Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 29: Kinh Thủ Lăng Nghiêm

19/04/201721:05(Xem: 803)
Bài 29: Kinh Thủ Lăng Nghiêm

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

GIẢI NGHĨA

TOÀN KHÔNG

(Tiếp theo)

 

4 - THIỆT CĂN VỚI VỊ

     TRẦN VỐN VÔ SINH

- A Nan! Ông thường hai thời ở trong chúng ôm bình bát khất thực, đôi lúc gặp những món tô, lạc, đề hồ, gọi là vị ngon, ý ông thế nào? Mùi vị từ hư không ra, từ thiệt căn ra, hay từ đồ ăn ra?
- A Nan! Nếu mùi vị này từ thiệt căn của ông ra, thì trong miệng ông chỉ có một thiệt căn, thiệt căn bấy giờ đã thành vị tô rồi, nếu gặp đường phèn, lẽ ra vị tô chẳng dời đổi; nếu chẳng dời đổi thì chẳng được nói là biết mùi vị, còn nếu dời đổi thì thiệt căn chẳng phải nhiều thể, làm sao một thiệt căn lại biết được nhiều mùi vị?
- Nếu từ đồ ăn ra, thì đồ ăn chẳng tri giác, làm sao tự biết được mùi vị? Lại đồ ăn tự biết thì cũng đồng như người khác ăn, có liên quan gì đến ông mà gọi là tánh biết vị của ông?
- Nếu từ hư không ra, thì ông hãy nếm thử hư không xem là mùi vị gì? Hư không nếu là vị mặn, thì đã làm mặn thiệt căn của ngươi, ắt phải làm mặn mặt ông, và mọi người trong cõi này đều như cá biển, đã thường chịu cái mặn, chẳng còn biết thế nào là lạt nữa; và nếu chẳng biết lạt, thì cũng chẳng phân biệt được mặn. Nếu chẳng biết mặn lạt, thì làm sao gọi là biết mùi vị?
- Nên biết, mùi vị và sự nếm đều chẳng có xứ sở, tức nếm và mùi vị hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.

GIẢI NGHĨA

     Đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà rằng: “Ông thường hai thời ở trong chúng ôm bình bát khất thực, đôi lúc gặp những món tô, lạc, đề hồ, gọi là vị ngon, ý ông thế nào? Mùi vị từ hư không ra, từ thiệt căn ra, hay từ đồ ăn ra?” Đức Phật hỏi: vị của thức ăn từ hư không, hay từ lưỡi nếm, hay từ thức ăn ra?

     Đức Phật giảng: “Nếu mùi vị này từ thiệt căn của ông ra, thì trong miệng ông chỉ có một thiệt căn, thiệt căn bấy giờ đã thành vị tô rồi, nếu gặp đường phèn, lẽ ra vị tô chẳng dời đổi; nếu chẳng dời đổi thì chẳng được nói là biết mùi vị, còn nếu dời đổi thì thiệt căn chẳng phải nhiều thể, làm sao một thiệt căn lại biết được nhiều mùi vị? Ở đây, Ngài biện luận chứng tỏ “vị” không phải từ cái lưỡi (thiệt căn)

     Ngài giảng tiếp: “- Nếu từ đồ ăn ra, thì đồ ăn chẳng tri giác, làm sao tự biết được mùi vị? Lại đồ ăn tự biết thì cũng đồng như người khác ăn, có liên quan gì đến ông mà gọi là tánh biết vị của ông?” Vị không phải từ thức ăn.

     Cuối cùng Ngài nói: “- Nếu từ hư không ra, thì ông hãy nếm thử hư không xem là mùi vị gì? Hư không nếu là vị mặn, thì đã làm mặn thiệt căn của ông, ắt phải làm mặn mặt ông, và mọi người trong cõi này đều như cá biển, đã thường chịu cái mặn, chẳng còn biết thế nào là lạt nữa; và nếu chẳng biết lạt, thì cũng chẳng phân biệt được mặn. Nếu chẳng biết mặn lạt, thì làm sao gọi là biết mùi vị?” Vị cũng chẳng từ hư không.

     Xem như vậy, vị ăn uống và sự nếm chẳng phải từ lưỡi, chẳng phải từ thức ăn, cũng chẳng phải từ hư không; vị ăn uống và sự nếm đều là hư ảo không thật, do đó Đức Phật nói: “- Nên biết, mùi vị và sự nếm đều chẳng có xứ sở, tức nếm và mùi vị hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên” là vậy.

5 - THÂN CĂN VỚI XÚC

     TRẦN VỐN VÔ SINH

- A Nan! Ông thường buổi sáng lấy tay xoa đầu, ý ông thế nào? Cái xúc giác khi xoa đầu này từ đâu mà ra? Từ nơi tay hay từ nơi đầu?
- Nếu từ nơi tay thì cái đầu chẳng biết, làm sao thành có xúc giác? Nếu từ nơi đầu mà chẳng dùng tay thì làm sao gọi là xúc giác được? Nếu cả hai mỗi mỗi tự có xúc giác, thì một mình ông phải có hai thân.
- Nếu đầu và tay chỉ một xúc giác sanh ra, thì đầu và tay thành một thể; nếu một thể thì xúc giác ở bên nào? Ở bên năng thì chẳng ở bên sở, ở bên sở thì chẳng ở bên năng, chẳng lẽ hư không và ông mà thành lập được cái xúc giác đó ư?
- Nên biết, xúc giác và thân căn đều chẳng xứ sở, tức cái thân và xúc giác hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.

 

GIẢI NGHĨA

     Đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà rằng: “- A Nan! Ông thường buổi sáng lấy tay xoa đầu, ý ông thế nào? Cái xúc giác khi xoa đầu này từ đâu mà ra? Từ nơi tay hay từ nơi đầu?” Ngài hỏi khi dùng tay xoa đầu thì xúc giác từ tay hay từ đầu?
     Đức Phật giảng: “- Nếu từ nơi tay thì cái đầu chẳng biết, làm sao thành có xúc giác? Nếu từ nơi đầu mà chẳng dùng tay thì làm sao gọi là xúc giác được? Nếu cả hai mỗi mỗi tự có xúc giác, thì một mình ông phải có hai thân. Nếu đầu và tay chỉ một xúc giác sanh ra, thì đầu và tay thành một thể; nếu một thể thì xúc giác ở bên nào? Ở bên năng thì chẳng ở bên sở, ở bên sở thì chẳng ở bên năng, chẳng lẽ hư không và ngươi mà thành lập được cái xúc giác đó ư?” Nghĩa là xúc giác chẳng phải từ tay, cũng chẳng phải từ đầu, nó là hư ảo không thật, do đó Ngài nói: “Nên biết, xúc giác và thân căn đều chẳng xứ sở, tức cái thân và xúc giác hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên” là vậy.

6 - Ý CĂN VỚI PHÁP

TRẦN VỐN VÔ SINH.

- A Nan! Ông thường dùng ý thức duyên theo ba tánh thiện, ác và vô ký, sanh khởi pháp trần. Vậy pháp trần này từ nơi tâm ra, hay lìa tâm riêng có phương sở?
- A Nan! Nếu từ tâm ra thì pháp trần chẳng phải cảnh trần, chẳng phải là cái sở duyên của tâm, làm sao thành xứ được?
- Nếu lìa tâm riêng có phương sở, thì tự tánh của pháp trần là biết hay chẳng biết? Biết tức gọi là tâm, tâm này lìa tâm ông thì chẳng phải pháp trần của ông biết, đồng như tâm của người khác; nếu lìa tâm ông lại còn có tâm biết, thì tâm ông thành hai sao? Nếu chẳng biết thì pháp trần này đã chẳng phải sắc, thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì phải ở chỗ nào? Hiện nay nơi sắc, không đều chẳng thể nêu ra, chẳng lẽ trong thế gian lại có cái ở ngoài hư không ư? Lại tâm chẳng phải sở duyên thì xứ từ đâu mà an lập?
- Nên biết, pháp trần và tâm đều chẳng có xứ sở, tức ý căn và pháp trần hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.

 

GIẢI NGHĨA

     Đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà rằng: “- A Nan! Ông thường dùng ý thức duyên theo ba tánh thiện, ác và vô ký, sanh khởi pháp trần. Vậy pháp trần này từ nơi tâm ra, hay lìa tâm riêng có phương sở? Ngài hỏi:Ông thường dùng thức thứ sáu (ý thức) duyên theo ba tánh thiện, ác và không thiện không ác (vô ký), sinh khởi hình ảnh cảm giác phân biệt (pháp trần). Vậy pháp trần này từ nơi tâm ra, hay lìa tâm mà có?

     Đức Phật giảng: “- Nếu từ tâm ra thì pháp trần chẳng phải cảnh trần, chẳng phải là cái sở duyên của tâm, làm sao thành xứ được? Nghĩa là pháp trần không phải từ tâm ra.
     Ngài giảng tiếp: “- Nếu lìa tâm riêng có phương sở, thì tự tánh của pháp trần là biết hay chẳng biết? Biết tức gọi là tâm, tâm này lìa tâm ông thì chẳng phải pháp trần của ông biết, đồng như tâm của người khác; nếu lìa tâm ông lại còn có tâm biết, thì tâm ông thành hai sao? Nếu chẳng biết thì pháp trần này đã chẳng phải sắc, thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì phải ở chỗ nào? Hiện nay nơi sắc, không đều chẳng thể nêu ra, chẳng lẽ trong thế gian lại có cái ở ngoài hư không ư? Lại tâm chẳng phải sở duyên thì xứ từ đâu mà an lập?” Nghĩa là pháp trần không phải lìa tâm mà có.
     Xem như vậy, pháp trần chẳng phải từ tâm mà có, cũng chẳng phải lià tâm mà có, nó là huyển ảo không thật, do đó Ngài nói: “- Nên biết, pháp trần và tâm đều chẳng có xứ sở, tức ý căn và pháp trần hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên” là vậy.

KINH VĂN 7:

NHƯ LAI TẠNG VÀ CHÂN NHƯ

(Còn tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn