3. Đối tượng thiền quán

21/02/201115:20(Xem: 5076)
3. Đối tượng thiền quán

SỐNG THIỀN
Nguyên Minh

CHƯƠNG IV: SỐNG THIỀN

Đối tượng thiền quán

Thiền học truyền thống thường chọn đối tượng thiền quán là các công án thiền. Công án thiền là những đề tài được nêu lên có tính cách như thách thức khả năng luận giải, suy diễn của thiền giả, mà thực chất là chẳng bao giờ có thể dùng khả năng suy luận để tìm ra được đáp án. Chính vì thế, công án thiền giống như một công cụ mà người thầy dùng để bẻ gãy, đập tan mọi khái niệm của người học thiền, khiến cho thiền giả phải trực nhận ra được rằng năng lực của lý trí không bao giờ có thể đưa mình đến tiếp cận được với thực tại tối hậu.

Do tính chất như thế, nên người tham công án phải tập trung mọi nỗ lực, chú tâm hoàn toàn vào công án, và không phải nhắm đến thành công trong việc giải quyết công án mà là để đạt đến sự thất bại tận cùng, xuôi tay đầu hàng của khả năng suy tư lý luận. Chính sau khi đã bế tắc hoàn toàn vì tính chất giới hạn của những khái niệm, hành giả mới hé mở được cánh cửa đến với thực tại bằng trực giác.

Tham công án là một phương tiện trong rất nhiều phương tiện thiền quán. Bởi vậy, công án thiền không phải là những đối tượng duy nhất cho việc thiền quán.

Nếu bạn đến với thiền qua việc quán niệm hơi thở, bạn cũng có thể duy trì đề tài ấy cho việc thiền quán của mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể chọn những đề tài thiền quán khác nữa. Bất kỳ đề tài nào mà bạn thấy là lôi cuốn được sự chú ý, quan tâm nhiều nhất của bạn cũng đều có thể trở thành một đề tài thiền quán. Các đối tượng thiền quán này là những mục tiêu để chúng ta tập trung sự chú ý và duy trì chánh niệm. Chúng không gợi nên những thắc mắc và đòi hỏi giải quyết bằng lý trí. Chúng chỉ là một phần không chia cắt của thực tại mà chúng ta thông qua đó để thể nhập vào cái toàn vẹn. Bằng vào việc quán chiếu nguyên lý duyên khởi nơi đề tài thiền quán, chẳng hạn như đỉnh núi, dòng sông, chiếc lá, đám mây... chúng ta sẽ thể nhập trọn vẹn vào thực tại vốn không chia cắt với đỉnh núi, dòng sông, chiếc lá, đám mây ấy.

Bất cứ đề tài nào khi được tập trung nỗ lực để quán niệm cũng đều có thể giúp chúng ta gặt hái những kết quả tốt đẹp, miễn là chúng ta duy trì được chánh niệm. Chúng ta cần duy trì sự quán niệm về đề tài cho đến khi nào phá vỡ được sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Khi ấy, chúng ta sẽ thấy được sự hiện hữu của tất cả trong chính mình, và cũng thấy được sự hiện hữu của chính mình nơi tất cả.

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/05/2011(Xem: 9338)
Nói về Thiền Vipassana thì có rất nhiều vị tăng nổi tiếng ở Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan đã giảng dạy, nhưng đặc biệt là pháp Thiền được phổ biến ở Âu châu, Mỹ châu lại là pháp Thiền của U Ba Khin, một vị cư sĩ người Miến điện. Nhiều Trung tâm Thiền quốc tế (International Meditation Centers) đã được thành lập tại nhiều nước để truyền bá pháp Thiền của U Ba Khin. Pháp Thiền của U Ba Khin thuộc môn Thiền Vipassana (tiếng Phạn, có nghĩa là Quán, Insight meditation). Thiền Vipassana thuộc hệ thống Nam Tông (Tiểu thừa), căn cứ theo những pháp dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Sutta). Kinh này chỉ pháp tu một cách tổng quát với những nguyên tắc rộng lớn mà không đi sâu vào chi tiết thực hành như pháp Niệm hơi thở (Anapanasati) cho nên khi thực hành có nhiều phương pháp khác nhau, tùy theo sự chứng đắc của mỗi thầy, vì vậy không có được một pháp Thiền Vipassana thống nhất. Tuy vậy dù phương pháp khác nhau nhưng tất cả các Thiền Vipassana đều căn cứ vào kinh Tứ Niệm Xứ.
14/05/2011(Xem: 10515)
Trước khi tìm hiểu kỹ về Thiền tông, chúng ta nên có một quan niệm tổng quát về tông phái này thì khi đi sâu vào chi tiết sẽ bớt bỡ ngỡ. Ngay đối với số đông các Phật tử Việt Nam, Thiền tông cũng là một tông phái được ít người hiểu đến vì tính cách kỳ đặc của pháp tu này, vì vậy nên có những xét đoán, phê bình không đúng. Chúng ta nên tránh việc phê bình, chỉ trích các tông phái khác tông phái mình đang tu, vì tông phái nào cũng đòi hỏi một sự học hỏi sâu xa, nên thường khi chỉ trích các tông phái khác thì chỉ căn cứ theo một số hiểu biết hời hợt về tông phái đó, vì vậy những lời chỉ trích thường không đúng được, và chỉ gây thêm những tranh luận vô ích, mất thì giờ. Chúng ta nên tìm học kỹ để phân biệt rõ ràng và thực hành đúng lời Phật dạy, chứ không phải để tranh luận, chỉ trích.
09/05/2011(Xem: 6937)
Một cách khái quát, Thiền có thể hiểu là trạng thái tâm linh vút cao của một hành giả đã chứng ngộ. Với nghĩa này, Thiền cũng là Đạo, là Phật, là Tâm...
30/04/2011(Xem: 9644)
Vào năm 1986-1987 Hòa Thượng giảng Kinh Nguyên Thủy; đối chiếu Kinh Pali (dịch ra Việt Ngữ) và A Hàm tại Thường Chiếu giúp cho Thiền sinh thấy rõ nguồn mạch Phật Pháp từ Nguyên Thủy đến Đại Thừa và Thiền Tông.
25/04/2011(Xem: 10747)
Con đường thiền tập là chánh niệm tỉnh giác, chứng nghiệm vào thực tại sống động. Khi tâm an định, hành giả có sự trầm tĩnh sáng suốt thích nghi với mọi hoàn cảnh thuận nghịch...
24/04/2011(Xem: 7950)
Với người đã mở mắt đạo thì ngay nơi “sắc” hiện tiền đó mà thấy suốt không chướng ngại, không ngăn che, nên mặc dù Sắc có đó vẫn như không, không một chút dấu vết mê mờ...
20/04/2011(Xem: 21064)
Quả thật, chân lý thiền vốn ở ngay nơi người, ngay trong tự tâm chúng ta đây thôi. Vậy ai có tâm thì chắc chắc có thiền, không nghi ngờ gì nữa.
12/04/2011(Xem: 16885)
Trong tiếng Phạn (Sanskrit), từ "Thiền" có ngữ nguyên là dhyâna. Người Trung Hoa đã dịch theo âm thành "Thiền na". Ý nghĩa "trầm tư mặc tưởng" của nó từ xưa trong sách vở Phật giáo lại được biểu âm bằng hai chữ yoga (du già).
08/04/2011(Xem: 14498)
Càng sống thiền định để thấu suốt cái vô thường, đau khổ và vô ngã trong đời sống thì ta càng dễ dàng mở rộng trái tim để có thể sống hòa ái và cảm thông cho tha nhân nhiều hơn.
06/04/2011(Xem: 9398)
Cuốn sách này giới thiệu với độc giả cách thọ trì đúng đắn thiền Samatha-Vipassanā (Định-Tuệ) như đã được Đức Phật giảng dạy, tu tập chánh định và thấu suốt vào các pháp chân đế...