nguyện thân trong sạch để lo tu

Đời đời kiếp kiếp được xuất gia

Biện tài, Thiền định, các Thần thông

Giữ gìn vô biên các công đức

Mau được Trí Huệ lớn vô cùng

Cứu cánh Bồ Đề mau chứng được

Tướng đoản mệnh hiện ra trước mắt

Phật Di Đà theonghiệp hiện thân

Diệt trừ tất cả nghiệp chết oan

Mau được đủ đầy Tánh không chết ( VôTử Tánh )

Lại nguyện đời đời Vô Lượng Thọ

Gần gũi giữ gìn Đại Thừa Sư

Phật đã nói ra các ý màu

Siêng năng tu tập không biếng trễ

Xả bỏ chúng sanh vì tự lợi

Phân biệt các tâm nguyện chẳng sanh

Vì Hạnh lợi tha không nhàm mỏi

Phương tiện, Trí Huệ thảy đều dùng

Nay con trì niệm xưng danh hiệu

Tiêu trừ tội chướng đắc Đạo Quả

Xin nguyện nơi đây thành Tịnh Thỗ

Theo Đại Thừa tu các Pháp Môn

Phật Tử cứu thoát đã dẫn đường

Làm Hạnh Bồ Tát vìlợiích

Tất cả mong cầu đều đầy đủ

Theo ý khởi lên tức được thành

Di Đà, Thích Ca cùng Di Lặc

Văn Thù, Mật Chủ, Quán Thế Âm

Cùng với quyến thuộc của chư Phật

Nguyện này mau chóng được tròn đầy.

CỰC LẠC NGUYỆN VĂN

Mùa Hạ năm Bính Tý 1996


---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/04/2016(Xem: 40763)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay. Thiền giáo xuất hiện từ thời Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Các thế kỷ sau, kinh điển Đại thừa được truyền bá, theo đó tư tưởng Thiền, Tịnh và Mật được phổ biến tại nước ta. Từ lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam cho thấy, ba pháp môn tu đó có sự đóng góp tích cực cho con người và xã hội qua nhiều thời đại.
27/09/2015(Xem: 8826)
Phía trước, ở giữa biển mây phẩm vật cúng dường Đức Phổ Hiền, Nơi an trú của chư vị lama, Yidam, Tam Bảo và Hộ Pháp Cùng các đấng hiền thánh đã thành tựu chân lý; Xin hoan hỷ nhận mây cúng dường các phẩm vật này, và ban cho con chân lý tối thượng.
27/08/2015(Xem: 6563)
Hôm nay, 19-11-2010, tôi đã từng được yêu cầu nói về một số hiểu biết thông thường sai lạc về Phật Giáo. Và có nhiều thứ đa dạng khác nhau, với nhiều lý do khác nhau. Có một số đặc thù là văn hóa, hoặc là đối với văn hóa phương Tây, hay đối với Á châu và những nền văn hóa khác bị ảnh hưởng bởi sự suy nghĩ của phương Tây hiện đại. Có những hiểu biết sai lầm có thể đến từ những vùng văn hóa khác: sự suy nghĩ truyền thống của Trung Hoa, và v.v… Có thể có sự hiểu biết sai lầm sinh khởi phổ quát hơn, qua những cảm xúc phiền não của mọi người. Có thể có sự hiểu biết sai lạc sinh khởi chỉ từ sự kiện rằng tài liệu thì khó để hiểu. Sự hiểu biết sai lạc có thể sinh khởi do bởi những vị thầy không giải thích mọi thứ một cách rõ ràng hay để những thứ hoàn toàn không được giải thích gì cả, vì thế chúng ta phóng chiếu vào chúng những gì chúng ta nghĩ chúng là như vậy. Cũng có thể là tự các vị thầy thấu hiểu sai lạc giáo huấn. Điều ấy đôi khi xảy ra. Bởi vì không phải tất cả những vị thầy đều
20/07/2015(Xem: 23385)
Là Đà La Ni ( thần chú ) mậu nhiệm linh diệu do Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Diễn nói trong Bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm . Hơn 60 năm về trước chư tôn túc Trưởng Lão ở Thừa Thiên đã kính Tín lời dạy của Phật và cũng vì đem sự an lành cho hàng đệ tử Phật, nên các ngài đã in trọn đủ 5 đệ chú Lăng Nghiêm thu nhỏ để cho Phật tử đeo trên thân thể mình, việc phổ lợi nầy bao năm qua đã đem lại diệu lực an lạc cho những ai tin và kính thọ.
06/07/2015(Xem: 23676)
Nếu bản Việt ngữ của pho sách “Đạo Ca Milarepa” đến được tay bạn đọc thì phải nói đây chính là đến từ tình yêu thương và sự gia trì vĩ đại của đức Milarepa cùng chư Thầy Tổ.
10/06/2015(Xem: 12731)
Trong Phật giáo Mật tông Tây tạng có nhiều pháp môn tu tập để đưa hành giả đến Tự chứng ngộ Phật tánh của mình. Được xếp hàng cao nhất trong tất cả các pháp môn đó là Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā) của phái Khẩu Truyền (Kargyu) và Đại Hoàn Thiện (Dzogchen hay Ati-yoga) của phái Cổ Mật (Nyingma). Theo các học giả và hành giả Tây tạng thuộc phái Kargyu – tiêu biểu là Khenchen Thrangu Rinpoche, một trong những đại sư xuất sắc thời hiện đại thuộc dòng Karma Kargyu – thì Mādhyamika (Trung đạo hay Trung quán) là giáo lý dạy về nguyên lý Tánh Không (Shūnyatā) trong hình thức tổng quát và Mahāmudrā (Đại Ấn hay Đại Thủ Ấn) là giáo lý dạy về tu tập và chứng ngộ Tánh Không.
18/05/2015(Xem: 32312)
Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi (bản Việt dịch của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn) HT Thích Huyền Tôn dịch Hạ tải bản Kinh này: Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi (PDF Liên lạc để thỉnh tập sách này tại: Nhà sách Văn Thành Địa chỉ: 235/53 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P7, Q3. TP.HCM ĐT: 848 82028 – 0909 093 106 – 0908 585 560
05/02/2015(Xem: 10044)
Sách Cúng Dường Mây Cam Lồ (Choden Rinpoche) posted Nov 13, 2014, 10:08 PM by Tam Bao Dan [ updated Nov 20, 2014, 10:56 PM by Pema Zangmo ] Một sưu tầm giáo huấn về pháp luyện tâm và các đề tài khác do Choden Rinpoche luận giảng. Gyalten Deying chuyển Việt ngữ. Thanh Liên và Mai Tuyết Ánh hiệu đính. Viet Nalanda Foundation phát hành lầu đầu vào tháng 12 năm 2014. Sách ấn tống không bán. [Đọc sách] Tại Hoa Kỳ và Canada, xin liên lạc [email protected] để nhận sách. Tại Úc Châu, Tân Tây Lan và Đông Nam Á (không kể Việt Nam), xin liên lạc [email protected]. Tại Việt Nam, xin liên lạc [email protected]. Quý vị cũng có thể tìm thấy bản điện tử của sách này ở trang "Giáo Pháp" trong phần "Kinh Sách"
24/01/2015(Xem: 9668)
Nghi Thức Cúng Tsog, Chùa Đại Nhật Như Lai - Maha Vairocana Temple 1631 South White Rd, San Jose, CA 95127 Tel: (408)926-1998 -- Email: [email protected]
22/12/2014(Xem: 35206)
Bộ sách Lamrim Chenmo(tib. ལམ་རིམ་ཆེན་མོ) hay Đại Luận Về Giai Trình Của Đạo Giác Ngộ(Tên Hán-Việt là Bồ-đề Đạo Thứ Đệ Đại Luận) được đạo sư Tsongkhapa Losangdrakpa (tib. རྗེ་ཙོང་ཁ་པ་བློ་བཟང་གྲགས་པ) hoàn tất và phát hành vào năm 1402 tại Tây Tạng và được xem là bộ giáo pháp liễu nghĩa[1]. Bộ sách này sau đó đã trở thành một trong những giáo pháp thực hành tối quan trọng của dòng truyền thừa Gelug, vốn là một trong bốn trường phái Phật giáo lớn nhất tại Tây Tạng đồng thời cũng là dòng truyền thừa mà đương kim Thánh đức Dalai Lama thứ 14 hiện đứng đầu.