Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

(02)

26/04/201318:57(Xem: 2659)
(02)

PHÁP MÔN
Trì Danh Niệm Phật, Vãng Sanh Cực Lạc

Tác giả:Huỳnh Lão cư sĩ

Hải Huyền Viên Giáodịch

PL. 2545

---o0o---

CHƯƠNG III

(2)

PHƯƠNG PHÁP PHÁP MÔN TU TỊNH ÐỘ

(Trì danh Niệm Phật)

- Phát tâm: Phát bồ đề tâm.

- Tín - Nguyện - Hạnh đầy đủ. Thiếu một thì chẳng thành.

- Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, một lòng chuyên niệm, chí thành khẩn thiết, hàng ngày niệm, hàng giờ niệm, đến lúc lâm chung có Phật, nhất tâm bất loạn.

ž Phần sau đây là phần chung, không luận bất cứ pháp môn nào, đều phải biết rõ ràng để ra sức tu hành:

- Tin về luật nhân quả một cách sâu xa.

- Tư tưởng và hành vi nên tuân theo “Bát chánh đạo” mà hành trì.

- Rõ thế nào là ác (chẳng làm các việc ác), rõ thế nào là thiện, (vưng làm các việc thiện), rõ tâm như thế nào mới có thể thanh tịnh (tự tịnh nơi tâm ý).

- Nhẫn nhục.

- Tinh tấn.

- Ăn toàn chay.

- Làm được công đức nên hồi hướng.

- Phạm lỗi cần phải sám hối.

Tu trì pháp môn trì danh niệm Phật tức là mấy câu nói như thế nầy sao? Quá đơn giản; Thế nhưng không nên coi nhỏ những câu nói nầy! Nhìn thì giống như đơn giản, mà làm thì biết rồi, nếu chẳng cố gắng công phu thích đáng, thì thật không dễ gì làm cho thông suốt! Vì người đời nhiều kiếp vốn quen, lại thêm căn tánh kém cỏi nặng nề, tập khí (tâm bệnh xấu xa) lại nhiều. Niệm Phật! Có người niệm lại thành ra “cầu ông thần tài”; Có người ra công gấp rút để việc lợi đến gần, thấy không có cảm ứng thì chẳng niệm nữa, trước thì siêng năng sau thì sa đọa; Có người cho là mười niệm hoặc sớm tối chỉ niệm một niệm tức là đã niệm Phật, thì có thể vãng sanh Cực Lạc, mà chẳng chịu niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật; Có người đã tu được mấy mươi năm, mà còn bị chuyển bỡi hai cảnh thuận - nghịch, bị vây khổn vì tình, bị trói buộc vì ái, ngay cả một chữ “tham” cũng tu hành không thông!

Phàm là học tập một việc gì, cũng cần phải rõ ràng mấy điểm sau: 1- Mục tiêu là gì? 2- Thế nào là có phương pháp hiệu quả? 3- Những nổ lực đã trải qua kia, từ việc người có phương pháp hữu hiệu, đã được thành quả thế nào?

Mục tiêu của pháp môn tu trì danh niệm Phật là vãng sanh thế giới Cực Lạc - thành Phật! Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, cùng với trì giới, bố thí, thanh tịnh, tự tâm, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay là phương pháp hữu hiệu; Trong “Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục” đã chép thuật sự tích của các bậc cao Tăng Ðại đức vãng sanh, đó là thành quả, hơn bốn mươi tám năm - tại Ðài Loan - đã xuất bản quyển “Niệm Phật Cảm Ứng Kiến Văn Ký” cũng là chứng minh cho thấy.

TÍN – HẠNH – NGUYỆN

Trì danh niệm Phật, Tín - Nguyện - Hạnh, là ba món tư lương (lương thực để nuôi sống) rất quan trọng và rất cần thiết của vấn đề vãng sanh, thiếu một thì chẳng được! Chẳng có “Tín” thì không thể lập “Nguyện”, chẳng có nguyện thì không thể tuân hành lập “hạnh”. Chẳng có “Hạnh” thì không thể chứng “Tín”, mà đầy đủ được “sở nguyện”.

àTÍN, tức là “tín tâm” (chân tướng tín), tin cõi Ta bà là biển khổ, đời người là khổ, khổ nhiều vui ít, tin lời Phật chẳng luống dối hư huyễn, tin chắc chắn có thế giới Cực Lạc, tin chắc chắn có Phật và Bồ tát, tin rằng ta chí thành chuyên nhất niệm Phật, thì lúc mạng chung Ðức Phật A Di Ðà nhất định sẽ đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ngay nơi tin thì chẳng được sinh nghi (lơ là), ngay nơi nghi thì không thể vãng sanh! Tín tức là thái độ cung kính chân thành và niềm tin tuyệt đối; Nếu như vừa muốn được lại vừa hoài nghi, thế thì không có hiệu quả. Tín tâm có bốn ý nghĩa:

1 - Tin Phật có công đức lợi ích bất khả tư nghì.

2 - Thường để tâm đối với Phật pháp.

3 - Thường hằng tư duy đạo tu hành, có thể tô bồi thêm lên đức tốt tự lợi, lợi tha.

4 - Học tập đến nơi đến chốn đạo lớn của Phật đà.

“Tín tâm” là căn bản của Phật đạo, suối nguồn của đức tốt, nơi có thể làm tăng trưởng tất cả thiện hạnh, đoạn trừ tất cả mê chướng, ra khỏi dòng lớn ham muốn; Vững chắc tín tâm, phát nguyện niệm Phật. Cầu sanh về thế giới Cực Lạc, tín tâm cần phải kiên cố, chẳng nên lay động tín tâm. Không luận là gặp tà kiến ngoại đạo, hay bất cứ tông phái nào, nếu vui về ngũ dục, đều chẳng nên để cho bị nó làm lay động tín tâm.

Tín tâm vững chắc không dời đổi, thì nên xem xét tâm mình có đơn thuần hay không? Tâm càng đơn thuần thì càng có thể hoàn toàn tiếp nhận được Phật pháp của Ðức Phật dạy bảo chúng ta. Trong kinh nói rằng:

“Phật pháp như biển lớn, tin là có thể vào, trí là có thể độ”.

Như vậy đủ để chứng minh rằng nếu thiếu tín tâm, thì không thể vào được pháp Phật. Có rất nhiều người qui y Tam bảo, cũng trì danh niệm Phật, song niềm tin của họ lại tôn sùng ngoại đạo - loại tín tâm nầy là “Bất chánh” (không chánh tín).

àNGUYỆN, là “chơn nguyện”, ưa thích Cực Lạc, nhàm chán Ta bà, nguyện mau ra khỏi thế giới khổ nầy, nguyện mau sanh về thế giới Cực Lạc kia, nguyện tuân theo sự chiếu rọi của pháp Phật, tin chịu vưng làm. Nếu còn tham luyến các việc: giàu có, danh tiếng, quyền thế, người thân, vật chất hưởng thụ... như thế không phải là nhàm lìa thế giới nầy, mà là tham luyến thế giới nầy.

àHẠNH (hành), là tu trì pháp Phật, tin thọ phụng hành, đừng để niệm tạm quên, tu hành tận sức, chẳng gấp cầu lợi, nửa đường bỏ cuộc, chẳng nhìn khác nghĩ lệch, thấu suốt mà làm. Hạnh thì cần phải làm, chẳng phải niệm nói suông là ta học Phật tu hành mà thôi, tức là phải tu dưỡng bằng công phu. Nếu không như thế, thì cũng giống như: Bánh vẽ mà no được đói, trông trái mơ mà đỡ được khát sao?

Do đó, niệm Phật cần phải phát tâm lâu dài, rời xa tất cả tâm tạp nhiễm, tâm nghi ngờ, tâm kiêu xa... cố gắng ráng sức tu hành như thế, vãng sanh Cực Lạc là lẽ đương nhiên, là điều phải đến.

Tín - Hạnh - Nguyện, nếu như có tín mà không có nguyện, là biết có chỗ đến tốt mà không nguyện đến, cũng là uổng vậy. Có nguyện mà không có hạnh, cũng như phiếu chi mà không có đầu, chẳng giúp được gì đối với công việc. Ba việc Tín - Hạnh - Nguyện, là lấy tín và nguyện để lập hạnh (hành), lấy hạnh để thực hiện tín và nguyện.

Người thực hành niệm Phật, tu tập thiện pháp không được sinh nghi, nếu không tín tâm thì nguyện và hạnh không từ đâu khởi, tức là thiếu mất một sức lực tinh thần mạnh mẽ để tiến thẳng về trước. Người nghi ngờ, bị sự nghi che tâm, ở trong các pháp không được tín tâm, vì không có tín tâm nên ở trong sự niệm Phật thật không được gì.

Một người có “nghi kiến” (thấy nghi ngờ), tức đối với chân lý chắc thật sinh lòng hoài nghi do dự. Chúng ta có thể tin chắc niệm Phật tức là nhân duyên phước đức thiện căn rất nhiều. Chúng ta phải nên đừng tin tà kiến, chẳng nghe tà thuyết, cần khởi chánh tín để chế ngự tâm nghi, bỡi nghi là cấu uế, là mờ mịt, là chướng ngại.

Niệm Phật đối với lúc lâm chung, người xưa đã đưa ra ba nghi cần phải đoạn dứt:

1 - Nghi rằng đời ta tạo tội rất nặng, hàng ngày tu hành cạn cợt, e rằng không được vãng sanh.

2 - Nghi tâm nguyện của ta chưa rõ và tham - sân - si chưa dứt, e rằng không được vãng sanh.

3 - Nghi rằng ta tuy niệm Phật, lúc lâm chung, Phật chẳng đến đón ta.

Nếu có một trong ba nghi nầy, thì nhân nơi nghi mà sinh chướng, mất đi chánh niệm, chẳng được vãng sanh.

Nay đây đưa ra cách trừ ba nghi, để mà tham khảo:

1 - Gốc của nghiệp luống mê muội, tâm tịnh thì được rỗng rang, nghiệp nặng bất tất nghi ngờ vậy.

2 - Tình cũng như mộng huyễn, ngủ thức dậy đâu còn? Tự chịu dừng nghỉ, thì tham sân si dứt, bất tất nghi ngờ.

3 - Chấp cái gì mà sinh phiền não? Tất cả chúng sinh chấp trước các pháp thế gian là có thật, đâu biết rằng các pháp xưa nay đều là hư vọng, như hoa đóm giữa hư không, trăng trong nước, cảnh trong mộng, như bóng như huyễn, đều chẳng thật. Qua sông thì dùng bè, đã đến bờ kia, vát bè làm gì? Tức là phải bỏ đi! Sau khi đã tin chẳng nên nghi ngờ trở lại.

Ngày nay thời mạt pháp, chướng duyên đặc biệt nhiều, chính là lúc quần ma múa may, người thực hành niệm Phật phải mọi lúc thường xuyên đề cao cảnh giác - Cổ đức đã chỉ bày, lược nêu ra mấy cách để tham khảo:

1 - Tin không hết lòng; Lòng tin sâu xa rất là trọng yếu, tất có thể sinh năng lực hành đạo, chánh tín niệm Phật, lìa khổ được vui, đồng thời cũng cần hiểu biết chân chánh, chẳng dao động, chẳng sinh nghi hoặc, tâm thanh tịnh không nghi không cấu uế.

2 - Nguyện chẳng thiết tha; Phát nguyện thì nên nhất niệm thành khẩn, phát tâm vô thượng, tâm độ chúng sinh, hạnh phước chư Phật là “lục độ vạn hạnh”, thảy đều hồi hướng mà cầu sanh về thế giới Cực Lạc.

3 - Hạnh không mạnh mẽ; Do tín nguyện phát ra phối họp với lực hạnh, lúc niệm Phật giống như chiến đấu với ma, tinh thần phải mạnh mẽ, có sức bền chí và có thể siêng năng khổ nhọc.

4 - Mặc niệm lơ là; Niệm Phật quan trọng hàng đầu là nhắc bảo cố gắng siêng năng, mới được lực niệm; Giả sử tâm không chuyên chú, thì lực không đầy đủ, khó địch lại “nghiệp tập khí” từ nhiều đời, cho nên ở trong mỗi niệm chẳng quên công đức đại nguyện thành Phật.

5 - Tâm duyên việc đời; Việc đời như dây trói buộc, cho nên nói tình đời bàn một phần, Phật pháp tự có một phần đắc lực, nên lần lược mà cải tiến; Nói rằng tuổi trẻ dễ đi qua, năm tháng không ở lại, đừng lãng phí thời gian, nên tự mình củng cố, muôn duyên đều buông rời.

6 - Yêu ghét chẳng trừ; Phàm phu phân biệt, tập khí nặng nề, cần nên đọc nhiều “Cao tăng truyện”, để mở mang trí tuệ, vì hai tâm yêu - ghét đều là nhơ, không yêu thì không tham, không ghét thì không sân.

7 - Phân tâm; Mỗi người đều có sự hứng thú và tự hào, dễ chuốt lấy sự phân tâm, chẳng thể chuyên nhất, là điều đại kỵ cho người tu hành, ngay nơi niệm sinh tử, như cứu lửa cháy đầu, chuyên niệm A Di Ðà Phật khiến thành tam muội, lúc lâm chung chánh niệm, quyết định vãng sanh, gặp Phật được “Vô sanh pháp nhẫn”, trở lại ba cõi cứu độ chúng sinh.

8 - Ðề cập kinh điển trong ngoài; Chúng ta nghe có nhiều nhà lý luận tự cho là tài học của mình phong phú, thật thì lúc lâm chung niệm Phật vãng sanh không họp như sự hiểu biết, hoặc người khinh mạn thì tâm nhơ vẫn vậy, tạp nhiễm lăng xăng tâm chẳng an ổn, không thể liễu thoát sinh tử.

9 - Nghe các lời tạp loạn; Ðây là bệnh chung của mọi người, nên biết lời vô nghĩa là hí luận, cho đến những chuyện nhân – ngã, phải - quấy, toàn bộ phát ra những lời lung tung, hoặc những lời búa rìu loạn xạ, sao chẳng làm tổn thương người ư? - Nên cẩn thận!

Pháp môn tịnh độ - Trì danh niệm Phật, khó tin nhưng dễ làm, lý khó giải; Kinh “Phật Thuyết A Di Ðà” nói rằng:

Niệm Phật pháp môn là pháp khó tin của thế gian”.

Có thể nói rằng phát tâm niệm Phật cũng chẳng phải là đơn giản, ứng với tín và nguyện gọp lại để tiến bộ, niệm niệm là Phật, để mà thoát sinh tử. Niệm Phật lấy TÍN tâm làm NHẤT tâm, có NGUYỆN thì bèn có được định HƯỚNG mục tiêu, thì HẠNH có LỰC; như thế không sợ khốn khó, mặc cho người nào châm chọc coi thường, vì sao vậy? Vì lúc nầy tâm niệm Phật, chẳng bị cảnh chuyển, danh hiệu Phật chẳng dứt, chỉ cầu nhất tâm bất loạn, tâm và Phật đồng ở một nơi, mỗi việc làm (mỗi công hạnh) đều niệm Phật, như thế có thời gian đâu mà để ý đến sự chua ngọt, lạnh nóng!

Người sơ tâm học Phật, thì còn tâm nghi tà kiến, tập khí của tánh tình. Nếu bỏ tà liền được chánh, bỏ nghi liền được chơn, chỉ như thế nầy mới có thể thành tựu được tín - nguyện, khắc phục tánh sa đọa tức có thể khổ nhọc, diệt tập khí tức ngược lại là thanh tịnh; Là chơn, siêng năng, thanh tịnh, như thế thành lập tín tâm. Nếu cầu sinh về tịnh độ Cực Lạc ở phương tây, Tín - Nguyện - Hạnh mà thiếu một thì không thể được. Vãng sanh hay không, chỉ cần hỏi rằng có Tín - Nguyện hay không? Phẩm vị cao thấp, thì nhìn ngay nơi công phu (hạnh) niệm Phật sâu hay cạn?

CHẲNG TƯƠNG ƯNG: Bỡi tín tâm chẳng vững, lúc còn lúc mất, chẳng chắc chắn.

‚TÍN TÂM CHẲNG CHUYÊN NHẤT: Bỡi không có sức quyết định, chẳng chịu dốc lòng hết sức mà hạ quyết chí công phu.

ƒTÍN TÂM CHẲNG LIÊN TỤC: Bỡi tâm tưởng bị gián đoạn, niệm Phật bị gián đoạn.

„TÍN TÂM CHẲNG CHÁNH: Thay đổi bất thường, gặp sao hay vậy, đã cần tham Thiền, lại muốn học Mật, muốn gom chung hết vào một điểm mới chịu; Hoặc bị tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngủ dẫn dắt, nếu người để ở trong lòng, thì lập tức sai lầm.

Pháp môn niệm Phật không có gì đặc biệt diệu kỳ tốt đẹp bằng, chỉ cần ba món tư lương: tin sâu, nguyện thiết tha, ra sức công hạnh được đầy đủ, thì lúc mạng chung tâm sẽ không thể điên đảo, tức được Ðức Phật A Di Ðà hiện thân tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, liễu thoát sinh tử, chóng thành Phật đạo. Chúng ta nếu quả phát tâm niệm Phật đầy đủ ba món tư lương (tín - nguyện - hạnh), thì có thể ba nghiệp thanh tịnh - lúc niệm Phật, mỗi niệm chấp trì một câu danh hiệu Phật, niệm trụ một chỗ, lấy một niệm mà đình chỉ muôn niệm, tức ý nghiệp thanh tịnh; Hai nghiệp thân và miệng đều theo ý nghiệp dắt dẫn sai khiến, ý nghiệp tịnh thì thân không làm vọng, tức thân nghiệp tịnh; Miệng niệm hiệu Phật tức miệng thanh tịnh, Chúng ta đã vì phát tâm tu hành, trì danh niệm Phật, muốn rõ thoát sinh tử thì chắc chắn phải đầy đủ ba món tư lương: tín - nguyện - hạnh.

Phật pháp chú trọng giảng nghĩa rốt ráo, nêu lý thì cần sự thấu đáo rõ ràng, luận sự thì cần phải triệt để không nên lấp lửng một nửa. Giảng nhân quả nếu chẳng rõ ràng lý nghiệp báo luân hồi, thì không thấu rõ; Giảng Từ bi nếu chẳng phổ cập việc chúng sinh thì chẳng triệt để; Mà vả lại hành thiện bỏ ác nếu chỉ nói suông lẽ đương nhiên của nghĩa, chẳng tin sự thật quả báo luân hồi, tâm ngăn ngừa, sợ sệt, cẩn thận, nếu không có, chẳng thể chân chánh thiết tha mà làm việc, thì khó tránh khỏi việc phô bày tự khi dối.

Học Phật tu hành cần phải như pháp mà phụng hành, cần phải khởi lên từ gốc rễ tâm địa sự tiêu trừ nhân ác.

Phật pháp tu hành như thế nào? Nói một cách đơn giản là: Chế phục mình, làm theo lễ, lòng nhân từ, yêu thương vật, chỉ cần thành khẩn là thật lòng, thật làm, chẳng được phô diễn dối gạt chính mình.

Học Phật tu hành do khởi tín mà vào cửa, quí ở chỗ thực hành; Như giới sát là việc cần thiết thứ nhất của người học Phật, mới học chưa thể dứt tuyệt, thì cũng nên mỗi ngày ăn ít một chút, lần hồi mới có thể dứt được, chẳng tham theo khẩu vị, trong nhà không sát sinh mà lấy tiền mua sắm, cũng khiến cho lò mổ sát hại, cũng nên hỏi lòng không thể nào chẳng chia ra gánh vát lỗi đó. Lại học Phật chú trọng khả năng bố thí; Bố thí một là có thể nuôi lớn tâm từ bi hỷ xả. Hai là có thể phá trừ thói quen (tập khí) phiền não tham lam keo kiệt. Cần phải được sự lợi ích thực tế của Phật pháp, nếu chẳng trừ tham - keo, tâm so đo chấp lấy sẽ nổi lên hừng hực, thì tâm từ bi chắc chắn là không chân thật. Mà vả lại tham muốn là gốc khổ của sinh tử, cội nguồn của phiền não. Nếu muốn tìm cách tránh hung, lìa khổ được vui, mà không gắng sức trừ bỏ hai chữ “tham muốn”, thì không có thể giải quyết được! Nếu muốn trừ bỏ tâm tham muốn, trước nhất từ sự bắt tay làm việc bố thí. Bố thí là chế phục mình quên đi công lao của mình, và thí nghiệm tâm đại bi; Nếu tâm Từ bi thiết tha, chế phục mình mà bố thí, là bỡi chúng sinh, thì thân cũng còn có thể xả bỏ. Ðâu có thể sát hại sinh mạng để mà khoái miệng mình! Ðâu chịu lấy tiền bạc của vật uổng phí để vui cho ý mình! Ðâu chịu keo kiệt để giữ vật cho mình chẳng dùng để giúp người, thì đâu chịu cung phụng cho thật hậu hĩ, coi thường người khổ! Cho nên công phu thực hành, trước nhất là phải xét nét trên việc bố thí, nếu ở đây mà làm mang tính cách phô diễn, thì khó mong có được thành tích tốt. Kinh Phật nói rằng: “Nhân nếu không chơn, thì quả chuốt lấy bị cong vạy”. Công đức của bố thí nguyên chẳng phải là ở chỗ lớn - nhỏ, nhiều - ít, mà toàn là nhìn vào lúc phát tâm, ngày thường như thế nào giữ tâm? Sự liên quan nầy cần phải thành khẩn. Nếu ngày thường tham lận phóng túng, cho đến trong nhà có bệnh khổ nguy cấp, nhằm lúc ấy lạy Phật hứa nguyện, quyên tiền thí giúp, cầu bệnh mau tiêu tai, những việc bố thí nầy không có chút nào phát ra từ tâm chân thật Từ bi, làm sao có thể có được sự cảm ứng.

TU HÀNH KHÔNG ÐƯỢC DO DỰ

Người đời nghiệp ngày trước tạo ra có thiện có ác, thiện ác lộn xộn nhau không rõ ràng; Có lúc sinh khởi thiện tâm, có lúc lại sinh ra ác niệm. Do từ vô lượng kiếp đến hôm nay đây bỡi những vấn đề thiện ác nầy, nên ngay lúc tu hành cũng chẳng dễ dẹp thoát được nghiệp báo; Bỡi vậy có lúc muốn tu hành, có lúc lại nói rằng cuộc sống hiện tại tốt đẹp, có lúc muốn tu hành, có lúc lại phải nhiễm ô, đây đều là do niệm sinh ra ở ngày trước, mà đời nầy kết lấy quả nầy. Niệm trước muốn tu hành, niệm sau lại cần cầu phú quí vinh hoa, phước báo trời người, cuộc sống hiện tại có ý nghĩa; Như vậy thì làm thế nào? - “Lựa việc thiện mà theo, chẳng thiện thì sửa đổi”. Cần phải từng lúc mà đề cao cảnh giác, như đi vào vực sâu, như đi trên băng mỏng, cần có tâm cẩn thận như thế nầy để tu hành. Cho nên tu hành là: “Cử động hành vi tự quản lý, đi đứng ngồi nằm chẳng lìa niệm”. Cần nên mỗi niệm đều thanh tịnh, mỗi niệm đều sáng suốt, không nên mỗi niệm nhiễm ô và tối tăm. Chúng ta mỗi một niệm đều cần phải rất là cẩn thận, mỗi một niệm thiện thì sáng suốt rất nhiều, nhưng nếu là niệm ác, thì càng niệm càng tối tăm. Trên đầu người thiện có luồng “bạch quang”, trên đầu người ác có luồng “hắc khí”; cho nên làm thiện làm ác, tự nhiên sẽ hiện ra hình tướng, ta cũng có thể nhìn thấy được người, nhưng nhìn không rõ bằng chư Phật, Bồ tát và quỉ thần.

Không luận là người xuất gia hay tại gia, không nên không chỉ có chẳng lập công ở trong Phật giáo, mà ngược lại tạo nghiệp tội, cần phải biết vì sao từ vô thỉ kiếp đến nay, tóm lại là không thể thoát lìa được cái khổ luân hồi, vẫn là bị mờ mờ mịt mịt! Lại tính toán hồ đồ không trong sáng, thị - phi lộn xộn, nửa nầy nửa nọ thanh tịnh và ô nhiễm (cho đến nỗi có lúc bình thường tu hành mà mất niệm - muốn niệm Phật cũng chẳng được - thậm chí có người khác ở trong thời gian niệm Phật mà anh cũng không biết niệm cùng họ), cho nên không vượt được luân hồi. Chúng ta nếu chân chánh tu hành, muốn sinh thế giới Cực Lạc, thì trước khi chưa vãng sanh, nhất định cần phải tinh tấn mạnh mẽ, không nên biếng nhát, phô bày, tản mạn, đối phó cho qua việc.

Tu hành, là mọi người cần phải làm cho được sự nuôi dưỡng bằng phẩm hạnh và đạo đức, không chỉ là không thể thiếu việc nổ lực hướng thượng, mà còn là việc phải thực hành của một số người trong nẻo mê. Tu dưỡng phẩm hạnh đạo đức, có thể khiến cho tư tưởng cân bằng, hành vi được sửa đổi, tâm hướng thiện, hướng về sự tốt đẹp. Ngược lại nếu lúc bình thường không chú trọng việc tu thân và lề lối chính mình, thì sẽ dẫn đến thành một con người có hành vi tùy tiện, chỉ chăm vào việc tự lợi riêng tư, không thèm để ý đến sự sống chết của kẻ khác; Do đó sửa đổi hành vi một con người, hoàn toàn ở tại tâm - TÂM TỊNH - có thể nói rằng cảnh giới cao nhất thăng tiến tinh thần, cũng ở ngay nơi người đời. Ðối xử với sự cạnh tranh, cuộc sống, ham muốn nhiều ở trong xã hội, lại cần có sự tu sửa hành vi như thế nầy; Nó có thể khiến cho người ta không tìm cầu mù quáng, chẳng khởi tà niệm, ít dục vọng, biết vừa đủ là đầy đủ, trong vui vẻ giúp người cứu người. Nhưng tu dưỡng tâm cảnh nầy thật chẳng phải là dễ làm được, cần phải chính mình trong cuộc sống ngày thường tu trì nhiều mặt, không được hư ngụy, chẳng cố tình làm ra vẻ, trong ngoài một mối, mỗi lúc làm được việc gì thì lại tuần tự dần đưa vào cảnh tốt đẹp.

Nhưng ở quá trình tu trì, quyết cần phải lấy sự quyết tâm không so tính, chắc chắn và nghị lực, để khắc phục tất cả nghiệp chướng, như các thói quen xấu ác: ham vật dụng, mê hoặc lợi dưỡng, tham lam, sân hận, lòng dạ hẹp hòi v.v... Pháp luật dạy chúng ta cần đình chỉ việc ác mà hãy làm việc thiện, tâm giữ niệm thiện, tuân làm những việc đạo đức cơ bản làm người, thì cư xử người cần phải được tròn đầy, hài hòa, để mà đạt được mục đích hỗ trợ.

Thời đại mạt pháp hiện tại, tà ma ngoại đạo (tà ma là có ý nghĩa hại người; Ngoại đạo chẳng qua là sự hiểu biết, thấy hiểu của người khác không phải là chánh đáng, phàm là việc không họp với sự tu hành Phật pháp, đều gọi là ngoại đạo) dẫn dụ con người đi vào đường mê, hạng người nầy rốt cuộc đều như thế, căn cơ của những người nầy đều là rất cạn cợt, như thế sẽ đạt được Phật pháp chân chánh chăng? Ngay ở trong một đời nầy tu thành công chăng? - Ðức Phật đã nói rồi, tức là thời kỳ mạt pháp có ức ức người tu hành, cũng khó được một người có thể tu thành công; Chỉ có niệm Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc, mới có thể khỏi được khổ luân hồi sanh sanh tử tử nầy. Cho nên ngoài pháp môn niệm Phật nầy, cầu sinh về thế giới Cực Lạc, bất luận dùng phương pháp nào, nếu ở trên một đời nầy tu thành công, trọn không thể được. Nếu là chờ đến đời sau, thì tính xem lại có thể sinh lại làm người không? Hơn một nửa là mê mất, chẳng những chỗ mong đều thành bánh vẽ, vả lại có tạo nghiệp phước nhân, đời sau cũng có nỗi lo đọa lạc!

TU HÀNH CẦN BỀN LÒNG KHÔNG BIẾN ÐỔI

Cây thì lớn lên từng ngày, ta tuy không nhìn thấy sự sinh trưởng của nó, nhưng trong sự không biết không hiểu, nó vẫn lớn lên, cho đến mười năm trăm năm, thì biến thành vật liệu hữu dụng. Cây như vậy, chúng ta tu hành cũng như vậy, không nên gấp rút, chúng ta muốn ngày nay tu hành ngày mai sẽ khai ngộ, không nên như thế; Quyết cần phải tu hàng ngày, tu hàng năm, cũng nên xem nó có tiến bộ gì không, nếu không lui bước thì ta tiến bộ; Chẳng nên cầu mau, chỗ gọi là: “Việc mà gấp tiến tới thì lui cũng mau”. Ngược lại quyết cần phải dùng tâm bền bĩ thường hằng (hằng tâm) để tu hành, hàng ngày cầu sám hối, sửa đổi lỗi lầm; Chỗ gọi là: “Một ngày không có lỗi để sửa đổi, tức là một ngày không có công trạng để tạo”. Cho nên chúng ta tu hành tức là cần diệt tập khí, cải đổi tâm bệnh, bỏ tư tưởng bẩn thỉu, hiện ra ánh sáng quang minh vốn có, trí tuệ xưa nay. Những trí tuệ quang minh nầy là người nào cũng đều vốn đủ có, tiếc rằng bị vô minh ngăn che, không thể khéo dùng trí tuệ quang minh của mình. Vô minh đã ngăn che thì sẽ phải chìm đắm; Nếu ta bừng phát trí tuệ thì sẽ vươn lên. Cho nên tu hành chẳng phải một sớm một chiều, mà là ở ngay nơi niệm, hàng ngày hàng năm đều tu thế nầy hằng thường không biến đổi. Thời gian lâu rồi sẽ mới có thể nuôi thành trí tuệ Bát nhã của chúng ta. Không nên một ngày ráo riết, một ngày nguội lạnh, thế nầy thì vĩnh viễn cũng chẳng thể có công phu, chúng ta tu hành nên học sự trưởng thành của cây cối lớn lên từng ngày, từng ngày thành tâm để tu.

ÐÁNH MỞ SỰ KẾT BUỘC NƠI TÂM

“Phiền não không tìm, không thể có phiền não”. Mỗi người đều có phiền não. Phiền não của chúng ta, cũng giống như sự kết buộc ở trên tâm, tâm kết mà mở không được, vĩnh viễn sa đọa trong vực sâu của phiền não, không cách nào tự vượt ra được. “Nghi Tọa Thiền” chép rằng: - có một lần, Ngài A Nan, đệ tử của Ðức Phật, lúc phiền não không dừng được, bèn đến thỉnh giáo Ðức Phật, Phật mới đem một chiếc khăn tay ra gút lại nhiều gút, hỏi A Nan rằng: “Ðây là cái gì?” Ngài A Nan đáp rằng: “Ðây là gút”. Ðức Phật nhân cơ nói đạo: “A Nan, ở trong tâm ông cũng giống như gút lại nhiều gút như đây, chỉ cần mở ra từng cái một, ông có thể giải tiêu được phiền não của ông”. A Nan nghe xong lập tức khai giải được tâm ý.

Chúng ta là “Bát địa phàm phu”, rất khó mà giải ngộ ngay được, huống chi nói đến chứng ngộ. Nhưng ở trong sự khai thị cao minh mà đơn giản cần yếu của Ðức Phật, chúng ta rất ít lãnh ngộ trên những thứ lớp nào đó cần có; Một, tâm chúng ta xưa nay giống như chiếc khăn tay bằng thẳng không có nếp nhăn, thế thì có gút nào tồn tại? Hai, do ở nơi tưởng vọng làm vọng của chúng ta, mới có sự kết buộc của phiền não, kết buộc nầy là tự chúng ta gút lấy; như mới tu hành vài năm thì đã muốn khai ngộ rồi. Ba, chỉ cần chúng ta bắt tay vào tâm gút kết, chia ra hai bên, gút bèn có thể mở được. Như mà dùng sức kéo đuôi gút, chẳng những mở không được, mà ngược lại càng kéo càng bền chắc. Bốn, quyết cần ra tay từ cái gút - phiền não căn bản - phía trên, cái gút phía dưới sẽ lần lượt được mở. Năm, gút buộc ở tâm được mở, phiền não cũng sẽ không tồn tại lại nữa.

Biện pháp đơn giản nầy có thể làm chẳng đi tìm, chẳng thể có phiền não, nhưng một khi đã có phiền não, cần phải dùng pháp Ðức Phật dạy dẫn A Nan: “Ðem cái gút trong tâm, từng cái một mở ra”. Tức là đơn giản như thế nầy, như đây mà thôi.

KHÔNG NÊN BỊ MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN DẪN DẮT

Gặp được tốt, nhìn được đẹp, nghe được hay thì cao hứng; Ăn ngon, mặc đẹp, ở sang thì vui vẻ; Người nhà mọi việc thuận ta thì vui lòng thõa ý; Gặp xấu, xem xấu, nghe dở thì nhàm ghét; Ăn sai một chút thì thế nầy không thích ăn, thế kia không muốn ăn, không họp thời trang về đồ mặc thì rầu rầu không vui; Việc nghịch lại thì giận, oán hận; Cả ngày phân biệt ở nơi tốt - xấu, được - mất, khổ - vui, cứ lòng vòng... Ðây tức là bị chuyển theo cảnh! Bị mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý dẫn dắt! Chẳng được tự tại. Tốt - xấu, được - mất, vui - buồn, thuận - nghịch, đều chẳng khởi tâm động niệm; Ngay khi khởi tâm động niệm thì đều bị cảnh chuyển, sẽ tạo nghiệp.

VẠN MA KHÔNG ÐẨY LÙI ÐƯỢC TÂM BỒ ÐỀ

Càng ở trong chỗ khó thì càng tinh tấn, khắp tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều vẫn thư thái, chẳng oán trời, chẳng trách người.

Càng học tốt thì oan nghiệt tìm; Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Nếu không muốn tốt thì oan nghiệt không thể đến tìm; Càng muốn tốt thì oan nghiệt càng tìm, mong muốn tính toán cho xong nợ trần. Bỡi vì từ vô lượng kiếp đến nay, nghiệp thiện - ác đời đời kiếp kiếp đã tạo ra, nó lộn xộn không rõ ràng, do vậy một ngày muốn tu hành, các chủ nợ vốn có đều đến để đòi nợ. Cũng giống như anh từ trước đến giờ là người bình thường, mượn rất nhiều tiền, không rõ là bao nhiêu. Trước lúc anh chưa phát tài những chủ nợ nầy biết anh không có tiền, cho nên không thể đến đòi nợ. Nhưng ngay khi một ngày nào đó anh phát tài, thì những chủ nợ nầy lập tức đến tận nhà để đòi nợ. Vì sao? Bỡi vì anh đã có tiền, nếu chẳng cần đến anh, thì không có thời gian để người ta phải quay lại. Cho nên trong việc tu hành mà gặp nghịch cảnh, thì nên càng tinh tấn mạnh mẽ mà hướng về phía trước, không được lui mất tâm bồ đề. Lúc chủ nợ đến đòi nợ thì trả cho họ. Tức là đem công đức mình có được, hồi hướng cho bọn chủ nợ - cả kẻ oán lẫn người thân - khiến họ được công đức, mà lià khổ được vui, liễu thoát sinh tử, chúng ta không nên gánh nợ mà không trả!

Vô lượng kiếp đến nay, do mỗi nhân duyên không đồng nhau, đời đời kiếp kiếp không biết đã làm bao nhiêu việc. Thế thì lấy đời nầy nói, chín chắn mà nghĩ, chúng ta đã giết bao nhiêu sinh mạng, đã làm bao nhiêu việc chẳng công bằng? Ðối với những chúng sinh khác mà nói, hoặc dẫu không sát nhân, sinh mạng lớn (trâu ngựa, heo, gà, vịt, chó v.v...), nhưng có thể sát sinh mạng nhỏ (muỗi, mòng, kiến, trùng nhỏ v.v...), cũng có thể trong tâm anh đã có ý niệm sát được tồn tại. Giống như có một lúc, vì không biết, mà đã sát rất nhiều động vật nhỏ, hay một ngày nào đó anh đoạt lấy và làm tổn thương sinh mạng của chúng sinh; Nếu anh muốn tu hành, thì chúng nó đều sẽ đến đòi nợ, nợ nầy không phải là một hai món, mà là không thể tính kể hết, đời đời kiếp kiếp được tích lũy qua nhiều ngày tháng, nợ nầy nói cũng không thể xong. Cho nên chúng ta chẳng thể không nói đến lẽ chung, nói ta đã tu hành, mà chẳng nhận có nợ oan nghiệp. Nếu như có cách nghĩ như đây, thì vĩnh viễn chẳng thể thành đạo, bỡi vì trong tâm chẳng công bằng, trong tâm nếu công bằng thì cần nhận rõ, trả nợ thì đã không có việc gì rồi. Cho nên nói là: “Cần học tốt thì oan nghiệp nhiều”. Cũng giống như một người mới phát tài, cho nên bạn nghèo của người đó đều đến nhà để tìm, đều muốn được một chút lợi ích.

Ma, có nội ma và ngoại ma. Thiên ma và tất cả Quỉ được tôn sùng là: “ngoại ma”; “Nội ma” tức là các phiền não và vọng tưởng ở trong tâm, cho đến tất cả những lo buồn khổ não đều là nội ma. Do những cái nầy hay chướng ngại tu hành cho nên gọi là MA. Ngoại ma so ra dễ khắc phục. Nội ma rất khó mà hàng phục; Có thể hàng phục được nội ma, tức ngoại ma cũng chẳng có thể làm hại được. Cho nên tu hành chủ yếu là “hàng phục nội ma”. Nội ma được hàng phục tức tâm thanh tịnh, được mở trí tuệ lớn, có trí tuệ thì có thể dứt được hoặc nghiệp, tức là thành đạo.

“Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Phật được sự trợ giúp của ma mà thành đạo, nếu không có ma thì không có Phật. Ma là để khảo nghiệm ta, khiến ta càng tiến bộ. Cho nên nói là: “Muốn nhìn thấy đến ngàn dặm, lại phải lên một tầng lầu”. Ðây cũng là muốn xem thử nội công của anh đã đủ hay chưa? Nếu đủ, thì bất động không lùi trước ngàn vạn ma quân; Tâm bồ đề không thối chuyển. Càng ở nơi chỗ khó thì càng tinh tấn, tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều đối xử rất là thư thái. Phải công bằng, chẳng oán trời, chẳng trách người, có thể cái nghịch đến mà ta tùy thuận thọ lãnh, tu nhẫn Ba La Mật, nên có công phu nầy; Cho nên ma chướng đã đến, thì chẳng đối địch với ma, tự mình nuốt một chút thiệt thòi cũng chẳng sao, tự mình nên phát nguyện độ ma, khiến nó qui y Tam bảo, phát tâm bồ đề. Ðối với ai cũng đều chẳng nên giận, oán hận, như thế có thể hóa hung thành cát, hóa chiến thành hòa, hóa thù thành bạn. Nếu nói rằng tìm chỗ tốt đẹp ở phương diện ngược lại (làm mà có chỗ không được, thì cầu ngược lại cho mình), chẳng nên làm luật sư biện hộ cho mình, không luận là việc gì: “chơn thật nhận mình lỗi, chẳng bàn cái quấy của người, “đồng thể” gọi là đại từ. Ðồng thể, cũng là bao trùm cả ma; Ma cũng là một phần của tự tánh. Nếu tự tánh có ma, thì sẽ dẫn đến ma bên ngoài. Nếu tự tánh không ma, ma bên ngoài sẽ không thể tiến đến. Thế nào là ma của tự tánh? Là tham, sân, si... có câu rằng: “Nếu không có bát mèo ăn, thì nhà không có ruồi”. Ma biết được anh có chút ít béo bở, nó có thể “thừa nước đục thả câu” để kiếm chút ngon, cho nên đến quấy rối anh, mà hiện ra việc ma của nó. Cho nên nhất cử nhất động của chúng ta, một lời nói một hành vi cần phải cho chắc chắn. Nói phải trung tín, làm phải thật kính, chẳng được nói lời vọng. Nếu sợ nhận sai của mình, là rốt cuộc che dấu lỗi lầm, đây chẳng phải là hành vi của người tu hành. Nên phải thành thật mà công bố ra, làm việc rất là thẳng thắng và khảng khái, vốn được chiếu rọi từ lương tâm đạo đức và ý nghĩa để làm việc. Nếu có chỗ chẳng họp với lương tâm đạo đức, thì dứt khoát không được làm.

Phàm người tu cần phải đầy đủ trí tuệ. Trí tuệ chân chánh, tức là không khen chê người khác; Nói: “Anh xem tôi đây này, tôi là số một, tôi thanh cao nhất, mà ngược lại họ thấp hèn như thế”. Phàm là người tự khen thì đã không có tiền đồ, tuy là đang sống, nhưng kỳ thật đã chết rồi, bỡi vì họ đã đi ngược với đạo đức lương tâm, nhìn không được người khác, chỉ biết có mình, đây là người rất không được sự khen vui của Phật và Bồ tát. Nếu muốn được sự vui khen và yêu giúp của chư Phật và Bồ tát, thì lời nói và việc làm một mối, “Nói phải nhìn việc làm, làm phải để ý lời nói”, chẳng mâu thuẩn với nhau. Chẳng nên thường khoe mình tốt như thế nào, đến khi làm việc thì xấu. Người tu hành không nên có tâm riêng tư, tâm tự lợi, cần có lợi ích cho người khác, chẳng nên ráng sức làm thương tổn người để lợi ích cho mình, hoặc nhìn không rõ được người khác, mỗi người nên “hồi quang phản chiếu” (quay lại soi rọi xét nét chính mình), xét coi việc quá khứ, việc hiện tại, lại chiếu xét đến tương lai. Có thể niệm đây ở tại đây (giữ niệm hiện tại), thời khắc không quên lương tâm đạo đức, thời gian lâu rồi, thiện căn tự nhiên tăng trưởng, tâm bồ đề phát lớn, thời sẽ làm đạo Bồ tát, lợi ích chúng sinh, đây là sự quan hệ liên đới.

Người chẳng nên sợ ma, mà thối lui tâm bồ đề, ma chướng chỉ là để xét nghiệm. Cũng như học sinh vừa mới bắt đầu học, cảm thấy bài khóa giáo trình rất khó, nhưng thời gian lâu rồi, học đã nhập môn thì sẽ cảm thấy không còn khó khăn nữa. Từ bắt đầu học tiểu học, trung học, rồi đến đại học, đều có những tình hình nầy phát sinh. Cho nên nói rằng: “Chẳng trải qua một phen lạnh buốt xương, thì làm sao hoa Mai tỏa ngát hương” hay “Mười năm song lạnh không người hỏi, một sớm thành danh thiên hạ hay”. Lúc tu hành chẳng nên cố mong tự đề cao. Người tu hành còn cầu danh cầu lợi, ham muốn lung tung là việc rất không cần. Chúng ta sau khi tu hành, nhất định cần nhận chân được thực tế rõ ràng để tu hành, vun bồi sửa sang gieo trồng hạt giống phước huệ. Tu phước thì cần phải lợi ích chúng sinh, tu huệ thì cần phải niệm Phật nhiều, nghiên cứu tụng đọc kinh điển, thường làm việc lợi ích chúng sinh, thì sẽ sinh ra phước đức. Có người hỏi là có nên dùng tiền tài để làm công đức hay không? - Chỉ cần bảo tồn tâm thiện; Làm mười nghiệp thiện, không có tâm ác; Chẳng làm mười nghiệp ác, đây đều là vun bồi chỗ phước đức, thật ra chẳng phải là nhất định cần dùng tiền làm công đức mới là công đức. Cho nên nói là: “Miệng Từ bi, lưỡi phương tiện, có tiền không tiền đều làm được công đức”. Chúng ta nên mọi chỗ mà tiếc phước, mọi nơi không bỏ phước, đâu đâu cũng tu phước huệ. Tu phước huệ chẳng phải một sớm một chiều được thành, mà năm nầy tháng nọ đều cần phải làm liên tục. “Chẳng nên một ngày dồn dập, một ngày nguội lạnh”, chúng ta nếu là thế nầy, vĩnh viễn chẳng thể có tiến bộ. Cho nên chúng ta cần nhận định “tôn chỉ”, mạnh mẽ tinh tấn, chẳng nên lùi về sau, đây là điều kiện mà mỗi người tu hành nên có.

NHỎ NHẸ KHIÊM TỐN

Gọi là “nhỏ nhẹ khiêm tốn”. “nhỏ nhẹ” tức là tâm rỗng rang (khiêm tốn) không kiêu ngạo, không tự đại, chẳng cố tự đóng chặc bước tiến; “khiêm tốn” là dằng tiếng nuốt khí, là trên thái độ biểu thị “ta ở dưới người”, người khác đều mạnh hơn ta, đều tốt hơn ta. Bỡi vì tâm rỗng rang không có thành kiến, mới có thể hoàn toàn xét nghĩ khách quan, mà có thể tiếp nhận được kiến nghị của người khác. Cho nên cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn ở nơi việc người, ở trên sự tu hành lại cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn, chẳng vậy - vĩnh viễn không thành tựu. Nên biết rằng Ðức Phật giảng bình đẳng, tất cả chúng sinh đều bình đẳng, nam nữ già trẻ, phú quí bần tiện, đều một lẽ bình đẳng, chẳng phân đây - kia, đối với họ đều một lẽ khiêm tốn và hài hòa, ở bất kỳ tình huống nào, vẫn tâm bình khí hòa, chẳng sinh bực mình, nhẫn nại đợi chờ, đây mới là nội công tốt đẹp nhất. Chẳng thể nhỏ nhẹ khiêm tốn, như gà cồ thét gáy, có đấu được rồi, công trước bỏ hết, già chết bất thành; việc phàm việc Thánh đều như thế nầy, mong nguyện những người đồng tu cùng cố gắng.

THÀNH TỰU

Chẳng nên tu một thời gian ngắn thì muốn có sự thành tựu ngay, sự thành tựu không phải là việc dễ dàng như thế. Như chúng ta học muốn được học vị bác sĩ (tiến sĩ), thì cần phải trải qua: tiểu học, trung học, đại học, thạc sĩ, rồi mới có thể được bác sĩ, trong những khoảng thời gian đó lại trải qua nhiều lần thi cử, nếu có một lần mà thi qua không được, thì học vị bác sĩ cũng mất hy vọng mà thôi, chỉ biết “Nhìn biển bao la mà than dài!”. Niệm Phật tu hành cũng là như đây, nếu chỉ niệm có mấy năm như thế mà muốn có thành tựu, dẫu là người căn khí bậc thượng cũng chẳng có thể mau như vậy đâu! Người tu tự lực mới bàn đến việc “thành tựu”; Bỡi vì người tu tự lực nếu không có “Thành tựu” thì ra không khỏi ba cõi! Cho nên cần có sự thành tựu, mới bàn đến thành tựu. Tu tự lực không nhẹ nhàng thoải mái giống như niệm Phật. Ta chỉ nhìn đến người tu tự lực có sự thành tựu, mà không thấy được sự ăn uống khổ sở, công phu phải ra sức của người tu tự lực. Cũng bỡi vì dễ được như thế, người niệm Phật chẳng bàn đến sự thành tựu, cũng không có thành tựu để bàn, vì khỏi được cái nhân cần có là “Thành tựu”, hễ thêm một việc ở nơi tâm là chướng ngại một việc. Người niệm Phật, lúc mạng chung, biết trước được giờ chết mà chánh niệm luôn được duy trì, tâm không điên đảo, niệm Phật vãng sanh tức là thành tựu!

Chẳng nên tu mới mấy bữa đã mong có sự thành tựu, trước nhất phải xem thử sự dụng công của ta đã được bao nhiêu? Xem thử sử dụng sau khi tu hành, thì biết được công phu tu hành của ta có sâu nhiều chăng! Chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau đây:

- ẤN CHỨNG DÙNG BƯỚC ÐẦU:

1 - Sau khi phiền não khởi, chớp mắt đã tiêu mất, rất là dễ chuyển.

2 - Thói quen sâu xa ngày thường hãy còn ưa chuộng, chợt dứt đi mà sửa đổi (Như: chẳng phải do áp lực từ bên ngoài đến, mà chợt tự động ngăn ngừa thuốc, rượu, thịt v.v...), tự động ăn chay.

3 - Gặp việc không đi vào chỗ bế tắc, mà thường từ chỗ siêu việt để nghĩ tưởng.

4 - Gặp việc thường phán đoán quán sát trên nhân quả, tùy duyên, nhân đó mà thích ứng, ở đó mà được thư thái, tâm được - mất đều bình an và điềm đạm.

5 - Ngay lúc gặp gỡ những việc phi lễ (vô lễ) và sỉ nhục, cũng chẳng dễ gì giận dữ và oán hận như ngày trước.

6 - Ít oán trách, ít so kể, ít tranh chấp, ít lao xao rộn ràng, ít phân biệt.

- BƯỚC KẾ TIẾP:

1 - Ðối với người có chỗ thân yêu, chỉ là soi xét chỗ thích ứng để mà dẫn dắt, giúp họ có sự tự lập, tự cường, tự trị, mà chẳng phải cả ngày cõng vát chẳng thôi, lo nầy nghĩ kia, phập phồng lo lắng, cả ngày buông không rời.

2 - Ðối với sắc đẹp, sự hiển vinh tôn quí, cừu thù ở đời, kẻ vô lại, người tà đạo, lúc ứng phó tâm không thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau.

3 - Ðối với sự vật, tiếp tục, sự ưa chuộng rất là yêu vui, có thể biết đó là vô thường, yêu mà không chấp giữ thì chẳng bị lụy vì nó, dẫu mất đó cũng chẳng cảm thấy khó chịu, chẳng làm nô lệ cho sự vật.

4 - Ðối với danh lợi, quyền thế, chuyên môn sở trường, của báu, phạm vi mình có, nên biết là huyễn mà không dính mắt, tùy duyên lấy bỏ, được không vui, mất không buồn, biết phân định đó là vô thường.

5 - Lúc đối đáp giao tiếp, lúc vui hết mình, lúc kinh sợ, lúc lo lắng, lúc cô quạnh... có thể chịu nổi không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà tự như vậy, hoặc dứt bỏ buông rời, mảy may không quái ngại.

6 - Ðối với hoàn cảnh chẳng tốt đẹp, công việc không thuận lợi, chỗ ở không thích nghi, bề mặt không tốt đẹp... các cảnh nghịch; Ðều nên phá bỏ tâm trói buộc, tùy cảnh gặp, nhân đó mà thích ứng, mà an ổn, không lấy việc khổ vui thế tục mà làm khổ vui.

- LẠI BƯỚC KẾ TIẾP:

1 - Nên tự sửa đổi tính cách, như bỏ lìa: đa nghi, keo kiệt, gấp gáp, thô tháo, khéo tính toán, khéo tranh luận, khéo hư vinh, khéo bài xích người khác... những cái riêng của ta cố chấp kết nhóm khó lìa, từ sự câu chấp mà dẹp thoát, mà hào phóng, mà siêu vượt, mà viên thông, mà tự tại.

2 - Gặp lúc thiên tai, nhân họa, bệnh tật, khổ nạn nặng nề v.v... thì biết tất cả sinh diệt vô thường, nguồn gốc không huyễn, nên không buồn không sợ, xử sự thư thái, tùy duyên mà “Nhậm vận”, tự tại vô ngại.

3 - Tuy biết phân biệt nhưng không trụ ở hai tướng, chẳng vì so lường mà sinh vọng tưởng, chẳng vì thương ghét mà sinh phiền não, vào ở “trí không phân biệt”.

4 - Ðối với ranh giới thị - phi, chánh - tà thì hoàn toàn rõ chăng? Có tròn đầy rỗng không hay chăng? Lòng dạ có rộng rãi hơn trước hay chăng? Vọng tưởng, phiền não, chấp trước có giảm ít cho đến không có hay chăng? Ðối với nghĩa chân thật tự ta thì đã có rõ ràng không nghi ngờ hay chăng? Ðược “Pháp hỷ” hay chăng? Pháp hỷ thì tinh thần no đủ, không mỏi mệt dễ dàng, thời gian ngủ nghỉ ít đi, tu hành không biếng nhác. Có tinh thần là từ trong pháp hỷ.

Muốn biết công phu tu hành của mình sâu được bao nhiêu? Ðức hạnh của mình có được bao nhiêu? (Ðã đủ đức hạnh, thì chỗ ở không đóng cữa ngõ mà ruồi muỗi hay các loài trùng nhỏ... chẳng thể tiến vào); Các phần trên, nếu có thể tự ta khẳng định, thì là thành tựu của anh.

Ở thời gian tu hành, gặp bất cứ cảnh giới nào, dù duyên thuận hay nghịch, đều phải cư xử thư thái, thuận nghịch đều phải tinh tấn, xem tất cả muôn sự muôn vật thành là vì chúng ta mà nói pháp, nếu chúng ta rõ biết muôn sự muôn vật đều ở tại thuyết pháp, thì có thể biết chỗ kỳ diệu chẳng thể nói được; Nếu có thể rõ ràng rồi, thì có thể biết bản lai diện mục, là đi trở về nhà, mượn pháp thế gian mà tu pháp xuất thế, chẳng bị muôn pháp mê hoặc, ngay khi tất cả cảnh giới đến, đón tiếp mà hiểu biết, không bị nó chướng ngại, thời gian thế nầy lâu rồi, Phật tánh của chúng ta sẽ hiển hiện; Nguyên nhân không hiển hiện, tức là chúng ta chẳng tiến về trước, gặp thiện duyên thì do dự không cương quyết, gặp ác duyên thì chạy với nó, do đó mà bị dừng giữ lại ở trong đời hiện tại. Cho nên xem không rõ, buông không rời, tóm lại chẳng được tự giải thoát, hồ đồ sinh ra rồi hồ đồ chết đi, chung qui là điên điên đảo đảo, tìm không ra đạo lý như vậy. Ðời người nầy tức là đời người hồ đồ, tóm lại cho là mình có thành tựu lớn, có của cải giàu, có sự nghiệp lớn, có danh vọng nhiều, mọi người khen ngợi, vâng làm, trọng đãi, phô trương nhiều! Hiển hách nhiều! Ở trên đời người thế là thành công rồi; Ðâu chẳng biết rằng thành công trên đời người, tức là thất bại trên sự tu hành! Ra không khỏi luân hồi! Cho nên cần đưa ra sự tính toán đặc biệt rõ ràng, làm một con người tu hành chân chính minh bạch, đánh phá cửa sinh tử, vượt thoát vòng luân hồi, thế nầy mới là người tu hành chân thật.

TRONG SẠCH TÂM ÍT HAM MUỐN – TRỪ PHIỀN NÃO

Mỗi người đều có rất nhiều phiền não, đây là nguồn gốc dẫn dắt mê hoặc và đau khổ. Người đời muốn thoát ly sự trói buộc của phiền não, quyết cần phải tiến tu năm phương pháp:

1 - Cần có chỗ thấy chính xác. Ðối với muôn sự muôn vật trên thế gian, cần nên giữ lấy cái nhìn chính xác, bày rõ quan hệ nhân quả, tin xác thực tất cả cội nguồn của khổ đau, đều khởi từ phiền não trong tâm ta, một ngày kia phiền não đã tiêu trừ, thì khổ đau sẽ tự nhiên không từ đâu sinh khởi. Người đời bỡi do chỗ thấy không chính xác, cho nên mới đối với “muôn sự muôn vật” và “Ngã” đã sinh khởi cái chấp có thật, hơn nữa do không rõ phép tắc sự tuần hoàn nhân quả của việc đời, mà luống tự tăng trưởng mê hoặc. Bị trói buộc ở nơi quan niệm sai lầm nầy, phiền não đương nhiên sẽ không có cách nào tiêu mất, sự đau khổ cũng sẽ theo thời gian mà tăng trưởng. Cho nên nói: Chỗ thấy chính xác là nguyên nhân chủ yếu nhất để tiêu trừ khổ đau.

2 - Cần khắc phục dục vọng. Người đời nếu có dục vọng thì nhất định có phiền não. Cho nên cần phải lấy tâm thanh tịnh để giữ gìn dục vọng sinh khởi từ sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, cần dứt trừ cội nguồn phát sinh phiền não.

3 - Chẳng bị nô lệ vật bên ngoài. Vạn vật ở thế gian là ứng với sự nhu cầu của con người mà sinh, mục đích của mặc y phục là ngăn che và tránh lạnh, cho đến bao lấy những cái xấu hổ bên trong; Mục đích của ăn uống là đủ no và nuôi dưỡng đời sống, để tiện việc tu tập, chẳng được tham lam hưởng lạc, mà chẳng biết đủ đầy. Nếu có thể giữ được cách nhìn chính xác nầy, chẳng bị vật bên ngoài sai sử, thì phiền não không từ đâu mà sinh khởi.

4 - Tâm nhẫn nại phải nên bồi dưỡng cao độ. Không luận là hoàn cảnh hiểm ác bao nhiêu, nếu nhẫn nại khiêm nhường, tất cả phiền não tranh chấp sẽ bị tiêu diệt ở nơi vô hình. Quá nóng, lạnh giá, đói rét, khô khát đều cần nhẫn nại; Gặp bị nhục mạ, chê bai, cũng cần nhẫn nại bình tâm tĩnh khí, quên hết những nỗi bận tâm, lo âu, lửa phiền não không cách nào nổi dậy, cũng sẽ chẳng cách nào thiêu hủy tự thân được.

5 - Xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của cảnh xấu (ác). Chính như người hiền chẳng tiếp gần các loại như: Ngựa chứng, chó điên; Người tu hành cũng chẳng nên tiếp gần hoàn cảnh đầy dẫy hiểm ác, hoặc chỗ ở gần, bạn bè, sách vở v.v... những điều có hại đối với mình, người tu hành nếu xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của các việc hiểm ác, lửa phiền não tự sẽ bình yên dứt mất.

Các món dục vọng của thế gian, tóm lại chẳng ra ngoài năm việc: Ðồ vật được thấy ở mắt, âm thanh được nghe ở tai, mùi hương được nghe ở mũi, vị được thưởng thức ở đầu lưỡi, cảm giác được chạm xúc ở nơi thân; Năm cơ quan mắt, tai, mũi, lưỡi và thân nầy tìm cầu cảm giác khoái thích và hấp dẫn, bèn là năm việc ham muốn (ngũ dục).

Con người, hầu hết đều vì dục vọng của bản thân bị hấp dẫn mà chìm đắm trong đó, không xét hiểu được kết quả đam mê ở nơi ham muốn của bản thân thì sẽ phát sinh nhẫn đến tai hại đáng sợ.

Cũng vậy, nếu người ta có thể tu luyện tâm mình, chẳng bị mê hoặc bỡi năm dục, thì không luận là hiện tại hay vị lai, đều có thể không phiền não, không khổ đau, được hạnh phúc mà vui vẻ.

Một con người tham cầu không nhàm chán sự giàu có, danh tiếng, quyền thế, sắc đẹp, thế thì phiền não sẽ không cách nào dẹp thoát được.

Tâm người là nhu nhược mười phần, rất dễ lay động, một chút mà không giữ thần giữ ý, thì sẽ hướng lệch lạc đến ở trong dục vọng đầy những tập khí nặng nề. Ví như xem được, nghe được, muốn được sự vật vui thích, thì sẽ sinh khởi tâm THAM. Xem được, nghe được, gặp được sự vật chẳng thuận ý mình, thì sinh khởi tâm SÂN. Xem được, nghe được, gặp được sự vật đáng sợ, thì sẽ sinh khởi tâm sợ hãi. Trong tâm nếu thường xuyên ở trong cảnh tham, thì tâm tham sẽ tăng mạnh. Nếu thường nghĩ tưởng cảnh sân hoặc cảnh sợ hãi, thì tâm sân và tâm sợ hãi cũng sẽ mạnh mẽ lên từng ngày.

Cho nên cần phải đem mình mà nghiêm túc giữ gìn, phá trừ tất cả niệm tà ác, triệt để dẹp bỏ tâm tham, sân và hại (sợ hãi); Bồi dưỡng tâm chẳng tham, chẳng sân và chẳng hãi sợ. Nếu như tâm chẳng thanh tịnh, hành vi sẽ có mối tệ; Hành vi có mối tệ, thì không thể tránh khỏi phiền não. Do đó, nên thanh tịnh nội tâm, cẩn thận lời nói và việc làm.

PHƯƠNG PHÁP ÐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO

1 - Không nghĩ quá khứ, hiện tại, vị lai, tốt xấu, đắc thất, vinh nhục, khổ vui.

2 - Giữ gìn nhãn căn của mình, dùng pháp “bất tịnh” mà quán sát, nếu dùng pháp tịnh mà quán thì sinh ra các món phiền não; Năm căn khác cũng như vậy.

3 - Xa lìa tất cả các việc ác, như sự dụ dẫn mê hoặc của tri thức, bạn bè, ở hàng xóm v.v...

4 - Ở việc ăn mặc, chẳng phải là sự lợi dưỡng tự thân, hay là để cống cao ngã mạn; Ðó chỉ là nhiếp phòng cho mạng căn, khiến cho thân được yên ổn; Hai cảnh thuận nghịch cần nên nhẫn; Ðói, khát, lạnh, nóng, muỗi, ruồi... bức xúc, tiếng ác đập gõ cũng nên nhẫn, thân thể gặp các bệnh rất là khổ đau, còn có các việc không vui cũng đều nên phải nhẫn.

Người tu hành nếu sinh niệm ham muốn, chẳng chịu trừ bỏ, sinh tà kiến chẳng chịu xả trừ, thì phiền não khởi, chỉ duy lấy chánh kiến, chánh tư duy mới có thể đoạn trừ phiền não.

NGÃ CHẤP

Chấp trước: Chấp là giữ cứng; Trước là dính chắc; Vọng tưởng là lầm lỗi; Chấp trước là giữ chặc lấy lầm lỗi.

Phàm là chấp trước: thân ta, tâm ta, tri kiến ta, khả năng ta, ta lợi hại, ta yêu ghét v.v... đều thuộc về “Ngã chấp”. Chính con người thường lấy NGÃ làm trung tâm, lúc tranh sĩ diện, tranh hư vinh, tranh ý khí, tranh được mất từ công việc, tức là lúc biểu lộ ngã chấp.

Ðời người nguyên là vô ngã và chẳng có kiến chấp ngã, ngay khi người ở yên tịnh, lúc chẳng ghét chẳng cầu, không ân không oán, vốn không gọi là ý thức ngã và phi ngã; Kiến chấp về ngã bỡi do phân biệt so đo mà sinh, ý thức vun bồi mà thành, thói quen đã chứa khó sửa đổi mà chấp.

Người thường hoặc dùng thân thể làm “Ngã”, hoặc dùng sự thấy hiểu của tư tưởng làm “Ngã”, hoặc dùng hành vi tạo tác làm “Ngã”, hoặc dùng danh dự - giàu có - quyền thế làm “Ngã”, thậm chí dùng cái thuộc sở hữu làm “Ngã”; Chỗ gọi là “Ngã” ấy, bất quá là một món giả định trên quan niệm mà thôi.

Sợ sệt đời người, lo lắng xã hội, chỉ duyên chúng sinh chấp trước ngã kiến (kiến chấp về ngã), thói quen chứa nhóm riêng tư, người người đều cố tham chấp “cái ta” nầy, bài trừ những cái chẳng phải ta, vì mưu lợi cho “cái ta” nầy, bèn đưa mình lên và ức chế người khác xuống, ở việc đó mưu tính hại nhau, nhiễu nhương không dứt, thành ra tranh chấp, ghét hận, oán cừu, đánh nhau, tàn hại v.v... rất là buồn khổ.

Chấp trước hư vinh, tranh hơn ghen ghét, ỷ mạnh tranh thắng, kích động tổn thương người. Si mê danh lợi, cam chịu làm tay sai, dốc lòng dựa dẫm leo cao, chẳng trừ thủ đoạn, mưu tính hại nhau, trở trái vô thường, bán bạn cầu vinh, làm phản cướp lợi, vì riêng tư mà làm rối, che dối thiện lương, vì quấy làm tồi, tán tâm cuồng bệnh. Tham lam, tranh bá, đoạt lấy, tàn hại, đấu tranh, giết chóc, kết oán.

Thân có: Sinh, lão, bệnh, tử. Vật có: Thành, trụ, hoại, không. Tâm có: Khởi, chấp, chuyển, dứt. Người có: Kết, họp, tản, lìa. Sự có: Lập, hưng, suy, phế. Trời cógió mây bất trắc. Ðời cóhọa phước ngày đêm, tùy thời gian chuyển biến, không có hằng thường, việc thế gian không như ý ta ấy, thường thì tám – chín phần mười; người ta ở trong sự chuyển biến không dứt nầy chỉnh đốn hoàn cảnh, chẳng nên đem một mảnh ý thức riêng mình si chấp giằng co, ngoan cố không chịu biến đổi, hoặc “gọt chân cho vừa giày” (làm sai những nguyên tắc đã có sẵn), si mê tự trói buộc, cũng chẳng nên giữ gìn chấp lệch về một phía của riêng mình, rắp tâm cưỡng cầu, cố sức đoạt lấy, hoặc cố ý bẻ cong sự thật, cố giữ ý phá hoại, càng chẳng nên đối với cái không thích riêng mình mà trói buộc ở nơi tình, phóng túng đường tình mạnh mẽ, ý khí tranh chấp, hoặc tìm cừu thù gây sự, đánh nhau rất là hung ác. Ngược lại, quán sát cần nên thấu triệt, lý trí sáng suốt, khi đã rõ ràng ra thì ôm lòng thương xót, nhìn thấu tâm cảnh, nên rất là đạm bạc trong sự ham muốn riêng tư, đối xử với người tốt đẹp hài hòa, sửa đổi công việc một cách tròn đầy bao dung. Chớ nên chấp cái “nhân” của thói quen, chớ nên chấp “tri kiến” mà trói buộc, chớ nên chấp “ngã” mà có sự riêng tư, chớ nên chấp “oán” mà có sự đấu tranh.

LÚC NIỆM PHẬT VỌNG TƯỞNG NHIỀU

- Có những người nói: Lúc ta niệm Phật, không hiểu duyên cớ vì sao, vọng tưởng ở trong tâm ta khởi lên nhiều, do đó niệm Phật không thể chuyên tâm được, muốn trừ vọng tưởng thật là rất khó?

Người ban đầu học Phật, tâm còn thô tháo động loạn nhiều, định lực chẳng đủ, niệm trước dứt niệm sau khởi, niệm niệm liên tục trong một sát na, trọn không dừng dứt. Vọng tưởng tức là nghiệp chướng. Tâm có chơn có vọng, một mà hai, hai mà một; Tâm phàm phu nhảy nhót dong ruổi, niệm niệm luân lưu biến chuyển, chưa từng có một lúc dừng nghỉ, đây là vọng tâm vậy.

Chúng ta có thể lăng xăng loạn động ở tâm tư, không lúc nào ngưng tâm nhứt ý niệm Phật là việc rất tự nhiên, nhân vì chúng ta rốt cuộc còn phải trải qua thời gian ở trần thế, gốc của phiền não vọng niệm đó là đã trói buộc lâu ngày chẳng buông rời, nên bất tất phải tiêu diệt nó. Không có vọng niệm thì không thể phát sinh ra chánh niệm, không có phiền não thì chẳng thể muốn thoát khổ. Mà niệm Phật là chánh niệm, chúng ta còn phải niệm ra câu niệm không dứt đoạn: “Nam Mô A Di Ðà Phật”, vọng tưởng không cách nào mọc rễ thì tự động tiêu diệt, chẳng thể lâu dài trói buộc ở nơi chúng ta.

Niệm Phật có vọng tưởng, là chúng ta dụng công niệm Phật soi rọi ngược lại ở trong tâm, do đó mới biết có vọng tưởng, lúc trước không niệm Phật, trong tâm mất đi sự quản lý, chính mình cũng có thói quen không suy xét; Chúng ta niệm Phật là chèn ép vọng tưởng đi.

Hàng phàm phu chúng ta, ban đầu niệm Phật, thì vọng tưởng lăng xăng, tâm không cách nào yên tỉnh được, biện pháp duy nhất là chí thành khẩn thiết niệm chuyên tâm; Vọng tưởng khởi lên không thể bỏ được, càng không thể muốn tiêu diệt nó; Ta niệm Phật của ta, thuận với tự nhiên, thời gian lâu rồi, công phu đến lúc, vọng tưởng sẽ tự nhiên giảm ít cho đến không còn; Nếu muốn vọng tưởng không khởi thì vọng tưởng ngược lại càng nhiều. Có thể nhất tâm bất loạn thì không có vọng tưởng rồi. Rất nhiều người thường xuyên đề cập, lúc niệm Phật còn có vọng tưởng, chẳng qua là chút ít mà thôi. Không nên vì niệm Phật có vọng tưởng nhiều mà sinh phiền não! Công phu của ta đến lúc nhất tâm bất loạn, vọng tưởng sẽ không có.

Niệm Phật có vọng tưởng nhiều, tâm khó qui nhất, phải nhất tâm chí thành khẩn thiết (chuyên niệm - tập niệm thành thói quen sẽ dễ nhiếp tâm hơn), lâu ngày vọng tưởng tự mất. Nếu khó qui nhất, tức nên dùng “Mười niệm nhớ số”. Gọi là mười niệm nhớ số tức là ngay lúc niệm Phật, từ một câu đến mười câu, cần niệm rõ ràng nhớ cũng rõ ràng. Ðến mười câu rồi, lại bắt đầu từ câu một niệm đi... không được dùng chuỗi, chỉ nhờ tâm nhớ, nếu một lần nhớ mười câu khó nhớ, có thể phân làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười làm hai lần niệm; Nếu giữa chừng vọng khởi thì bắt đầu lại từ câu thứ nhất mà niệm. Niệm được rõ ràng, nhớ được rõ ràng, nghe được rõ ràng, mỗi ngày niệm được vài vạn, đều niệm như thế, lâu rồi tự được. Vọng niệm nặng nề thì chăm vào câu niệm Phật vậy. Như lúc chẳng niệm Phật thì lăng xăng sóng dậy, vọng niệm lao xao chẳng dừng, dù khoảng sát na, đâu có thể tỉnh giác được ư.

Như thế nào trừ được tạp niệm? Chẳng tiêu trừ được, nhưng tự phấn chấn tinh thần, dùng một niệm nầy hoàn toàn để nơi Phật, tạp niệm tức không có. Song tinh lực mệt yếu, thì không thể khiến cho tạp niệm không có, lại phải như thế nào? Ðạo lực chưa đầy đủ, nhiều những tán loạn, thì thu nhiếp sáu căn lần quay về thanh tịnh. Ngay khi tạp niệm khởi, chẳng nên xử lý nó, cũng chẳng nên chuyển theo nó, mà ta chỉ niệm Phật, sẽ tự nhiên không tạp niệm vậy. Nhưng lâu sau tạp niệm lại khởi, thậm chí ràng buộc không mở được, bất tất phải nóng nảy, chỉ lắng trong sự suy nghĩ của tâm, khiến sáu chữ Hồng Danh phát ra từ tâm, thành tiếng từ miệng, nghe tiếng rõ ràng ở trong tai, trở lại lưu xuất từ trong tâm niệm, xoay vần xâu nhiếp chẳng để gián đoạn, thì tạp niệm tự sẽ không có.

CHẲNG NÊN VỌNG CẦU CẢM ỨNG

Ðã từng có nhiều người lần đầu nghe nói “Tịnh độ tông” - Pháp môn trì danh niệm Phật, kinh ngạc đối với một tiếng “Nam Mô A Di Ðà Phật” chứa đựng sự thẳng tắt thành Phật rất đơn giản, rất dễ dàng và rất rộng rãi, mà hiện ra nét mặt vui tươi, trong lòng phát ra tâm tình rạng rỡ như là “Ta đã tìm được rồi”. Thế là trên tay lần chuỗi, trong miệng niệm Phật râm rang, bất luận là đi, đứng, ngồi, nằm đều niệm, chuỗi chẳng rời tay, miệng chẳng lìa câu danh niệm Phật, một bộ dạng tu hành thật sự; Trải qua bao nhiêu thời gian, trên kinh đã nói một tiếng niệm Phật diệt được hà sa tội, nhưng ta đã niệm vô số tiếng rồi, mà cuộc sống cũng giống như không có sự thay đổi gì, việc không như ý mà người thường thế tục gặp được, cũng mãi đổ trút trên đầu của ta. Xem người niệm Phật ở trên “Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục”, mỗi việc đã đầy đủ sự cảm ứng thần kỳ, không chỉ là Thần về thế giới Cực Lạc, thì cũng là gặp thấy được Ðức Phật A Di Ðà, và Bồ tát Quán Thế Âm, sao ta không có một chút cảm ứng nào? Một khi thất vọng thì chẳng chịu niệm nữa. Trạng thái tâm lý gấp rút cầu lợi như thế thì cầu chẳng được, chỉ biết người khác niệm Phật được cảm ứng thôi, ngược lại không biết họ niệm Phật đã bỏ ra bao nhiêu là công phu? Ðã niệm Phật bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật “Nhất tâm bất loạn”. Anh niệm Phật đã được bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật gió thổi cỏ động anh đều biết đến, vọng tưởng tạp loạn lăng xăng, sáu căn chẳng động - anh làm không được; Chỉ hỏi vấn đề thu hoạch, mà không hỏi vấn đề cày bừa, vọng cầu cảm ứng có được hay không?

Có thể từ niệm Phật mà đạt được chỗ tốt đẹp rất nhiều, là quyết định ở nơi tâm tình và nổ lực niệm Phật của ta. Cũng vậy, người niệm Phật, có chỗ khác nhau rất lớn giữa người có thể niệm và người không thể niệm. Người có thể niệm, rất dễ dàng có thể niệm thoải mái trong lòng; Còn người không thể niệm rất dễ dàng rơi vào sự gấp rút cầu lợi, khô khan, lãnh vực cơ giới hóa, mà mất đi sự hứng thú của tín tâm. Nếu như hoàn toàn tin vào kinh điển, hoàn toàn tin vào nguyện lực đại bi của Ðức Phật A Di Ðà, nếu như lấy lòng cảm ơn cảm tạ để niệm Phật, cảm ơn có thể niệm Phật thì sao là vận may! Cảm tạ mình có thân tâm niệm Phật, cảm tạ chư vị đại đức tổ sư nhiều đời truyền nên huệ mạng Phật pháp... mà có thể niệm Phật, ắc cần người và việc cảm ơn cảm tạ rất ư là nhiều rồi, ở trong lòng cảm ơn như thế nầy mà niệm Phật, thì tâm tình rất là thoải mái; Nếu như lấy tâm tình vui vẻ để mà niệm Phật, chẳng hiểu là anh được một việc vui vẻ hay không? Niệm Phật A Di Ðà, đời sau sanh về thế giới Cực Lạc, có thể chẳng vui sao? Tức khiến không muốn niệm Phật có chỗ tốt đẹp nhiều thế nầy, rõ ràng là bản thân niệm Phật thì có thể khiến tâm lăng xăng vọng tưởng của ta được một đối tượng chuyên chú thanh tịnh, thân tâm an ổn tốt đẹp, tự tại, cũng có thể khiến ta đã cảm được sự vui vẻ rồi.

Chẳng nên đem tâm tình gấp rút cầu lợi, buồn khổ, cầu tha thứ để mà niệm Phật, chẳng nên đem Ðức Phật A Di Ðà xem như là Thần để cầu tài, cầu bình an, cầu tha thứ... mà niệm Phật. Niệm như thế nầy, sẽ khiến cho niệm Phật là việc thưởng thức nơi tâm và vui nơi mắt mà thôi!

Ðã trải qua bao nhiêu thời gian... mà ta không có một chút gì cảm ứng? Cũng giống như đi lên gò núi nhỏ, gian nan niệm Phật đã lâu, phát hiện ra không được một cái gì, ở đó gấp rút đi trở lại, quay về điểm khởi đầu. Trải qua sự nổ lực niệm Phật một thời gian, kết quả là bỏ cuộc giữa đường, bây giờ hồi tưởng lại, cũng rất là gấp gáp cầu lợi, thế là rách việc rồi!

Nếu ta không gấp gáp cầu lợi, chỉ là giống như nước chảy về phía trước một cách vô tâm, nước chảy cuối cùng có lúc tập trung về nơi biển lớn; Tâm linh tịnh hóa không hay không biết đó tóm lại cũng có một ngày sẽ xuất hiện trình độ tiến bộ rõ ràng, có một ngày ta sẽ phát hiện ra chỗ tốt đẹp to lớn đến từ sự niệm Phật, quyết định tâm tình niệm Phật đối với ta.

Nếu như ta giống với cái ta quá khứ, cũng gấp gáp cầu lợi, đem trạng thái tâm ấy mà niệm Phật, cũng có thể sẽ giống như ở trước là bỏ cuộc giữa đường, rõ ràng đã lãng phí đi một pháp môn tiềm năng thâm hậu.

Nếu như ta đem sự tin tưởng hoàn toàn vào kinh điển mà nói, hoàn toàn tin vào sự tốt đẹp vi diệu của thế giới Cực Lạc, hoàn toàn tin vào nguyện lực Từ bi của Ðức Phật A Di Ðà, ngay lúc ta dùng tâm tình nầy để niệm Phật, nghiệp chướng nhiều đời khởi lên mạnh mẽ, cũng ngăn cản không được sự tiến đến giác ngộ dũng mãnh của ta.

Nếu như Ðức Phật A Di Ðà trong tâm trong mắt ta không chỉ là một tượng Phật được tôn trí trên khám Phật cúng dường, mà là pháp thân biến khắp hư không, mười phương thế giới chúng sinh chung một thể tánh; Ngay khi ta đem tâm tình thế giới nầy để niệm Phật, tức khiến cho nghiệp tội sâu nặng đều giống như cục băng bộc lộ sự tiêu tan mau chóng dưới mặt trời.

Trước lúc chưa được nhất tâm, nhất thiết là không được nôn nóng trước vọng cầu cảm ứng; Vì sau khi nhất tâm thì đương nhiên có sự cảm ứng. Tâm chưa nhất, mà cầu cảm ứng, tức tâm cầu cảm ứng nầy sẽ là một chướng ngại lớn cho sự tu hành.

CUỘC SỐNG QUA ÐI THÌ TỐT

Người đời vì lập nghiệp, thành gia, sinh con, mua xe, mua nhà v.v... muôn điều bận rộn! Tu hành học Phật không vì những việc thế tục nầy mà bận rộn! Cuộc sống qua đi thì tốt, nếu có ít tiền gởi ở ngân hàng để sinh lợi tức, cũng có thể để sinh sống, sự nghiệp không có thì ngại gì? Cần nên hướng đến việc niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Tiền bạc chẳng phải là vạn năng; Chẳng nên cho tiền bạc là vạn năng, có được tiền là mua được quỉ đuổi được ma.

Tiền bạc nhiều thì lo rầu nhiều; Ðã có tiền bạc nhiều thì luôn ở trong sự lo âu và sợ sệt.

Tiền bạc cố nhiên là cần, thật ra chẳng có thể đầy đủ toàn bộ nhu cầu cho tánh tham con người. Ví như sự: khẩn trương, lo rầu, sợ sệt, phiền muộn, rỗng tuếch; Hay là: thoải mái, vui vẻ, tự tại, phấn chấn cũng chẳng thể dùng tiền bạc để đổi lấy được.

Xác nhận tiền bạc ở trong cuộc sống ngày thường là “vật phải cần”, ăn uống, mặc, giao thông, vui vẻ... đều cần đến nó, cuộc sống của mỗi người cùng với tiền bạc rất gần gũi tương quan, nhưng có một ngày lúc tiền sụt giá hay không có tiền, thế thì không thể vui vẻ được.

Cơm hẩm áo thô, vui thú rõ ràng như cũ; Nếu lo lắng lăng xăng không dừng, buồn lo họa hoạn trói thân, thì dẫu mặc gấm ăn sang, cũng chỉ cảm thấy muôn điều sầu khổ.

Chờ khi tư tưởng thông rồi, thấy rõ ràng rồi, thì ta nhiều tiền như thế, cũng chỉ là cái rương! Sau khi tiền nhiều dư dũ, ngược lại bị gặp khổ não và rầu lo rất là nhiều, cho nên đừng vì tiền nhiều mà bận rộn lăng xăng!

Áo mặc, cơm ăn, đến đi, qua lại... những việc người đời đã tốt lại càng muốn tốt, đã nhiều lại càng muốn nhiều, thậm chí dùng sinh mạng để đổi lấy. Nhưng thực tại có thể hưởng dùng thì có hạn, ăn nhiều một chút thì đau căng bao tử, mặc nhiều một chút thì nóng đổ mồ hôi, một thân chẳng thể ngủ hai giường. Vật ngoài thân thì muốn càng nhiều càng tốt, thật ra có thể hưởng dùng được bao nhiêu? Lúc chết đi mang theo được cái gì? Song thì con người rốt cuộc vẫn là con người, cầu lấy trên cơ bản vật chất đầy đủ, mà đừng nên làm dày thêm việc sai quấy; Nhưng nếu đảo lộn gốc ngọn, một khi mê muội tìm cầu cho đầy đủ trên vật chất, rồi thì cho rằng tiền bạc là mục đích của đời người, rồi tự cho là lẽ phải, học Phật tu hành như đây, muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc ngược lại thì trôi mãi trong luân hồi.

Phấn chấn cầu tài, lục đục vì danh, song, dẫu cho kiếm được tiền của rất nhiều, đối với việc vị lai vẫn không hiểu được một chút nào, chẳng nắm chắc mảy may, rốt cuộc mới phát hiện giàu có thật ra không phải mục tiêu của đời người, há chẳng phải là một cuộc bận rộn rỗng không! Người xưa nói rằng: “Ruộng tốt vạn khoảnh, ngày ăn một thăng, nhà rộng ngàn gian, tối lại cũng chỉ ngủ một giường”. Thân ta thật ra sự nhu cầu chẳng nhiều, ngược lại sự xa xỉ ham muốn chính ta và ăn mòn riêng tư, cho đến nỗi cả ngày chẳng thể nào vừa ý, thật thoải mái được. Tuy trên vật chất là giàu có, song sinh mạng ngược lại thiếu vị khô cằn. Ðứng về cuộc sống tinh thần mà nói, thì nghèo thiếu không có gì cả.

Thảng hoặc chỉ vì bận rộn, tranh danh đoạt lợi, vơ vét giàu có, thê thiếp đầy nhà, nghiên cứu ăn ngon mặt đẹp, tâm say nơi tiếng tăm sắc dục, cuộc sống vật chất mong cho cao cấp mới có sỉ diện, mới có phong độ, mới có hiển hách... bề bộn bận rộn cả ngày vì danh vì lợi, chứa nhóm ý niệm nầy, tâm thần vì đó mà tiều tụy, không có phút giây yên ổn, lo rầu nghĩ nhớ lớp lớp, mây sầu giăng thảm, khổ não không thể tự tiêu cho đến chết, buồn nầy lúc nào mới tránh khỏi!

Người đời lục đục, hấp tấp bôn chôn, rộn ràng, nhộn nhịp, việc để tìm cầu không ra khỏi hai chữ “danh - lợi”; Sự thật, sau khi thành danh được lợi, ngược lại thì đời người ấy cái khoảng cách với hạnh phúc và khoái lạc rất xa; Bỡi vì danh lợi trọn không có chỗ dùng, mà vả lại được thì khó, mất thì dễ; Chẳng những là cần giữ lấy cái lợi ích ấy mà đã phải phơi lòng treo mật để có được, còn đem sinh mạng để tìm cầu cho cao hơn một bực, do đó lại có chủ định khổ nhọc trọn đời, không được yên ổn.

Làm quan to hay có tiền nhiều mới có sỉ diện, làm công việc nặng nhọc thô kệch, ăn đạm bạc đậu rau thì không có sỉ diện, bị người coi thường; Ðây tức là không thấy rõ, tự chuốt khổ não. Kỳ thật, có sỉ diện, là tâm hư vinh làm điều quái gở, cuộc sống đời người mãi mãi trôi chuyển trong sáu đường, tức là tham ái dính mắc vấn đề “có sỉ diện” nầy.

Tiền bạc không phải là ở nơi có nhiều, dùng hàng ngày đủ là được; Làm quan chẳng là phải lớn, mà làm tốt trách nhiệm là được; Mạng sống chẳng phải ở chỗ dài lâu, mà phải khỏe mạnh thì vui. Không tham bên ngoài thì thanh tịnh bên trong, vả lại được nhiều phước; Tâm không xấu hổ thì khỏe mạnh và tuổi thọ nhiều. Có hai việc: Phước - Thọ nầy thì sẽ tốt hơn nhiều so với: Tiền vàng nhiều, sự nghiệp nhiều, con cháu nhiều. Ðã nhiều tiền thì sẽ bị chi phối không tốt, là nguồn gốc của tội ác.

Tự ta say sưa, do đó cũng chính ta khen thưởng cho ta, cũng tức là tự mình coi trọng mình. Không có sự tự ti mặc cảm là không chú trọng sỉ diện, không coi trọng mình, cũng có thể thu được cảm nhận đầy đủ và vui vẻ, thảnh thơi tự tại, thân tâm tự nhiên khỏe mạnh thoải mái; Ðời người có cảnh giới nầy, lại cầu gì để được người khen thưởng (có sỉ diện).

Sự nghiệp đã lớn, sự tình đã nhiều, công việc đã nặng, ranh giới quan hệ của người lại phải ứng phó cho tốt, việc nhiều tâm phiền, cả ngày bận rộn, khổ nhọc quấy động trong tâm, làm cho thân tâm cứ mãi khẩn trương. Ðời người giàu có vốn có định số, chẳng nên giở thủ đoạn trong ý mà cưỡng cầu, nếu được cũng chẳng thể hưởng lâu. Xem rõ những vấn đề đó, coi thường những vấn đề đó, giàu có hay nghèo khó cũng nên để nó thuận với tự nhiên, mà bình thường. Ông chủ nhỏ, người làm công, ngày làm tám tiếng đồng hồ, chẳng làm thêm; Tự hưởng lấy đúng với công sức mình đổ ra, có gì là chẳng tốt? Tiền ít một chút, có thể ước lượng sự thu vào để mà xuất ra, còn dư tiền thì phải khéo giữ, lúc không có công việc thì có để mà ăn, không cầu người khác, không có người tìm tới để đòi nợ, chẳng nóng nảy, chẳng lo nghĩ, một thân nhẹ nhàng, cuộc sống được vui vẻ tự tại.

Phật pháp yêu cầu người đời chẳng nên chấp nơi hư danh, tài lợi, riêng tư trong lòng, ham muốn của người, vật chất... Vì những vấn đề nầy đều là nhân tố chủ yếu của khổ đau đời người. Vì những vấn đề nầy không những khiến cho con người sanh lòng xảo quyệt đoạt lấy, làm thương hại đến đạo lý, mà rốt cuộc rồi còn phải chuốt lấy ngày lâm chung chẳng tốt đẹp yên bình.

Xem thấu suốt sự lý tình người, thì có thể không còn lo nghĩ; Xem không thấu, nghĩ không rõ, thì sẽ tâm phiền toái suy nghĩ loạn động. Phiền não nhiều do hai chữ DANH - LỢI mà ra; Lạc quan nhiều do một niệm CHẲNG CẦU mà có. Không yêu cầu quá sức, thì không có sự thất vọng ngoài ý muốn; Mà đã không có sự thất vọng ngài ý muốn thì không sinh ra sự oán trách. Ðem hai chữ “danh lợi” bỏ đi, tâm cảnh bèn sẽ linh thông sáng suốt; Trừ sạch quan niệm “tham cầu”, phiền não tự nhiên trong suốt.

Xem và phá một cách triệt để năm dục - danh lợi, chuyên tâm nhứt ý niệm Phật, không nhìn gió mây biến huyễn, trăng khuyết trăng tròn, xem cái gì cũng đều không động ở bên trong, thế mới là chơn tâm tu hành.

Nuôi con ngừa lúc tuổi già, ngậm kẹo đùa trẻ (niềm vui thú của người già), thời đại đó đã qua rồi. Thời đại biến chuyển, trào lưu biến chuyển, hoàn cảnh cũng biến đổi; “Nuôi con” chỉ là một vấn đề trách nhiệm, một loại nghĩa vụ. Niềm hy vọng thời đại con trẻ nuôi người già đã qua rồi. Con cái trong thời hiện đại cần phấn đấu chính mình, độc lập chính mình, là một gia đình nhỏ, đã không có thời gian và sức lực dư thừa để chiếu cố người già. Nếu lại muốn nuôi con để ngừa lúc tuổi già, không nên ngóng chờ lỗ mũi con cái mà thở, nên nhìn sắc mặt của con cái, thậm chí biến thành vật thừa trong tâm trong mắt của con cái, thế thì thê thảm quá! Con cháu tự có cái phước của nó, chẳng nên vì con cháu mà làm trâu làm ngựa; Con cái lúc còn nhỏ thì nuôi dạy cho tốt, lớn lên thành người rồi thì hết chức phận, nên giữ ít tiền, làm việc học Phật tu hành cho chính mình (Niệm Phật), nên tinh tấn để vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

TIÊU TRỪ NIỆM THAM

1 - Nhìn thấu suốt, phân tích rõ, hiểu được cái gì là CHƠN THƯỜNG, cái gì là VÔ THƯỜNG, biết tất cả không khả năng giữ mãi, có mãi, chấp mãi, cũng không cần lấy nhiều, chứa nhiều, quán chiếu thấy năm uẩn là không, tự nhiên không có niệm tham.

2 - Ðời người giàu có vinh hoa, sinh chẳng mang đến, chết cũng chẳng đem theo, được chẳng vui, mất chẳng buồn, tham của người khác làm gì? Vả lại sau khi chết vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì vạn lần tốt đẹp đầy đủ.

3 - Một việc ham muốn mong cầu (dục vọng), ở nơi niệm trọn không chỗ dừng nghỉ, tuy là do tham mà được, cũng vĩnh viễn khó mà đầy đủ; Ngược lại, vọng niệm thì điềm tĩnh chẳng cầu, tuy là ngay nơi không có gì, mà rõ ràng tự được, không mảy may gì là chẳng vui.

4 - Người ta có thể tiêu trừ niệm tham, thì sẽ ít chấp trước, ít tranh đoạt, ít đố kỵ, ít oán trách, khiến cho xã hội có xu hướng hòa bình yên ổn.

TIÊU TRỪ NIỆM SÂN

1 - Niệm sân thường nhân nơi tâm giận mà khởi, tâm giận thường vì sự riêng tư của bản ngã, sự sai lệch của bản ngã, cân lường, so sánh, háo thắng, ỷ mạnh, ưa sỉ diện, ưa hư vinh mà khởi ra; Cho nên gọi là sợ mình chẳng thành mà thành ra giận người. Cần biết rằng người phàm việc phàm, mỗi cái đều có nhân duyên, mỗi cái tự phải nổ lực, mỗi cái đều có phước báo, sao không biết tự trồng ở nơi ruộng phước, mà lại chuyên đi làm cái việc ức chế phá hoại người khác, dẫu tổn hại người mà chẳng ích lợi gì mình!

2 - Niệm sân lại thường còn do nơi tâm oán hận mà khởi, oán hận lại thường nhân nơi hiểu lầm, biết sai, bị xúi dục, bị ly gián, sinh tranh chấp, ôm lòng hiềm khích, nhớ lấy cừu hận, nghĩ sự phục thù v.v... mà khởi ra. Cần nên biết rằng con người đối xử với nhau, phải có đức bao dung cho lớn, có thể nhẫn việc để mà giúp đỡ, nếu còn oán sân với nhau thì kiếp nạn cứ xoay vần, họa báo không dứt được. Huống nữa oán sân với người thì kết lấy duyên ác, người ấy chưa chắc gì vì ta oán sân mà chuyển thành tốt; Ngược lại lượng thứ cho người thì có thể kết duyên thiện, người đó có thể nhân vì ta Từ bi mà được chuyển hóa, cảm hóa.

3 - Ngay lúc niệm sân khởi, người niệm Phật nên chọn ngay mà dùng tuệ giác chiếu để gấp rút chuyển pháp, và làm phép quán “bình đẳng bất nhị”.

TIÊU TRỪ NIỆM SI

1 - Thế gian vốn không có thị - phi, được - mất, tất cả bỡi do tâm huyễn (không chơn) của con người tạo tác giả định, chúng ta nên thận trọng rõ ràng chỗ tạo tác đóù là hợp lý hay không? Là chính đáng hay không? Có ý nghĩa giá trị hay không? Nếu như không nhận rõ xanh, hồng, đen, trắng thì mù mắt chạy theo, si mê vọng chấp, tự rơi vào cạm bẫy, cam chịu sự trói buộc, bèn là việc cực đoan ngu tệ.

2 - Phước báo đời người, mỗi người tự có nhân duyên, tất cả nên tùy duyên, tùy hỉ mà lấy bỏ, chẳng nên mờ mắt mong cầu, si mê trói chặt, cưỡng lấy xảo đoạt, mánh khóe khổ cầu, chỉ là tạo ra những duyên nghiệt ngã, nhân quả trả báo nhau, để hại vô cùng.

3 - Tự đến khuyên người dừng sự tranh cãi là nghĩa cử thiện, khích người đấu tranh với nhau là nghiệp ác. Hãy còn si mê ở nơi tranh chấp tới cùng, đấu tranh ghê gớm, kết cừu báo oán, thì lâm vào thế ngồi trên lưng cọp, tự chuốc phiền toái và não hại người khác, kia đây trái chống, nhiễu nhương trọn đời. Vì việc gì đây? Chớ tạo sai quấy, người Thần đều buồn.

4 - Người niệm Phật, nên hằng giờ phải quán chiếu tự tánh, rõ ngộ bản thể thanh tịnh, phá trừ vô minh, tự nhiên xa rời được si mê.

TIÊU TRỪ NGÃ KIẾN

1 - Sự nhu cầu một ngày của đời người, trăm công việc muốn được chu toàn thì kia - đây phải nương nhau, hợp tác giúp đỡ cho nhau, mới có thể cùng tồn tại cùng hưởng lấy. Nếu miễn cưỡng chia ra: kia - đây, cùng nhau đấu tranh chê bai nhau, thì rõ ràng tàn hại cùng nhau.

2 - Con người quí ở chỗ là khoang dung thông cảm với nhau, vui hòa chung ở, hóa giải oán cừu, vun bồi việc tốt đẹp, mà tránh khỏi sự phát sinh tranh chấp, tạo nên khẩn trương.

3 - Con người mà khi đã muốn làm việt thiện, lợi ích chúng sanh, làm việc phục vụ, rộng lòng bố thí, thì còn e ngại gì nữa vấn đề tiện nghi bị người chiếm đoạt, chỗ ở tốt bị người chiếm lấy? Lại còn sợ gì nữa khi người khác hơn mình.

4 - Cuộc sống nổi trôi như huyễn mộng, chẳng qua đời ta như kẻ lữ hành lặng lội một đời người vài mươi mùa nóng lạnh (năm) mà thôi! Cái ta có: nào chồng, nào vợ, rồi con cái, bạn bè xã hội, quốc gia... thậm chí chỗ gọi là của ta, cũng tạm là nhân duyên giả hợp, duyên phần có lúc hết, qua lại vô thường, chẳng phải chết rồi chấp cho vĩnh hằng, cũng chẳng phải lấy ta làm trung tâm, mà sinh kiến chấp lệch lạc, tư riêng, yêu thương và sân giận.

5 - TA_ ngày hôm qua, chẳng phải TA ngày hôm nay, TA hôm nay chẳng phải TA ngày mai. TA bèn là ở sự biến hóa vô thường tùy lúc, nên chẳng thể được. TA đã chẳng thể được, thì hà tất gì phải tham chấp ở nơi cái TA nầy? Mà đi bài trừ bác bỏ cái chẳng là TA, công kích những gì khác mình, tạo thành tranh chấp, đố kỵ, hờn giận oán cừu, đối địch đấu tranh, tàn hại nhau v.v... biết bao điều đau khổ.

6 - Người phải quay lại quán tự tánh là bản tánh thanh tịnh, chẳng dính mắc, chẳng ô nhiễm, quán sát thế gian tất cả đều “bình đẳng bất nhị”, không oán không thân, cũng không có kiến chấp tướng người tướng ta, tình và pháp cả hai điều mất, người và ta điều không, rõ ràng mà rộng lớn, sao lại có cái thấy (kiến chấp) riêng tư đối với ta?

TIÊU TRỪ CHẤP TRƯỚC

1 - Tâm người thường mỗi khi bị vô minh che lấp, gặp việc chẳng kể là phải - quấy, thiện ác, chủ quan trước tiên, thường ưa chấp lấy. Tâm như keo dính, gặp lợi là chấp lợi, gặp khổ chấp khổ, gặp vui chấp vui (gặp ngã chấp ngã, gặp pháp chấp pháp, gặp thấy (kiến) chấp thấy, càng chấp càng bền chắc, tâm bị chấp sai khiến nên rơi vào mê khổ).

2 - Chấp thì phát sinh cái lực ma sát cản trở mà làm ngăn hại, chẳng chấp thì bốn phía đều không, tất cả sinh hoạt vô ngại, mới dễ giải thoát.

3 - Nhân quả cũng chẳng nên chấp trước, có thể tùy duyên mà gạt bỏ hóa trừ. Nhân ác cố gắng chẳng nên dính mắc, nên cần làm thiện để hóa giải, trọn có lúc được tiêu trừ. Nhân thiện cũng chẳng nên dính mắc, vì bỡi dính mắc sẽ có tướng: Ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả; mà chẳng thể giải thoát.

4 - Ðem pháp đời mà nói, ban đầu của đời người, cội nguồn là một tấm trắng không, tất cả phong tục, tập quán, pháp luật, chế độ, phải quấy, chia phân, sang hèn, được mất, cao thấp v.v... đều là sự quan hệ do nơi tâm huyễn giả định bày ra, tạo tác mà lập nên. Nhưng tất cả sự vật sau khi đã lập, thì có sự tương đối, do đó có lợi thì có tệ nạn, quan tâm việc nầy thì mất việc kia, theo duyên chuyển hóa, sinh diệt vô thường, thật sự không thành tâm ý và trạng thái bất biến, cũng không thành tiêu chuẩn và sự cao cả của thói quen bất biến. Cho nên xử sự quí ở chỗ khách quan không câu chấp, trọn không nên thành kiến, đối với tất cả các phép tắc chế độ, hành vi cung cách, dùng đến thì làm, bỏ thì xả buông, mới có thể nhân nơi con người, thời gian, công việc, nơi chốn mà điều chế thích nghi, làm - bỏ phải sáng suốt thích nghi với nhân. Nếu còn chấp lệch lạc một chút trong đó mà nắm chắc chẳng buông rời, ăn lâu chẳng tiêu hóa, mê muội biến thành đần độn, ngoan cố biến thành bệnh tật, tự lụy tự khốn đốn, thì đi đến chỗ ngăn trở chướng ngại, không thể ứng xử với đời được viên dung, vả lại ngu muội mê hoặc chính mình, một đời bị sự sai bảo của kiến chấp và tình thức, bị khống chế và trói buộc, trần lao không hết, phiền não không cùng. Nếu còn đối với những cảm xúc nầy tức từng mức so tính ở nơi tâm, từng giờ chẳng quên ở nỗi nhớ, thì cái thần của tâm bị tước đoạt, liên tục quên mất đường về, tâm chẳng tự chủ, sự não loạn làm sao dứt được?

SỰ CHẾT TỐT ÐẸP

Con người - cầu cái gì? Cầu cuối đời được an lành mà thôi, cuối cùng được tốt đẹp tức là “sự chết tốt đẹp” mà mọi người nói đến. Cuối đời an lành là rất khó! Không thể dùng tiền bạc mà có thể mua được, con người đại phú đại quí không nhất định là đến cuối đời được an lành, người sống lâu trăm tuổi cũng không nhất định được cái chết tốt đẹp. Giả dụ ta thường nhìn thấy người khác trước lúc lâm chung bệnh rất lâu, tình trạng giãy giụa đau khổ như thế, cầu sống không được, cầu chết không xong, anh lúc đó sẽ có thể nói lên lời cảm thán: “ta một đời không cầu gì khác, chỉ cầu mong cuối đời được an lành thì tốt rồi!”.

Người ta lúc lâm chung, đều sẽ khinh hãi sợ sệt, sáu thần không chủ, tay quơ chân đạp, giống như con cua rơi trong than lửa và con kiến rớt trong chảo nóng. Trên thân thể phát sinh sự co giật mặt mày gân thịt, tròng con ngươi (mắt) nở to, thị giác chậm chạp si đần, hơi thở hiện tượng gân rút. Chúng ta bình thường chỉ xem bất quá là cái dáng giãy giụa bên ngoài, kỳ thật, nỗi bàng hoàng, đau khổ, sợ sệt không có sự trợ giúp... ở trong tâm của họ, đó mới là vấn đề bút mực khó có thể hình dung!

Ðược cuối đời an lành chẳng phải dễ. Cuối đời an lành, tuyệt không có thể nhờ vào sự man mắn, nhất định phải là do “Thật đức” rộng tu Phước - Huệ mới có thể được. Cuối đời an lành có sự quan hệ với thiện nghiệp trong quá khứ, nhưng chủ yếu nhất còn phải là do “đức tốt” đời này của chúng ta và tâm linh an ổn yên tĩnh và hòa bình. Trừ phi chúng ta có thể rộng tích chứa đức, dừng dứt vọng niệm, công phu gắng nhiều; không như thế thì lúc lâm chung rất khó được tự tại.

Cuối đời an lành là tâm không có ngăn ngại, kết quả là sự dẫn dắt của sợ sệt thì cuối đời an lành chẳng dễ dàng! cũng chẳng biết lúc lâm chung sẽ gặp phải chướng ngại gì. Vì sao cuối đời an lành là rất quan trọng ư? bỡi vì giả như một người không phải chính xác là lúc thọ mạng hết, mà là do bệnh nặng, chết treo, họa xe, lửa đốt, chìm nước, thế thì họ có thể chứa hận trong lòng.

Lại nữa, lúc chết đột ngột (hoạnh tử), thân thể chịu nỗi khổ sở rất lớn, trong tâm buồn oán xen nhau, mà còn uất hận bất bình trong tâm.

Cuối đời an lành, có ba việc:

1 - An lành nhỏ: Không gặp hoàn cảnh chết đột ngột ngoài ý, không bệnh mà chết.

2 - An lành vừa: Cuối đời không những không có bệnh khổ, mà trong tâm không có nỗi oán và bệnh bên trong, ngước lên không thẹn với trời, cuối xuống không xấu hổ với đất, an lành vui vẻ mà qua đời.

3 - An lành lớn: Chính mình biết trước giờ chết, mà thân tâm trọn không quái ngại, ra đi rất thoải mái, thậm chí còn có Phật và Bồ tát đến tiếp dẫn, sinh về cõi tịnh của Phật và Bồ tát, đây mới là đời người thành công.

Chúng ta muốn biết (đời nầy của mình có thể có rốt cuộc an lành hay không?) có ngay trong việc làm cuộc mộng từ nơi lúc bình thường của chúng ta, mộng loạn một khi thông suốt, đương nhiên là biễu thị vọng niệm còn có thể được đều phục. Vọng niệm không điều phục, đương nhiên là trượng trương cho việc tu dưỡng không đến nơi đến chốn. Tu dưỡng không tốt, làm sao có thể nắm chắc được cuối đời an lành?

Bỡi vì làm mộng và cuối đời an lành có quan hệ mật thiết thế nầy, nên vị cao tăng đời nhà Minh là đại sư Tử Bá bảo chúng ta rằng: “Nếu muốn thành tựu được mau, sớm có chỗ nắm chắc được cuối đời an lành hoặc vãng sanh thế giới Cực Lạc, thì mỗi ngày sớm thức dậy, nên phản tỉnh cảnh mộng đêm qua, giả sử trong đêm qua chúng ta dấy lên một ác mộng lộn xộn lung tung, sáng nay nên thương tâm chảy nước mắt giống như mất cha mẹ, thì sau đó phải tự quở trách chính mình, sám hối và phát nguyện khẩn thiết, lại càng phải khẩn trương và nỗ lực dụng công. Mỗi ngày đều làm thế nầy, công phu luyện tập tâm trí nhất định tiến bộ rất mau”. Vì để cho chư vị rõ hiểu thế nào gọi là “mộng lộn xộn lung tung”? Ta cần phải trước tiên nói rõ một số chủng loại của mộng. Căn cứ lời chép của “Luật Thiện Kiến”, mộng có bốn loại:

1 - Mộng do bốn đại không hòa; đây là vì do các cơ của thân thể không được đều hòa thích ứng mà phát sinh ra. Ví như lúc mới ngủ mộng thấy núi lở, hoặc bay nhảy trên hư không, hoặc thấy Cọp, chó Sói, đến rượt đuổi v.v... chẳng phải một. Những việc nầy đều là hư giả mà chẳng có thực tại.

2 - Mộng thấy trước; “Ban ngày có suy nghĩ, thì đêm đến có mộng” mà mọi người nói, tức là chỉ do loại mộng nầy, vì trước đã xem thấy những sự việc hoặc hiện tượng nào đó không dứt được, mà sắp đặt tổ hợp nội dung, được nổi bày lên ở trong cảnh mộng, đây cũng là mộng hư giả mà không phải thật.

3 - Mộng trời người; trời thần vì người làm thiện mà thị hiện cảnh mộng cát tường, khiến cho họ tiếp tục làm thiện. Vì người tạo ác mà thị hiện cảnh mộng sợ sệt và không tốt đẹp, để khuyên và ngăn trở họ chẳng nên làm ác nữa; đây là loại mộng chơn thật (có ứng nghiệm).

4 - Mộng tưởng; mộng nầy là nhân vì phuớc đức và tội chướng trong quá khứ của người ta cảm hiện ra. Ví như người có phước đức trong mộng thường gặp sự tình cát tường và làm thiện. Người có tội chướng, thường gặp sự tình sợ sệt và bất thiện. Mộng thấy chúng ta ở nơi việc lễ Phật, tụng kinh, trì giới, bố thí, niệm Phật, cũng là thuộc mộng tưởng. Mộng được sự tình cát tường và làm thiện là chỗ có ích cho việc tu dưỡng đạo đức đối vớichúng ta.

Chỗ gọi là “mộng lộn xộn lung tung”, là chỉ những việc hư giả mà chẳng thật tại, vả lại đối với thềm bực cái ÐỨC của chúng ta lại không phải là cái mộng có ích.

Chư vị rất nên đặc biệt xem kỹ cảnh mộng! Vì cảm thọ ở trong mộng rất là chơn thật, nó là chỉ tiêu tu dưỡng thềm bực đạo đức của chúng ta. Ðồng thời dấy lên mộng cũng có ba việc: Thiện, ác và không thiện ác. Mộng được lạy Phật, lễ Phật, niệm Phật, tụng kinh, nghe kinh, nói pháp, làm việc thiện, cứu người... là thuộc thiện và công đức. Mộng thấy mình đi làm việc sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói vọng v.v... những sự tình đó thuộc ác mộng. Mộng thấy củi, gạo, dầu, muối, dạo chơi công ty bách hóa, đi chơi công viên v.v... là thuộc loại mộng không thiện ác. Mộng được làm thiện là có sự trợ giúp cho thềm mức đức hạnh đối với chúng ta, mộng làm ác và việc thế tục lung tung là biểu thị bất lực trong tu hành của chúng ta, nên cần phải sám hối và nỗ lực dụng công mới được.

Trong đây nhân tiện nói rõ thêm một điểm tức là: Tạo ác nghiệp trong mộng, vì nghiệp tâm suy nhược, nên không thể quả báo. Có liên quan ở trên sách giới luật cũng nói rằng: “mộng các ác hạnh như: ăn cắp và tà dâm v.v... không kể là phạm giới”. Vì là hư mà không phải thật, ở trong mộng mà chúng sanh bị ta xâm phạm thì không có sự tổn thất thực chất. Huống nữa chúng ta chẳng có ý phạm giới tạo ác, mà là hạt giống và tập khí trong mộng tâm của ý thức mạnh, nó khống chế chẳng dừng, cho nên mới có thể làm ra mộng. Gọi là “mộng lộn xộn lung tung” ở trong đó nói đến, tức là có mộng có liên quan đến sự tạo tác và việc tạp thế tục.

Chúng ta là người học Phật tu hành, không những có thể cuối đời được an lành (vãng sanh thế giới cực lạc), mà có thể đang ngồi hoặc đang đứng mà chết. Cần nên chí thành tinh tấn, thời gian đến rồi tự hiểu rõ, nên sắp xếp tốt công việc của mình, chuẩn bị đến thế giới Cực Lạc.

Năm tàn sắp hết, chẳng bao lâu là ngày ba mươi tháng chạp, là sau cùng của một năm, nếu chưa chuẩn bị tiền bạc cho thỏa đáng, thì chủ nợ kéo đến, làm sao ngăn chặn được? người ta lúc mạng chung cũng là ngày ba mươi tháng chạp của một đời, là lúc sau nhất của đời người. Nếu chưa đem được lương phạn vãng sanh chuẩn bị trước cho thỏa đáng, thì ắt tay chân quơ cào, ác nghiệp nhiều đời đồng loạt hiện khởi trước mặt, làm sao dẹp thoát? Lâm chung tuy nương sự niệm giúp của người khác, các việc đều như pháp, cũng khó được cậy nhờ, ở chính mình cậy nhờ không được (vì lúc bình thường chẳng niệm Phật, niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật), nhờ nương nhà người ư? Làm sao có thể nương được, cho nên tự mình lúc bình thường tu hành, thì cần thật sự niệm Phật chuyên cần, niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn, thì được lâm chung tự tại. Xin khuyên cùng chư vị nhân giả, tóm lại cần chuẩn bị sớm mới tốt.

NGƯỜI NIỆM PHẬT TỐT NHẤT LÀ CHẲNG VỌNG CẦU KHAI NGỘ

Khai ngộ - thật chẳng phải mỗi người tu hành đều có thể thu hoạch được. Người niệm Phật không được vọng cầu khai ngộ mà tăng nhiều thêm một việc ở nơi tâm đầu, thì tăng nhiều thêm một chướng ngại.

image001Khai ngộ chẳng phải là việc nói dễ dàng như thế, nếu lời dễ dàng như thế thì hàng ngũ Tăng - Ni ở chùa đều đã khai ngộ cả rồi.

Người niệm Phật tập thiền tĩnh tọa, thì tĩnh tọa là “Niệm Phật”, chẳng phải là tham thiền, chỉ quán, cũng chẳng phải là luyện khí. Người niệm Phật tĩnh tọa (ngồi yên tĩnh), là niệm Phật (mặc niệm), niệm cho thuần thục danh hiệu Phật, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn thì tốt, có thể được niệm Phật tam muội càng tốt. Chẳng nên đem vấn đề khai ngộ làm mục tiêu, coi đó là tâm tình thu hoạch ngoài ý muốn mà tĩnh tọa, ngộ không khai cũng chẳng thể thất vọng, nếu tâm tình và sự việc yên tĩnh mà còn mong cầu vấn đề khai ngộ, ngộ khai không được, Phật niệm cũng không xong, đến lúc cả hai đều rơi vào trống không!

Muốn khai ngộ, cần phải tự lượng mình là căn khí bực nào? Có thể khai ngộ hay không? nếu còn cái tâm muốn khai ngộ, thì trong tâm niệm cũng không thanh tịnh rồi, ngộ làm sao có thể khai?

Tưởng đến sự khai ngộ, thì khởi lên sắp xếp một sự nhận thức rất là cơ bản ứng đối vấn đề khai ngộ, như: tĩnh tọa phải ngồi làm sao? Quá trình điều thân, an tâm, khai ngộ cảnh giới như thế nào? v.v... đều cần có nhận thức, mới có thể lúc ngồi không xảy ra lầm lạc, hoặc được chút kiểu lạ hiển hiện, hoặc được chút huệ hiểu biết, linh cảm giống giống, hoặc như huyễn vọng tưởng, hoặc thấy ánh sáng thấy hình ảnh, hoặc người nói lời ra tức khắc ngộ được, hoặc bị ma dối gạt, lại gật gù đắc ý cho là ta đã khai ngộ rồi!

Khai ngộ chữ “ngộ” nầy là chỉ cho rất nhiều người muốn khai ngộ, cho là ngộ, căn bản không có NGỘ! ngay cả bên kia bức tường cũng nhìn chẳng thấy, khai làm sao ngộ!

Ta chẳng phải là người đã trải qua khai được ngộ, căn bản không có tư cách để làm việc “khai ngộ”, chỉ đem chỗ biết sơ sài nói ra một chút ít mà thôi.

“Khai ngộ” thật chẳng phải là ngồi miết mới có thể khai ngộ, đi đứng cũng có thể khai ngộ, nghiên cứu kinh điển hoặc nghe một câu nói, xem một động tác cũng có thể khai ngộ được, anh là người thượng thượng căn khí mới có khả năng, cũng chẳng phải mỗi lần ngồi hai ba tiếng đồng hồ như thế được khai ngộ, đơn giản dễ dàng như thế sao?

Khai ngộ chữ “Ngộ” nầy, dùng miệng để giảng, dùng văn tự viết đều rất khó mà biểu đạt rõ ràng, nay dùng chữ “mê” để nói ngược lại mà có thể khá hơn một chút; ví dụ như đối với một sự việc, một câu nói, hoặc xem hoặc tưởng, xem hoặc tưởng ở trong đó, đi cũng tưởng, đứng cũng tưởng, ngồi cũng tưởng, tưởng một cách chuyên tâm nhất ý, tưởng... tưởng... tưởng..., tưởng đến nỗi có người khác đến ở trước mặt cũng chẳng hay biết, đây gọi là MÊ, người đời gọi là “sinh si đần”, thậm chí người khác kêu réo anh, anh cũng không hay biết, đây gọi là TRƯỚC MÊ (mắc dính mê), người đời gọi là “thất thần”, mê đến cực điểm (nhập định), mười ngày hai mươi ngày, bèn tỉnh lại (xuất định), muôn cảnh tượng vũ trụ nhìn thấy hết, cũng biết cả, nhìn càng xa, biết càng nhiều, quả vị thì càng cao.

NGỘ, có đại - tiểu ngộ. Tiểu ngộ là ra không khỏi ba cõi, vì sao? Vì ngoài ba cõi nhìn không thấy, cũng không biết! Ví như muốn đi nước khác, mà ngay cả việc mua vé máy bay cũng không biết, thì làm cách nào để đi?

Tĩnh tọa, đầu tiên cần phải điều hòa thích nghi qua lại, khí mới thuận nhẹ nhàng, không biết có sự hít thở, ăn ít cũng không đói (một ngày một bữa, hai ngày một bữa), ngủ ít cũng chẳng mỏi mệt, mới có thể ngồi được lâu (ngồi một hai ngày không đứng dậy). Thân người có ba cái quí: Tinh - Khí - Thần. Tinh đầy thì khí đủ, khí đủ thì thần thoải mái, thần thoải mái thì thân tâm nhẹ nhàng, thân tâm nhẹ nhàng thì khí mới thuận, mới tế nhiệm (tinh tế), mới có thể ngồi được lâu, mới có thể “nhập định”, sau nhập định giống người chết, như đất, còn có thể sống được trở lại (xuất định), ngộ được khai rồi, thật là chẳng thể nghĩ bàn.

Hành dâm, ăn nhiều, vận động kịch liệt, công tác nặng nề, có sự trở ngại cho sự thích ứng thân tâm, cần phải chú ý!

Ăn không cần no quá, tùy theo việc gặp mà an, mới có thể chuyên tâm tĩnh tọa, tập luyện thân tâm. Hàng ngày nghiên cứu vị ngon, ăn cần cho thỏa sự tham muốn cửa miệng, tâm địa như vậy làm sao thân tâm có thể điều hòa thích nghi qua lại.

Có những loại thực vật ăn vào khí sẽ không thuận, cần phải mỗi loại ăn thử mấy ngày, nếu sau khi ăn phát hiện thấy hiện tượng không thuận khí, thì không nên ăn nữa!

Tĩnh tọa cần phải tập thiền định, thống nhất tập trung tinh thần trở lại, yên tĩnh cái tâm là “Ðịnh”. Niệm Phật cũng là một phương pháp định, nhất tâm bất loạn tức là “Ðịnh”.

Tĩnh tọa cần: An tâm và điều thân.

An tâm: Thì quán không biết huyễn, tưởng mở nhìn suốt, buông rời chấp trước, bỏ lìa bận tâm, trấn nhiếp tinh thần, bài trừ nhiễu nhương, tâm bình khí hòa, an lành tự như. Cũng tức là khiến tâm chuyên chú một chỗ, thống nhất tập trung tinh thần trở lại, chẳng để tâm tán loạn, tâm niệm không khởi và tự tánh bất động đối với tất cả cảnh giới thiện ác, ngoài lìa tướng, trong chẳng loạn.

Ðiều thân: Là thuận thông thư thái khí mạch, là bài trừ khí do chất tạp trong cơ thể, đả thông khí mạch toàn thân, tiêu trừ bệnh chướng, thân thể thoải mái nhẹ nhàng. Ðiều thân, chẳng phải là luyện KHÍ điều chỉnh hơi thở. Lúc ban đầu ngồi thân thể có những tình huống không được thích hợp như đau tê hay ngứa ngáy, đây là quá trình bắt đầu, thể chất mỗi người không đồng, cảm thọ cũng khác nhau, lâu ngày có thể lần hồi dẫn đến tự như (như thường). Lúc ban đầu ngồi ngay khi thở ra hít vào (hít thở sâu) thì anh phải biết, biết thôi, không lý giải nó, nên thuận với tự nhiên, qua một thời gian, anh biết ngay nơi khí hít hoặc khí thở, thời gian ngồi ít lâu, lại trải qua một khoảng thời gian khí hít cảm thấy nhẹ thoảng rồi, lại trải qua một khoảng thời gian lúc ngồi giống như không có hít thở, lúc đó thân cũng được nhẹ nhàng, lại qua một khoảng thời gian cảm giác đã không có hít thở, lúc nầy thân anh không nên động. Nếu đã không hít thở rồi, tâm động lên lại biết có hít thở, lại phải đợi một khoảng thời gian nữa mới cảm giác được không có hít thở, lại phải trải qua một khoảng thời gian, gân chẳng động, tâm chẳng lăng xăng mà nhập định. Tĩnh tọa nói cách khác là nhẹ nhàng thoải mái, lại nữa, có người đã ngồi mười năm, hai mươi năm mà còn mỗi khi ngồi chẳng được ba tiếng đồng hồ thì đứng dậy, khí còn đình trệ ở nơi hít thở.

Lúc ban đầu ngồi tốt nhất là có thầy giỏi hướng dẫn, hay tìm mua quyển sách “tập tĩnh tọa” để tự tập luyện, giúp tăng thêm một nửa công việc.

Khai ngộ, thật ra không phải mỗi người tu hành đều có thể đạt được. Tư chất thiên phú của con người không đồng, tinh lực thể chất cũng khác, dùng tâm mà thể hội, chỗ ra công sức có cạn sâu lại là sự quyết định NGỘ và KHÔNG NGỘ! Như xem sách, có người xem hai mươi phút là xem xong một quyển sách, không những có thể rõ hiểu mà có thể tụng lại; có người đến hai tiếng đồng hồ vẫn xem chưa xong, xem mười lần trăm lần cũng không thể đọc lại được. Có người chạy, cũng bao nhiêu cây số, mà chỉ mất ba mươi phút, chạy xong như không có việc gì, có người cũng chạy bao nhiêu cây số ấy, mà ba mươi phút mới chỉ được nửa đường, thế mà mệt đừ thở dốc; Cũng như ăn quá no thì không tiêu vậy. Tuy là tĩnh tọa như nhau, nhưng do thiên tư bẩm sinh chẳng đồng, căn lành có cạn có sâu, sự ra công sức không đồng, khai ngộ cũng có trước – sau, lớn - nhỏ sai biệt, hoặc là không ngộ. Cho nên bất tất vì mình hãy còn chưa khai ngộ mà buồn sầu thương tâm!

Chúng tại gia, vì việc nhà bận rộn, việc xã hội bận rộn, còn vì bận rộn tĩnh tọa, việc nhiều tâm phiền, chỉ lúc yên tĩnh tâm mới sơ sơ có chút ít bình ổn, muốn yên tĩnh cũng không yên tĩnh được, lại chẳng thể nói ÐỊNH, ngộ cách nào khai?

Chúng tại gia muốn khai ngộ thì cần phải chuyên tu! Nếu chẳng chuyên tu, thì việc nhiều tâm phiền, muốn yên tĩnh thì yên tĩnh không được, làm sao có thể nhập định!

Muốn khai ngộ, thì tranh thủ lúc tuổi còn trẻ, người tuổi trẻ thì khí huyết tràn đầy, có thể ngồi được lâu. Già rồi, khí suy huyết kém, xương cốt cứng đờ, tiến bộ có mức bị giới hạn.

Nếu tự cho là đã khai ngộ, cần phải ấn chứng chính ta, chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau: Ðối với nghĩa chơn thật chính ta đã rõ ràng không nghi hay chưa? Ðối với ranh giới phải - quấy, chánh - tà hoàn toàn rõ ràng hay không? có thể viên dung giữa không và có hay không? Phiền não chấp trước thì có giảm ít cho đến không còn hay không? Mỗi việc đưa ra là tự ta khẳng định! Anh cũng sẽ khai ngộ chơn thật thôi. Nếu muốn hành dâm, uống rượu, ăn thịt, ham muốn nhiều, lời nói việc làm chẳng thống nhất v.v... những hành vi phá giới, tức là dính mắc nơi dấu hiệu của ma, cần nên đình chỉ việc tĩnh tọa, siêng năng hơn lên mà sám hối sửa đổi cho chơn chánh, tránh khỏi bị sự vây bủa của ma.

Lúc ngồi, nếu như thấy hào quang, thấy Phật và các cảnh tượng, tất cả đều chẳng nên khoe khoang, tự mình vui, để khỏi bị anh linh bên ngoài khống chế, mà đi vào đường tà; Nên chẳng khinh sợ, chẳng vui mừng, chẳng dính mắc, chẳng xử lý, chỉ là không tưởng đến, không lý giải, để khỏi chướng ngại. Lấy việc chẳng lý giải, chẳng khinh sợ, chẳng vui mừng, chẳng động tâm, anh có thể làm được không? Làm không được thì nên đình chỉ việc tĩnh tọa! Nếu anh vui mừng những việc đó, nghĩ tưởng đến, thế thì những an linh bên ngoài (ma) đó sẽ phụ gá trên thân của anh, anh cho là ngộ đã khai, thì tâm thần của anh bị an linh bên ngoài mê loạn và khống chế, nắm lấy chỗ đó, nó sẽ khiến anh biếng nhác, phá giới và tạo các ác nghiệp.

SỰ HỮU DỤNG SAU KHI TĨNH TỌA DẬY

A - Ấn chứng bước đầu:

1_ Sau khi phiền não khởi thì dễ chuyển, nháy mắt tức tiêu biến. 2_ Ðối với thói quen sâu sắc thường ngày hãy còn ham mê, chợt nhiên dứt bỏ mà sửa đổi. 3_ Gặp việc không chui vào chỗ bế tắc, mà thường nghĩ tưởng từ chỗ siêu việt. 4_ Gặp việc thường quán sát phán đoán từ trên lý nhân quả, gặp việc tùy duyên nhân đó mà thích ứng, chẳng nhờ chẳng cầu, tâm được mất bình đạm. 5_ Ngay lúc gặp điều phi lễ hoặc sỉ nhục, đối xử một cách thư thái, chẳng như trước kia dễ sinh giận mà không vui. 6_ Ít bực tức, ít so đo, ít tranh chấp, ít lao đao.

B - Ấn chứng tiến lên một bước:

1_ Ðối với những người có quan hệ thân yêu, chỉ là chiếu cố dẫn dắt, giúp họ tự cường tự lập tự trị, mà chẳng phải cả ngày bận rộn không dứt, trói buộc không rời, lo đây nghĩ kia, dốc lòng tận sức thấp thỏm lo âu, cả ngày buông không rời. 2_ Ðối với sắc đẹp, vinh hiển tôn quí, cừu địch giữa đời, ngang tàn bạo ngược, vô lại, tà đạo... những con người ấy, lúc ứng phó không có tâm thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau. 3_ Ðối với sự vật hay công việc thường ngày hay thích nhất, thói quen và nỗi đam mê v.v... có thể biết đó là vô thường, yêu mà chẳng chấp, thì chẳng bị nó làm lụy, mất cũng chẳng cảm thấy khó chịu, chẳng làm nô lệ cho sự việc hay vật chất. 4_ Ðối với danh lợi, quyền thế, phô trương, sở trường, châu báu đã có, có thể biết huyễn mà không dính mắc, tùy duyên lấy - bỏ, được chẳng vui, mất chẳng buồn, vì biết nó là vô thường. 5_ Ở lúc giao tiếp, vui say, sợ sệt, lo lắng quạnh vắng, có thể dung chứa mà không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà bình thường, hoặc dứt khoát buông rời, mảy may không ngăn ngại. 6_ Ðối với hoàn cảnh không tốt, sự việc chẳng thuận, chỗ ở không thích nghi, mặt mày không tốt... các cảnh nghịch, có thể phá trừ sự kết buộc của tâm, tùy duyên gặp, nhân đó mà ứng xử, tùy duyên gặp mà an, chẳng lấy khổ vui của cuộc thế tục mà làm khổ vui.

C - Ấn chứng tiến lên một bước nữa:

1_ Có thể cải đổi tập khí xấu, như là xả ly những thói của ta như: Tư riêng, đa nghi, keo kiệt, nôn nóng, thô tháo, ưa so tính ưa tranh luận, ưa làm phiền, ưa hư vinh, ưa bài xích chê bai kẻ khác, v.v... chứa những thói quen cố chấp khó lìa, từ câu nệ mà thoát khỏi, mà hào phóng, mà siêu việt, mà thông suốt tròn đầy, mà tự tại. 2_ Gặp lúc thiên tai, người bị họa, bệnh ách, khổ nạn... một cách nặng nề, biết tất cả sinh diệt vô thường, nguồn gốc là không là huyễn, có thể không lo không sợ, đối xử thanh thảng, tùy duyên mà NHẬM VẬN, tự tại không trở ngại. 3_ Tuy biết phân biệt, nhưng chẳng trụ ở hai tướng, chẳng nhân nơi so sánh mà sinh ra vọng niệm, chẳng nhân nơi ghét yêu mà sinh ra phiền não, vào ở nơi “trí vô phân biệt”.

HỌC PHẬT TU HÀNH CHẲNG NÊN SỢ KHÓ

Thành Phật! Thật là việc rất khó, quyết cần phải có sự trả giá tương đương, mới có thể đạt đến công phu tương đối. Như việc đi làm, mỗi ngày từ sáng sớm dậy đi làm, làm thẳng đến chiều tối mới trở về nhà nghỉ ngơi, cần đổ ra rất nhiều mồ hôi tâm huyết mới có thể lãnh được lương bỗng đúng tháng, chẳng khổ nhọc sao? Rất là khổ nhọc! Tu hành cần được công phu ngang bằng, cũng cần bỏ ra thời gian, tinh thần và sức lực tương đối, như tu hành mà không khó thì chẳng nói đến “tu hành” làm gì. Nếu sợ khó thì chẳng nên tu hành! Chỉ hơi tin Phật, lại cố cầu phước báo trời người, hưởng lấy dục lạc thế gian, quên đi rằng: “Vui đến cùng cực lại sinh buồn!”. Ðến lúc đó thì thành ra địa ngục của nhân gian.

Hãy xem cuộc sống của các vị pháp sư, cuộc sống tự cố gắng quá ư là tích cực, nghiêm túc và khắc khổ, tiết kiệm nhiều, chắc thật và tự nhiên. Mục đích tìm cầu của họ là làm sao ngang bằng đến sự cao thượng, thánh khiết và vĩ đại; Ngược lại chúng ta đây lại chạy theo phàm phu danh lợi, rượu thịt, cảm thấy hổ thẹn quá!

ÐUỔI ÐI LO SẦU

“Tâm HỶ LẠC là thuốc hay, cõi lòng buồn thương sẽ khô gầy hình vóc”. Tin rằng không có người nào hiểu được sự vui vẻ hay lo buồn, nhưng nó ngược lại như loại bóng râm bao trùm lấy tâm người, gạt ra không được. Trời từ lời nguyện con người, cố nhiên khiến cho con người vui mừng, nhưng mà đời người việc không như ý có đến tám chín phần mười, ai lại có thể may mắn tránh khỏi ư?

Nhưng có vài người thường thường đối với những chuyện vặt vãnh, nhớ rất rõ ràng, cả ngày chẳng vui, giống như là trên cuộc sống loanh quanh chỉ gặp toàn những người, chuyện vật xem ra không vui vẻ, giống như là bóng tối cuộc đời bao quanh anh ta, không cách nào tránh thoát sự đoanh vây của buồn, hận, sầu bi.

Người nếu thường bị việc nhỏ nhặt không đáng kể làm cho đăm chiêu ủ dột, biểu thị sự u uất, như thế than thở ưu phiền, mà trong vô hình không biết không rõ sự đã hao tốn bao nhiêu là năng lượng trên tinh thần, phân định được không?

Nếu như trong cuộc sống việc quá nhiều, khiến chúng ta không thỏa mãn, có phải chăng do chúng ta yêu cầu quá nhiều? Sự oán hận của chúng ta, có phải chăng vì chúng ta khoang dung quá ít? Anh có tấm lòng thế nào, thì có cuộc sống thế ấy, nếu anh cả ngày tiếng thở lời than, cần phải biết rằng so với trăm bệnh, lo sầu càng sẽ khiến người khó mà thoát thân, một ngày chuốc lấy trên thân, khiến người không những dễ dàng đánh mất tuổi trẻ, vả lại dễ suy tàn đi tâm sống động, làm cho đời người khô gầy thiếu vị, cho nên anh hiện tại nên đuổi dẹp mau gốc rễ mà trừ bỏ đi lo sầu đầy chật cả trong tâm; làm mới lại sự thoải mái tràn trề đầy ắp vui vẻ.

MỘT NỤ CƯỜI GIẢI TỎA NGHÌN SẦU

Một người nếu miệng thường nở nụ cười, khiến cho cảm giác người ta tất nhiên là một sự hòa khí, vui vẻ trong lòng. Cười chẳng những chỉ khiến thân tâm anh khỏe mạnh, tự được vui vẻ, trừ được thất vọng và nôn nóng, cải thiện quan hệ con người, là việc mà mọi người đều biết, nên không nói lời thừa. Nhưng bàn đến là thời gian bình thường nên cười nhiều; tóm lại có người thở ngắn than dài đều mau sầu chết người! Nên cười sao cho dứt được lời than. Kỳ thật, ta cảm thấy ngược lại, càng gặp việc trái ngịch khốn khó, càng nên cười nhiều. Bỡi vì tác dụng của nụ cười, thật chẳng phải là biểu lộ sự thoái mái tiêu cực, mà lại là sự thoải mái sáng tạo tích cực, xua đuổi nổi lo, giải tỏa cuộc sầu. Cười nhiều thường cười, tự nhiên là hòa khí đầy đủ. Nếu có một người từ sáng đến tối cứ kéo dài thừ nét mặt ra, than ngắn thở dài, như vậy làm sao không chuốt lấy họa!

Cười thật ra chẳng nhu cầu sự quyết định trước nhân tố hoặc chuẩn bị động tác trên tâm lý gì đâu. Bất cứ người nào, chỉ cần cơ thịt hai bên quai hàm động xếch lên chút xíu, khiến khóe miệng vểnh lên, thì đã có nụ cười trên mặt rồi. Nếu chịu bật khí ra tiếng, yết hầu phát ra âm: Ha... há! thì là phát ra cười to, cũng thuộc về việc tầm thường, cho nên cười không được do không chịu làm, chẳng phải là không làm được. Cũng có người hoài nghi rằng: “Nụ cười hiện lên mặt, trong lòng nuốt từng giọt đắng, phỏng có tác dụng gì?”. Kỳ thật, bồi dưỡng cho nụ cười là có thể “từ ngoài mà vào trong, ngược dòng mà vào”, biểu hiện trên mặt cười nhiều, cười lâu rồi thì có thể thói quen thành tự nhiên, đến lúc đó, lại được vui từ tâm sinh ra, chẳng đặc biệt cầu bên ngoài, nụ cười được phát ra từ trong tâm.

Cười, cũng là lúc ngay tâm đầu chẳng thấy thoải mái, tức khiến cho nụ cười qua đi những vấn đề ngày cũ, mang theo nụ cười bao dung để xử lý vấn đề, tóm lại vấn đề xử lý bao bọc sầu khổ đang mang sau lưng là cần phải nhẹ nhàng có hiệu quả, cười một cái giải nghìn sầu, nếu chẳng ngại anh thử coi.

- BA CÁI VUI ÐỜI NGƯỜI:

Sống trên đời nầy, mỗi người đối với khổ vui đều có tiêu chuẩn bất đồng, việc vui được đưa ra để ví dụ cũng chẳng phải là một dạng:

- Chỉ được chỗ ở thường vô sự.

- Ăn no, mặt ấm.

- Thường niệm: NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT.

Ba việc vui nầy: Chỗ ở và công tác không có người đến quấy rối, công tác gánh vát thoải mái, lúc làm thì làm, lúc nghỉ ngơi thì nghỉ ngơi, chẳng tham ái gì đến vinh hoa phú quí, không so tính tốt xấu, được mất, khen chê, sự đời nhìn rõ việc thế tục buông rời, phàm việc nghịch đến thì thuận thọ, có lòng bao dung, tâm bình khí hoà, tâm an lý được, vô sự nhàn nhã, nhàn rồi có thể thường niệm Phật, nhàn rồi có thể qua lại đó đây, tất cả tâm tình thích thú đều là lấy sự bình đạm nhàn nhã làm điểm xuất phát, vô sự nhàn nhã thảng nhiên, có thể ăn no mặt ấm (tiền bạc sớm biết dự phòng trước), không tham lam, không tranh chấp, không liều lĩnh, an phận tuỳ duyên, tâm trong sáng không lo nghĩ, cuộc sống vật chất và tinh thần không lo lắng thiếu thốn, đầy đủ ở mình, chẳng cầu ở người, người của trời chẳng qua cũng như đây thôi!

Nghĩ tưởng chín chắn, không tham - không tranh - không thẹn của bản tâm, mới là cơ sở của tất cả khoái lạc, vì chỉ có người bình thản phơi phới, thì đến chỗ ở cũng đều là đất vui. Mà người làm tăng thêm sự rì rầm, việc chạm đến đều là trường sầu, thuận ngịch sầu vui của cảnh gặp toàn là ở trong ta, sự vui, giận, sáng suốt và mờ ám của tâm người; vui vô sự, vui điềm tĩnh, là vui cõi trời, việc vui sở hữu đời người; người vừa tham vừa tranh chấp, vừa cầu, vừa thẹn thì tất nhiên hưởng thọ không được rồi.

Ðời người thoải mái thật chẳng khó, chẳng có ngã chấp đối với việc, chẳng so tính đối với người, phàm việc ngịch đến thì thuận thọ, vả lại chẳng để nơi ý, nhìn rõ buông rời, cố hết sức đơn giản hoá cách nhìn sự vật gặp được, giảm nhẹ sức ép tâm lý, lại cần hiểu rõ: “Cười là việc sống vui vẻ, là hình nghi dung mạo thẳng thắn và thật thà”.

MÔ PHẠM CỦA NGƯỜI NIỆM PHẬT

Ngài Quảng Khâm Hoà thượng năm chín mươi lăm tuổi, ngày mười ba tháng hai, năm Dân quốc thứ bảy mươi lăm, ở tại chùa Diệu Thông thuộc xã Lục Qui, huyện Cao Hùng, ngồi an lành hoá sanh về nước Phật; Ngài cũng là bậc đức cao vọng trọng của giới Phật giáo, trú trì “Thừa Thiên thiền tự” xã Phổ Thành, huyện Ðài Bắc. Ngài là một bậc cao tăng lúc bấy giờ được mọi người sùng ngưỡng, khắp nơi tôn kính, tự động thân cận cúng dường. Ngài lúc hai mươi tuổi xuất gia ở chùa “Thừa Thiên thiền tự” thuộc thành Tấn Giang, châu Phúc Kiến Tuyền, nhân vì không biết chữ, chẳng thể tụng kinh nói pháp, trước tiên ở chùa làm công việc tính cách lao động, nhiều năm sau được điều phái làm “Thầy hương đăng”, tức là quản lý việc đốt nhan, rót dầu của đại điện và các công tác dọn dẹp đại điện, từ đây ban ngày công tác, tối lại tu “Thiền tịnh độ” (ngồi yên tĩnh thầm niệm Phật) ở trước Phật, về sau vào trong núi sâu tiếp tục tu trì, lúc vào núi gạo và lương thực mang đi hết rồi, đành phải hái lấy rau quả gần đó để đỡ đói, khổ tu mười hai năm, được thấy tánh (khai ngộ) mới xuống núi. Tháng sáu, năm Dân quốc thứ ba mươi sáu, ngài đến Ðài Bắc để hoằng pháp, nhân vì chỉ ăn trái cây, được mọi người gọi là “Sư trái cây”. Ngài không giảng kinh lại không giải biện việc học, Ngài chuyên niệm Phật để nhiếp chúng, dùng đại ý Phật Pháp đơn giản để khai thị cho tín chúng, thường khuyên mọi người niệm Phật nhiều; được sự ái mộ, tôn kính, tự động gần gũi của tín chúng rộng lớn, ngay cả những người học đầy đủ kinh luận cao xa cũng khẩu phục tâm phục. Dòng người không dứt, cơ hồ hoạt động không ngày nghỉ, đến với chùa Thừa Thiên Thiền, thuộc xã Thổ thành, huyện Ðài Bắc, chính là mô phạm của người niệm Phật chúng ta! Ngài tu “thiền tịnh độ” được chứng ngộ, chúng ta chẳng thể sao? Có thể! có thể thực hành (chịu làm) thì có thể được, song xem thử mọi người có phát được tâm chăng? Chịu tinh tấn hay không mà thôi!

Hoà thượng Quảng Khâm dạy dẫn người học rằng:

Lúc bình thường đối với bất kỳ việc gì, đều cần phải “tâm rộng rãi”. Chẳng sai, tâm đã được rộng rãi rồi, tâm sẽ tuỳ thuận, nhún nhường, điều phục, mềm mỏng hoà nhã, tĩnh lặng, chẳng động; tâm chẳng động thì ý có thể thông, chẳng cố chấp, chẳng phân biệt, chẳng so đo, chẳng cưỡng cầu, lượng như biển có thể dung chứa, thuận với duyên ngịch, qua đi như mây nước, chẳng lưu lại dấu vết, sáng như gương, yên lặng tâm. Vì “tâm rộng rãi” phàm việc gì cũng nhìn rõ, buông rời, chẳng bị phiền não trói buộc”.

Có một bài văn nói về Hòa thượng Quảng Khâm lúc chín mươi lăm tuổi, bắt đầu một tuần trước khi vãng sanh, sớm tối mỗi ngày đều tự mình phát ra niệm Phật to tiếng, khiến hết thảy mỗi lời niệm đều khẩn thiết hô to lên A DI ÐÀ PHẬT. Mọi người đều luân lưu niệm to tiếng với Ngài, niệm đến khi tiếng khàn, ngực đau, khí lực khó chống đỡ; có đệ tử sợ Ngài gần cả tháng không ăn thể lực khó để duy trì, nên mới thưa với Ngài rằng: “Sư phụ! Chúng con niệm thầy nghe thôi cũng được!”. Hòa thượng trừng to mắt, dứt khoát nói rằng: “Các người niệm là việc của các người, các người sinh tử các người lo!”. Nói rồi, lại to tiếng khẩn thiết tự mình niệm Phật. Từ lời tự thuật ở trên có thể biết, một câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT thật có công đức bất khả tư nghì! Nếu chẳng vậy, thì một vị Hòa thượng là người đã chứng ngộ được đạo Thánh, trước lúc lâm chung còn to tiếng niệm Phật cả ngày đêm, nhờ vào sức tu trì tự thân của Ngài thì có thể ra khỏi ba cõi rồi, sao lại trước lúc lâm chung sớm tối lớn tiếng niệm Phật!

THAM KHẢO KINH ÐIỂN

Nói đến ba tạng kinh điển, là tôn chỉ mọi nơi đều hướng về, nhưng ai có thời gian để mà nghiên cứu, đành phải trước tiên kiểm tra xem chuyên môn.

Kinh có năm kinh về tịnh độ. Kinh “Vô Lượng Thọ” và “A Di Ðà”, hai bộ nầy mức độ (chữ nghĩa) rất ít nên cần tụng. Kinh “A Di Ðà”, mỗi ngày tụng mấy biến, giúp cho việc vãng sanh thế giới Cực Lạc chẳng phải ít; tiếp tụng “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ Ðà La Ni” ba mươi biến hoặc một trăm biến, bạt trừ tất cả nghiệp chướng (vì nghiệp chướng sẽ làm cho anh biếng nhác tán loạn, hủy hoại pháp, phá giới, tạo ác), khỏi bị nghiệp chướng trói buộc, không thanh tịnh trong việc tu hành. Như tu hành mà lại còn muốn cuộc sống hiện tại tốt đẹp, sự hứng thú còn rất nồng nàn đối với thế gian, rất nghĩ tưởng về nó, chuyện không thể tưởng tượng thì thường nghĩ tưởng, chẳng thể làm lại đi làm, phiền não rất nhiều, tu hành chẳng được tự tại, tụng đến khi tu hành tự tại rồi, mới ít tụng một chút, mỗi lần tụng kinh “A Di Ðà” thì nên liên tiếp tụng ba biến.

- Ðà La Ni “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ” - (Trong “Kinh Nhật Tụng” thường có, đây không dịch chép).

Nếu còn thời gian và khỏe cũng nên tụng một biến kinh “Vô lượng thọ”, tức có thể rõ hiểu được đại khái pháp môn tịnh độ.

A DI ÐÀ PHẬT là thầy của chúng ta, kinh VÔ LƯỢNG THỌ là bài khóa căn bản của chúng ta. Ðọc kỹ một bộ kinh “Vô Lượng Thọ”, có thể hiểu thông suốt, rõ ràng, chiếu theo kinh “Vô Lượng Thọ” để tu học, học thành công tức là đạt rồi, trở lại học kinh luận. Ðây tức là một cửa thâm nhập, chỗ gọi là “một kinh thông, tất cả kinh đều thông”, từ trên một bộ kinh nầy mà được định, khai huệ, đây mới gọi là thông đạt, sau đó anh xem những kinh điển khác, khi xem sẽ thông đạt cả. Trước khi chưa thông đạt kinh Vô Lượng Thọ, xem những kinh điển khác chưa thể thông đạt, chỉ có thể nói là ta xem nhiều bao nhiêu quyển kinh điển mà thôi, chẳng được lợi ích nhiều.

Ðọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, có thể hiểu được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, chỉ đọc tụng, chẳng nên nghiên cứu, vì khi nghiên cứu, tâm sẽ lộn xộn.

Nếu đọc tụng kinh điển, thì chẳng ngại thỉnh một bộ “Tịnh độ tam bảo”: “Tịnh độ bảo điển” – (tức Tịnh độ ngũ kinh), “Tịnh độ Thánh Hiền”, “Tịnh độ văn sao” để đọc tụng, làm tăng thêm tín tâm và sự thấy nghe.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn