Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

(03)

26/04/201318:37(Xem: 2306)
(03)

PHÁP MÔN
Trì Danh Niệm Phật, Vãng Sanh Cực Lạc

Tác giả:Huỳnh Lão cư sĩ

Hải Huyền Viên Giáodịch

PL. 2545

---o0o---

CHƯƠNG I

(3)


9. NĂM GIỚI

Năm giới là giới điều rất cơ bản của bốn chúng đệ tử Phật. Không luận là xuất gia hay tại gia đều phải tuân thủ. Người tu hành “ năm giới không giữ, dứt đường nhân thiên”.

Năm giới, mười thiện nghiệp là tiêu chuẩn đạo đức nhân loại, mỗi điều giới luật đều là “chẳng làm các ác” biện chứng thống nhất “vưng làm các thiện”. Ðạo đức Phật giáo là một đường lối rất chú trọng động niệm và hiệu quả, bất luận người khác nói như thế nào và làm như thế nào đều là một lối. Ngược lại, như riêng tư, tự lợi, tạp niệm nảy sinh, thì bất luận người khác nói nhiều, đẩy đưa nhún nhường động tiếng thế nào cũng đều là giả, đây là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Phật giáo cân lường.

Năm giới, mười thiện nghiệp của Phật giáo là cùng với luân lý xã hội và pháp luật Quốc gia gần giống nhau, cho nên vấn đề lý tánh nhân từ thuần khiết, là tập trung tinh hoa đạo đức xã hội loài người, mọi người có thể làm được năm giới, mười thiện nghiệp của Phật giáo cũng có thể đạt đến tư tưởng đẹp, hành vi hay, thế nầy quan hệ người và người cũng sẽ hoà mục và an khang. Ðạo đức Phật giáo, chủ yếu là vưng làm năm giới, mười thiện nghiệp, khiến cho hoàn thành một con người tốt lương thiện.

Năm giới là: không sát sinh - trộm cắp - không tà dâm - không nói vọng - không uống rượu.

KHÔNG SÁT SINH

Luận Ðại trí Ðộ nói: “Trong các tội nghiệp, sát nặng nhất; trong các công đức, không sát thứ nhất”. Ðộng vật bay lên trời, bơi trong nước, có bản năng sinh tồn của nó, có tự do sinh tồn của nó; Con người tại sao tự tàn sát nhau? Hoặc vì miệng thèm giết nó để ăn, tạo thành “oan oan tương báo” thời gian không thể không kết.

“Không tranh giành” thì chẳng thể sát sinh, lấy tâm bình đẳng mà đối đãi với chúng sinh thì chẳnh thể tranh giành; nếu khởi lên cái niệm ta mạnh hơn người, ta làm hơn người, ta lớn hơn người thì sát sinh cũng là nhân ở nơi tâm tranh chấp mà tác quái, một khi tranh chấp thì sẽ mày chết tao sống... chết và bị thương vô số.

KHÔNG TRỘM CẮP

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy rằng: “A Nan! lại nữa thế giới, sáu đường chúng sinh, tâm không trộm cắp, thì không nuôi lớn sự tương tục sinh tử. Ông tu Tam Muội vốn ra khỏi trần lao, tâm trộm nếu không trừ thì trần lao không thể ra. Dù có đa trí và thiền định trong hiện tiền nếu như không dứt trộm cắp, thì quyết phải rơi vào tà đạo”.

Của không cho chẳng lấy, là nói chẳng chuyên chỉ trộm cắp tài vật của người khác, tức là ở nơi tâm hành sự có loại giống như trộm cắp ấy, cũng gọi là trộm cắp: như lời nói và việc làm dối trá khác là: Phỉnh dụ mê hoặc người không biết, mong lấy lợi dưỡng, tổn người lợi mình, cậy thế lấy tiền của, dùng kế mưu của v.v...

“Không tham” thì không thể trộm cắp, vì sao phải trộm cắp tiền của người khác? Tức là do vì tham. Nếu người không có tâm tham, thì kể ra người ta cho anh, anh cũng không cần, cho nên cần phải đem tâm tham mà trừ bỏ mới không thể trộm cắp.

KHÔNG TÀ DÂM

Ðức Phật chế cho hàng đệ tử tại gia, nếu không phải là vợ chồng hợp pháp thì tuyệt đối nam nữ không thể hành dâm – chẳng dâm, là chẳng riêng chỉ hành dâm mà nói, lại còn bao quát niệm dâm khởi lên trong tâm, lời dâm ở nơi miệng nói. Vì dâm là cội rễ của vạn vật sinh tử. Người học Phật tu hành thì cần phải đoạn dứt dâm! dâm không đoạn thì Phật đạo không thành!

“Không cầu” thì chẳng thể có tâm dâm, tâm dâm dục tức là cầu cái sở hữu, nữ cầu người yêu nam, nam cầu người yêu nữ đều là cầu khác tính không chỉ rịêng cầu lại còn “truy” cầu; Giả như không cầu thì dâm thế nào?

Trong kinh Lăng Nghiêm nói “dâm” là giới đầu; Người tu hành không thể đoạn trừ tâm dâm và việc làm dâm, thì không cách nào đoạn trừ cội rể sinh tử. Nhân đây không luận người ta tinh tấn tu hành như thế nào, tuyệt đối không cách nào ra khỏi ba cõi. Dẫu người nầy khéo nói pháp yếu, có biện tài, hiện tiền thiền định hữu lậu, anh ta vẫn là qua lại với ma quỷ, không những Tam muội chân thật (định) không thể hiện tiền, ngược lại lấy trí thiền nuôi giúp tâm dâm khiến dâm tăng trưởng lẫy lừng, rốt rồi khiến mình rơi vào ma đạo. Kinh nói rằng:

“Cho nên A Nan! nếu không đoạn dâm, tu hành thiền định, như đem cát đá muốn nấu thành cơm, trải trăm nghìn kiếp, chỉ là cát nóng. Bởi vì sao vậy? Chẳng phải gốc cơm, mà là cát đá thành vậy. Ông lấy thân dâm, cầu diệu quả Phật, dù cho được ngộ, đều là rễ dâm, cội rễ thành dâm luân hồi ba đường quyết chẳng ra khỏi: Như Lai niết bàn, đường nào tu chứng? Phải khiến thân tâm, cơ dâm đều dứt, tánh dứt cũng không, Bồ đề chư Phật có thể cầu mong. Lời ta nói đây, gọi là Phật nói, không như đây nói, tức Ba tuần (Ma vương) nói”.

Trên đây là đức Phật đối với người không như pháp, không như luật mang lấy dâm mà tu hành, vốn mong tu chơn, ngược lại thành ma nghiệp, sau khi mệnh chung, ắt phải rơi thứ nhứt ma đạo mà Ngài dạy răn phải sáng suốt xét nét thanh tịnh. Bốn chúng Phật tử muốn cầu thành tựu đạo nghiệp đối với lời dạy răn của đức Phật, lý phải tin thọ phụng hành, như vậy mà tu hành.

KHÔNG NÓI VỌNG

Lời nói rỗng vọng là nói mà không có tin, không xuất phát từ hư vọng vậy. Nếu thấy nói không thấy, không thấy nói thấy: lấy hư làm thật, lấy thật làm hư: lấy có làm không, lấy không làm có: Phàm là tâm và miệng không tương ứng nhau, muốn lừa dối với người, đều là như vậy cả.

Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói rằng:

“A Nan, như vậy thế giới sáu đường chúng sanh, tuy thân tâm không có báo của sát – đạo – dâm, ba hành nghiệp đã mãn, như nếu đại vọng ngữ, tức là “Tam ma đề” không được thanh tịnh, thành thọ kiến chấp ma, mất đi hạt giống Như Lai”.

Thế nào gọi là đại vọng ngữ? Là tự mình chưa đựơc Bồ đề vọng nói tự mình đã được Bồ đề, mình chưa chứng niết bàn vọng nói đã chứng niết bàn. (chưa được nói là được, chưa chứng nói là chứng), giả Phật lộn xộn mê hoặc chúng sinh đời sau, hoặc giả được quả vị Bồ tát... đó là ma ba tuần, là tạo đại vọng ngữ.

“Không tư riêng” thì không thể dấy lên lời nói vọng. Mọi người nói vọng cũng nhân vì sợ mất đi lợi ích của chính mình, tâm riêng tư tác quái cho nên nói dối lừa người, muốn khiến người không nhận biết mình.

KHÔNG UỐNG RƯỢU

Các loại rượu một ngụm cũng không nên uống, uống một ngụm thì sẽ có ngụm thứ hai, rồi tiếp ba, bốn... khói cũng không nên hít, đồ độc cũng không nên ăn dùng.

Uống rượu là một phương thức giao tế của người hiện đại, nhân uống rượu mà sự việc lầm lạc so ra đều như thế, từ rất sớm hơn hai nghìn năm trăm năm trước trong kinh điển Phật cũng đã rõ ràng nêu chỉ chỗ xấu của uống rượu, ngày nay xem ra chỗ nói đó không phải hư rỗng. Uống rượu xong mà niệm Phật tụng kinh, ngang với không tụng không niệm, không thể không biết.

“Không tư lợi”, thì chẳng thể phạm giới rượu. Người ta vì sao phải uống rượu? Tức là muốn mê loạn thân tâm mình, làm cho nó mơ mơ màng màng, làm cho tự mình thành tiên, thành thần, tiêu diêu ở trên trời. Uống rượu say sẽ chửi người cho rằng là việc muốn làm, lại tăng trưởng dâm dục, lại muốn dùng rượu để giúp cho huyết khí lưu thông nhanh một chút, uống rồi quên đi tất cả, như hít vào rồi chẳng phải mạng khác mà một kiểu phiêu phiêu. Ðây đều là tâm tự lợi tác quái, cho nên không uống rượu.

Ðức Phật nói: “Ba nghiệp thân - miệng - ý làm ác, chỉ rượu là căn bản”.Uống rượu say loạn, tâm không chừng mực, dùng phung phí vô độ vậy. Ðó là cửa của các bệnh, gốc của đấu tranh. Cho nên các loại rượu đều không nên uống.

Ðức Phật nói: “Người uống rượu có sáu việc tổn thất: tài vật dể tổn thất, dễ sinh bệnh, ưa thích đấu tranh, chuốt bày tiếng xấu, dễ giận dữ táo bạo, càng lúc càng không có trí tuệ”.

Kinh Ưu Bà Tắc nói rằng: “Nếu lại có người ưa uống rượu, người đó hiện tại thường mất của, thân tâm nhiều bệnh, thường thích đấu tranh, tiếng xấu nghe xa, tản mất trí tuệ, bị xấu nhan sắc và sức lực, chỗ làm đáng trách tất cả, người ta không ưa gặp, không thể tu thiện, đó gọi là báo ác hiện đời của người uống rượu.”

10. MƯỜI THIỆN NGHIỆP

A. PHẬT NÓI KINH “THẬP THIỆN NGHIỆP”

Tín đồ Phật giáo báo ân hoằng pháp cần phải từ mười thiện nghiệp bình thường làm lên. Mười thiện là tôn chỉ lớn, hạnh môn của Phật giáo. Chúng sinh thăng trầm nơi sáu đường, đã thấy sự nhẹ nặng của thiện ác để mà xét đoán: Thánh hiền trải qua ở tam thừa cũng lấy sự cạn sâu tu thiện diệt ác làm chổ quyết định. Do đây thấy rằng pháp “mười thiện nghiệp” là sự cân nhắc thánh phàm cao thấp, kim chỉ nam cho cuộc sống của Phật tử.

Ðạo mười thiện nghiệp, đã là căn bản của tất cả thiện pháp, thì bất luận làm người hoặc sinh ở cõi trời, thậm chí cần quả thánh ba thừa xuất thế, đều phải lấy mười thiện nghiệp làm cơ sở, nhiên hậu từng bước từng bước tiến lên, thì có thể đạt đến quả Phật tối cao.

Gốc làm người ở nơi mười thiện, nguồn thiện cũng ở nơi mười thiện, và cơ sở của năm thừa cũng ở nơi mười thiện.

Chúng ta cần phải làm việc thiện, tốt nhất có thể hiểu rõ định nghĩa của thiện, như mà đối với chân nghĩa của thiện không rõ, thì có lúc điểm xuất phát là thiện, nhưng kết quả ngược lại việc làm ra và thiện trái nhau, thực tại nầy thật là không sửa đổi được.

“Thiện” căn cứ sự chỉ bày của Ðức Phật cho chúng ta, định nghĩa đó có thể từ ba phương diện nói ra:

1/ Từ sự động niệm của tâm mà nói:

Sự thuần khiết và không thuần khiết của hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý thuần khiết là không có phiền não xen lộn ở bên trong mà chỉ cùng với thiện tâm: không tham, không sân, không si, tàm và qúi tương ứng, tức là việc thiện. Ngược lại mà nói, hoạt động tâm lý tạp nhiễm không thuần khiết, thường cùng với các phiền não: tham, sân, si, mạn, tà kiến, không tàm, không quí trói buộc nhau, tức là ác; phân biệt thiện – ác, hoàn toàn là xem sự thanh tịnh hay không thanh tịnh của nội tâm.

2/ Từ sự ảnh hưởng của hành vi mà nói:

Chúng ta biết rằng, giữa người và người đều có sự tương quan, nhơn sự biểu hiện của bất cứ hành vi nào đều sẽ ảnh hưởng đến các người khác, từ ảnh hưởng tốt hoặc xấu đó, thì có thể phân biệt thiện hoặc ác. Cho nên sự thiện ác của hành vi chủ yếu là sự lợi hại của ảnh hưởng xã hội mà phân biệt.

3/ Từ sự trước sau của thời gian mà nói:

Người đời một số chỉ coi trọng hiện thực, nắm lấy hiện thực, nhưng Phật pháp giảng rằng: Không những có thời gian hiện tại mà còn có thời gian vị lai, làm người không thể nhìn ngắn ngủi chỉ có hiện tại thôi. Nên còn phải nghĩ đến vị lai, như một khi nghĩ đến vị lai, thì hành vi hoạt động của hiện tại cũng không dám tùy tiện. Hành vi hoạt động của chúng ta là chẳng những đối với hiện tại, mà vị lai cũng đều có lợi ích. Như vậy tức là thiện. Giả sử cho rằng chỉ đối với hiện tại có chỗ tốt đẹp, nhưng đem phương pháp không chính đáng cầu được sự đầy đủ trên cuộc sống hiện tại, mà đối với sinh mạng sống mới của vị lai không những không có chổ tốt đẹp mà ngược lại cảm đến sự đau khổ rất lớn, tức là ác.

Nghiệp tức là hành vi, tức là ước nói động tác của thân tâm, song mỗi một động tác của hành vi thân tâm sau khi qua đi, không phải qua đi thì nói xong, ắc còn có sự lưu giữ lại năng lực; Phật pháp nói là “nghiệp lực”. Cho nên chữ “nghiệp” nầy, ở trong Phật pháp là ước giảng hai phương diện: một là ước nói ở ngay nơi hoạt động, hai là ước nói sau khi hoạt động chỗ lưu lại lực dụng. Nghiệp dụng lúc động làm, trở thành quá khứ rất mau; nghiệp lực giữ lại, trải qua trăm nghìn kiếp đều không mất. Ðưa ra ví dụ để nói, như tôi đánh anh một cái, hoặc chửi anh một câu; hoặc đánh hoặc chửi đều là một món nghiệp dụng, đem năng lực đánh chửi này lưu giữ lại, lại là nghiệp lực. Nghiệp lực cũng giống như chủng tử (hột giống) mà người ta nói, chủng tử trước lúc chưa bại hoại, không luận đến lúc nào, chỉ cần có trợ duyên (đất, nước...), tự nhiên sẽ phát sinh ra mầm; “nghiệp” của chúng ta thu chứa ở trong đó, gặp được nhân duyên nào đó, tất nhiên cũng sẽ cảm thọ riêng một mạng sống mới.

Do đây, chúng ta đối với hành vi sở hữu của mình, đều phải tự mình gánh vác trách nhiệm, không phải bởi vì làm rồi thì tính rồi, nếu anh tự cho là xong rồi, nghiệp lực có thể không chịu tha thứ cho anh, đến lúc tương đương, nhất định sẽ tính sổ với anh, quyết không thể dễ dàng buông tha.

Nghiệp, không phải là túc mạng luận, tuy nhiên đối với hiện tại có chỗ ảnh hưởng, ngược lại không thể chi phối. Nghiệp, cũng giống là hạt giống (chủng tử), một ngày kia phát mầm thành thục, thì ắt phải kết quả. Ðạo lý của nghiệp rất đơn giản, tức là “phép tắc nhân quả” mà thôi.

Cung kính ghi chép (trích) từ trong “Kinh Phật nói đạo mười thiện nghiệp”:

­“Pháp này tức là đạo mười thiện nghiệp. Thế nào là mười? Nghĩa là có thể trọn xa lìa: sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói vọng, hai lưỡi, miệng ác, lời nói chiều uốn, tham dục, sân nhuế, tà kiến (ngu si).”

Từ sát sinh đến tà kiến, thông thường gọi là mười ác, hoặc con đường mười ác nghiệp. Nay đây trên mỗi ác nghiệp, lại thêm hai chữ vĩnh ly (vĩnh viễn rời xa), tức là vĩnh ly sát sinh... đến tà kiến, đó tức thành là mười thiện. Cho nên trong đoạn kinh văn này, chúng ta cần phải biết hai chữ rất trọng yếu đó là “vĩnh ly”. Ðương nhiên, vĩnh ly kiểu này là bậc thánh mới có thể làm được, không phải chúng ta một hạng phàm phu có thể làm được. Tuy là như vậy, chỉ cần chầm chậm học, thường thường tu, từ nay không làm việc sát sinh... cho đến tà kiến, tóm lại có làm thì có một ngày “vĩnh ly”.

B. THẬP THIỆN NGHIỆP

­Không sát sinh

- Không trộm cắp

­Không tà dâm.

­Không nói vọng

_ Không nói hai chiều

­Không nói ác

­Không nói thêu dệt

- Không tham dục

­Không sân nhuế

­Không tà kiến (ngu si)

Thế nào gọi là sát sinh? Cắt đứt mạng sống là sát, có tình gọi là sinh; dứt đi sinh mạng của loài hữu tình gọi là sát sinh. Phàm là động vật có sinh mạng: bay trên không trung, chạy trên đất, bơi trong nước, bất luận là lớn hay nhỏ, trên từ chúng ta, dưới từ côn trùng nhỏ nhít, đều không thể có ý sát hại, hoặc khiến sảy thai, tự sát, cũng là sát sinh. Bất luận là dùng phương pháp công cụ nào, dù trực hay gián tiếp đến nỗi khiến cho sinh mạng của loài hữu tình tử vong gọi là sát sinh.

Thế nào là trộm cắp? Của vật công cộng, của vật riêng người, không luận là nhiều hay ít, lớn hay nhỏ, không được xâm chiếm, chưa trải qua sự đồng ý của họ, không cho mà tự lấy, gọi là trộm cắp. Vấn đề trộm cắp trên xã hội, có khi trực tiếp, có lúc gián tiếp, có hình thức hoặc không hình thức. Thí như ăn trộm, ăn cắp, cướp giật là trực tiếp; tham ô nhận hối lộ, chiếm dụng của công, riêng nuốt tiền của của người khác là gián tiếp; trói buộc dối gạt lấy, mạo phạm nhờ đỡ công việc là có hình thức; giả công giúp tư, “nuớc đục thả câu” là không hình thức. Tóm lại, không cho mà tự lấy, hoặc dùng thủ đoạn không chánh đáng mà đoạt lấy tiền bạc của cải, đều là trộm cắp.

Thế nào là tà dâm? Tình nhiễm phóng đãng, giao cấu ô uế gọi là “hạnh bất tịnh”. Ngoài vợ chồng chính thức ra, có bất kỳ hành vi dâm uế nào, làm loạn quan hệ nam nữ, phạm hạnh bất tịnh, thì gọi là tà dâm. Ðồng tính cẩu thả giao hợp, tự an ủi cũng thuộc về tà dâm, niệm dâm trong lòng khởi lên, miệng nói lời dâm cũng là tà dâm.

Người tu hành có nam có nữ, thì cần phải đoạn dâm, sự liên tưởng đều không nên nghĩ đến, vợ chồng chia phòng mà ngủ. Tu hành như vậy không dứt được dâm, thì phẩm vị vãng sanh cực lạc cũng không thể cao được.

Không dâm dục, là người tu hành có niệm đầu không dâm dục, như có mảy mún niệm tưởng dâm dục, thì không thể vượt khỏi ba cõi, mà vẫn ở trong luân hồi chịu lấy sinh tử. Ý niệm dâm dục này, tức là cội rễ của sinh tử. Nếu có thể đoạn được nó, bèn ra khỏi ba cõi mới có thể chứng quả thành Phật.

Một bệnh sắc dục cũng đã nêu lên bệnh chung của người đời. Chẳng riêng gì người trung căn, hạ căn bị sắc mê hoặc, mà người thượng căn nếu không tự giữ gìn chiến đấu, thiếu cẩn thận ở niệm, thì khó khỏi bị sự mê hoặc. Thử xem từ xưa đến nay bao nhiêu hào kiệt vượt trội, cố gắng làm thánh hiền, chỉ do phá không được cửa này, trở lại làm kẻ hạ ngu thấp hèn, lại còn vĩnh viễn rơi vào đường ác, bởi vì khó thắng số. Người tu hành vốn là ra khỏi sinh tử, nếu không gắng trừ bệnh này, thì cửa sinh tử khó ra khỏi. Tức là pháp môn niệm Phật, tuy mang nghiệp vãng sanh, nhưng nếu tật dâm kết chặt thì là cách xa với Phật, khó ở việc “cảm ứng đạo giao” vậy. Phải cố gắng trừ sạch tập khí ác nghiệp, mới có thể có phần tự do.

Người tu hành không nên có tư tưởng tình ái, càng không thể có hành vi tình ái, đối với bất kỳ người nào không nên sinh ra tâm tình ái; có tình ái thì rễ khổ không dứt, có tình ái thì sinh tử không thể mất. Có người nói “Con người là động vật có tình cảm, cho nên có tính dùng sắc chất”. Bởi do thế này nên cần tu hành.

Giả như anh có thể buông bỏ một cách triệt để tất cả sắc dục, như thế thì một cái xong tất cả đều xong. Anh hùng hảo hán trong thiên hạ cho đến kẻ tu hành, không biết bao nhiêu đều bị cửa sắc đẹp làm mê. Những vấn đề trên thế gian và phiền não cũng gốc là ở đây.

Ðối với việc sắc tình, chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy thì không nên tưởng, đã thấy thì không được loạn. Nếu xem, nghe, nghĩ, tưởng, tâm niệm khởi lên, tánh hiền xung động, vượt qua nghĩ tưởng và xung động, thì lửa dục đốt thân, muốn không phạm giới cũng không thể được. Cho nên chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy rồi, nghe rồi thì không nên tưởng, càng không được có động tác, nếu tâm niệm khởi lên tức liền quở trách, thì không muốn vào chỗ si quấy. Nếu sinh lý xung động, thì nghĩ tưởng lúc tức giận hiện tướng hung ác, lúc bệnh hoạn hiện tướng suy bại, lúc chết hiện tướng khó nhìn, từng việc quán sát chắc chắn. Như thế chỉ cần cấu uế đờm tửa, lông tóc răng móng, xương thịt máu mủ, mọi thứ gớm nhờm giống như tử thi, dơ như nhà xí; ai đối với vật này mà sinh tham ái? Tham ái đã dứt, niệm dục tiêu mất, tâm địa thanh tịnh; không nên nghĩ tới sắc đẹp của nó, chỉ nghĩ đến chỗ xấu xa của nó, như vậy tánh dục không thể xung động được.

Dâm dục dễ sinh ra sự đố kỵ, chê bai người khác, chiếm hữu, vướng mắc, ân oán, tranh giành quấy rối... những tranh chấp và phiền não, ngăn ngừa thì đẩy lùi đi được nhiều phiền phức, vui được yên ninh. Dâm dục dễ phát sinh quan niệm gia đình, gia quyến; từ đó sinh ra niệm quan hệ, riêng tư, trói buộc, gánh vác, kết tình, làm phương hại cho việc tu hành. Ở thế giới này, dục lạc là cội rễ luân hồi của chúng ta nhập thai.

Thế nào là lời vọng? Miệng phải mà tâm trái, dối gạt không thật, điên đảo trắng đen, lộn xộn thị phi, nói chung đều là lời nói vọng.

Thế nào là lời nói ác? Ðem lời thô bạo, ác độc, tổn thương người, khinh người, làm khốn đốn người, hơn người, lời ô uế... để chửi mắng nhục mạ người, làm tổn thương lòng người, lời trù yếm rủa quở, khiến người phát sinh áy náy lo lắng trong lòng, không thoải mái, sanh giận đều là ác khẩu. Ðối với súc sinh cũng không nên chửi nó.

Thế nào gọi là nói lưỡi hai chiều? Tạo lời bịa đặt sinh sự, xúi dục thị phi, khiêu khích ly gián, ly gián cảm tình giữa người và người, khiến người kia – đây không hòa, gây chuốt oán; đó gọi là nói lưỡi hai chiều (đâm bị thóc, thọc bị gạo).

Thế nào gọi là lời nói thêu dệt? Nói lời dâm đãng tầm thường, nhơ uế không chánh, khêu gợi tình cảm, lời không ra gì, lời không ý nghĩa, lời ngon tiếng ngọt, cái đáng phê bình ngược lại khen đẹp, cái việc tốt đẹp lại đem phỉ báng, mỗi nơi một khác không hợp với nghĩa, những lời như thế đều gọi thêu dệt. Ba bốn người bạn tụ lại một chỗ, cao hứng bàn luận, vui cười đắc ý rất dễ phạm phải lời thêu dệt, phải nên cẩn thận.

Con người rất dễ bị phạm về nghiệp miệng. Cho nên đối với chúng sinh có lời làm tổn thương hại người, ngược đãi, ô uế, thô bạo, ác độc, nói lời dối gạt, nói khoác lắm lời, miệng tâm trái nhau, đều không nên nói; dẫu bị người cho là kẻ câm, cũng không nên làm tổn hại đến khẩu nghiệp.

Thế nào gọi là tham dục? Tham dục còn gọi là tham ái tham luyến. Chúng ta không chỉ yêu thương thân thể sinh mạng chính mình, mà còn yêu thương các món tài sản quyền thế, danh dự, người thân của mình, tham luyến không xả được. Không có muốn cho có, có rồi lại càng muốn có nhiều càng tốt; tại sao đều muốn có? Tại sao đều không đủ? lòng tham không bao giờ đủ, đó là tham dục. Vì thoả sự ham muốn chính mình, chỉ cần đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn, công lý thế nào, nhân tình thế nào quên hết.

Tâm tham khởi lên, ở ngay nơi lúc khởi tưởng về trước không có nó, không phải là sống tốt đẹp sao, vì sao quyết phải phí sức tranh cầu? Nghĩ vậy tâm sẽ tiêu mất.

Thế nào gọi là sân nhuế? Sân nhuế là phát giận, thịnh nộ, oán hận. Có chút ít không như ý thì phát giận, não phiền không thoải mái, trong lòng ôm lấy điều không vui, oán đây hận kia. Ðối với người, sự việc, vật, lúc mà gặp mặt tất cả nghịch cảnh không như ý, thì sự giận ở bên trong phát ra bên ngoài, đó gọi là sân nhuế. Sân nhuế đối với người tu hành có chướng ngại chẳng nhỏ, có câu rằng: “Một việc ác phá chín việc thiện”.

Ðang lúc gặp việc không như ý phải biết lúc cơn giận nổi lên, không nên nói, cũng chẳng ức chế, cũng không nên phát tiết ở trên thân người khác. Còn nói, giải quyết không xong vấn đề; ức chế thì sẽ làm tổn thương đến thân thể; phát tiết trên thân người khác thì tìm cái nhỏ mọn đối với anh, phát tiết trên thân thể họ, tức là anh làm tổn thương đến họ, đối với mình thì cũng chuốc lấy điều không tốt. Phẫn nộ là chất độc, thân thể cần phải chuẩn bị kháng cự, trong máu mủ đầy cả chất độc, nếu không được phát tiết ra ngoài, như thế sẽ chịu khổ, vì sự phẫn nộ đó tồn tại mà chẳng thể giận! Nay đây xin đưa ra một phưong pháp: Chầm chậm hít dài một hơi, ngước lên trời từ từ thở ra, như vậy làm vài lần, hoả khí liền tiêu mất; hoặc tìm một chỗ, một tay nắm cú đánh một cái, hoặc vẽ trên miếng giấy, hoặc vào trong phòng đánh bị bông, hoặc cái gối... để tiết lần khí giận. Phương pháp tốt nhất là: coi như gió bên tai, coi như đang biểu diễn ca múa, như nó đang tự chửi mắng nó, không nên lý sự với nó, không khởi tâm động niệm, khí sẽ không sinh khởi (không giận) được.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Một niệm tâm sân khởi, trăm ngàn cửa chướng ngại mở”, “Lửa sân nhuế có thể đốt cháy rừng công đức”.Có thể chẳng sợ sao?

Thế nào gọi là tà kiến (ngu si)? Ngu si không phải là ngu thật, là có một chút thông minh nhỏ; bởi vì tư tưởng lầm lạc (tà kiến), tất cả kiến giải hoặc tập tánh không hợp lý, dẫn đến sự điên đảo trên hành vi, không rõ biết phải quấy, mặc tánh vọng làm, không rõ đạo lý, không tin chánh đạo, không tin nhân quả báo ứng, không tin Phật, Bồ tát, thần quỷ. Tự cho là phải, cuồng vọng tự đại, trong mắt không có người, kiêu căng ngạo mạn đó là ngu si.

­Thập thiện nghiệp - không trái phạm, mới là thập thiện nghiệp (mười nghiệp thiện); trái phạm rồi thì là thập ác nghiệp (mười nghiệp ác). Tóm lại, phàm là việc tổn hại chúng sinh thì thân không nên làm, miệng không nên nói, ý không nên nghĩ.

Sau khi biết đạo lý của mười thiện nghiệp, thì không nên giống như kiểu trước kia làm việc theo chỗ muốn của tâm, ưa gì làm nấy; trước khi làm việc hay nói cần phải nên nghĩ là có tổn hại đến chúng sinh hay không, có vi phạm đến mười thiện nghiệp hay không?

Người tu hành phải tin Tam Bảo, biết nhân quả, giữ năm giới, làm mười nghiệp thiện và nhẫn nhục, đây là việc người tu hành quyết cần phải đầy đủ. Ðức Phật do đó dạy bảo cho tín chúng cái việc hợp tình nhập lý, trừ phi người không muốn làm điều tốt, những việc này làm tiêu chuẩn phép tắc mới thành sự răn ngừa của con người.

Chúng ta làm con người không thể không nói đến luân lý, đạo đức và lương tâm. Mà mổ xẻ đạo đức hay không cũng là ở trên sự đoan chánh hay không của hành vi. Người có hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp thiện, người không có hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp ác. Một cái hành vi của nhân dân tốt là đoan chánh, huống chi chúng ta là Phật tử, là người tu hành.

Xa lìa vĩnh viễn mười nghiệp ác, nhất định sẽ được công đức rất nhiều.

Kinh chép rằng:

­“Này Long Vương, nếu lìa SÁT SINH, tức thành tựu được mười pháp lìa não phiền. Thế nào là mười? 1. Ðối với các chúng sinh khắp ban cho sự không sợ sệt. 2. Vì chúng sinh khởi tâm đại từ. 3. Vĩnh viễn xa lìa tất cả tập khí sân nhuế. 4. Thân thường không bệnh. 5. Thọ mạng dài lâu. 6. Thường được phi nhân thủ hộ. 7. Không có ác mộng ngủ thức vui vẻ. 8. Diệt trừ oán kết, các oán tự giải. 9. Không sợ đường ác. 10. Mệnh chung được sanh lên trời, đó là mười việc.

­“Lại nữa Long Vương, nếu lìa TRỘM CẮP tức được mười món tín pháp có thể giữ gìn. Thế nào là mười? 1. Tài sản chứa đầy, vua, giặc, nước, lửa không phải là con yêu, không thể làm tản mất. 2. Nhiều người yêu thích. 3. Người không khinh rẻ. 4. Mười phương khen ngợi. 5. Không buồn tổn hại. 6. Tiếng lành đốn khắp. 7. Ở trong chúng không sợ. 8. Tiền tài, sinh mệnh, hình sắc, sức lực đều an lạc, biện tài đầy đủ, không khuyết thiếu. 9. Thường ôm lòng bố thí. 10. Mệnh chung được sanh lên trời; đó là muời.”

­“Lại nữa Long Vương, nếu lìa TÀ HẠNH, tức được bốn món đức trí đáng ca ngợi. Thế nào là bốn? 1. Các căn điều hòa và thuận nhau. 2. Vĩnh viễn xa lìa ồn ào. 3. Người đời ngợi khen. 4. Vợ chẳng lấn quyền. Ðó là bốn.”

­“Lại nữa Long Vương, nếu lìa NÓI VỌNG tức được tám pháp chư Thiên khen ngợi. Thế nào là tám? 1. Miệng thường thanh tịnh thơm mùi hoa Ưu Bát. 2. Làm các điều thế gian tin phục. 3. Phát lời nói chân thành chứng thật, trời người kính yêu. 4. Thường dùng ái ngữ (lời khả ái) an ủi chúng sinh. 5. Ðược vui thù thắng nơi ý, ba nghiệp được thanh tịnh. 6. Lời nói không sai lầm, tâm thường hoan hỉ. 7. Phát lời tôn trọng, trời người phụng hành. 8. Trí tuệ thù thắng, không có thế lực nào chế phục. Ðó là tám.”

­“Lại nữa này Long Vương, nếu xa lìa LƯỠI HAI CHIỀU, tức được năm pháp không thể hại. Thế nào là năm? 1. Ðược thân bất hoại, không thể hại được. 2. Ðược quyến thuộc bất hoại, không thể phá hoại. 3. Ðược niềm tin bất hoại, thuận với gốc vậy. 4. Ðược phép hành bất hoại, sở tu kiên cố vậy. 5. Ðược thiện tri thức bất hoại, không đảo điên vậy. Ðó là năm.”

­“Lại nữa Long Vương, nếu lìa ÁC KHẨU, tức được tám món thịnh nghiệp. Thế nào là tám? 1. Nói không trái với chừng mức. 2. Nói đều là lợi ích. 3. Nói ắt hợp với lý. 4. Nói từ ngữ hay tốt. 5. Lời nói được thừa lệnh. 6. Nói ra thì được tin dùng. 7. Nói ra không cần bàn cãi. 8. Lời nói đều được yêu thích. Ðó là tám.”

­“Lại nữa này Long vương, nếu lìa LỜI NÓI THÊU DỆT, tức được thành tựu ba món quyết định. Thế nào là ba? 1. Nhất định làm cho người trí yêu thích. 2. Nhất định có thể dùng trí như thật để trả lời. 3. Nhất định có oai đức tối thắng đối với người – trời, không có hư vọng. Ðó là ba.”

­“Lại nữa này Long Vương, nếu lìa THAM DỤC, tức có thể thành tựu năm món tự tại. Thế nào là năm? 1. Ba nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. 2. Tài vật tự tại, tất cả oán tặc không thể cướp đoạt. 3. Phước đức tự tại, từ tâm ưa muốn, vật đều đầy đủ. 4. Vương vị tự tại, của báu cũng như vật, đều phụng hiến dâng. 5. Vật có được hơn cả mong cầu hơn cả trăm lần thù thắng do lúc xưa không lẫn tiếc vậy. Ðó là năm.”

­“Lại nữa này Long Vương, nếu lìa SÂN NHUẾ, tức được tám pháp vui tâm. Thế nào là tám? 1. Không có tâm tổn hại não phiền. 2. Không có tâm sân nhuế. 3. Không có tâm giành giật. 4. Có tâm nhu hòa chất trực. 5. Ðược tâm từ của bậc thánh. 6. Thường làm lợi ích, an được tâm chúng sanh. 7. Thân tướng đoan nghiêm. 8. Vì bởi hòa nhẫn nên mau sinh cõi phạm hạnh (thanh tịnh). Ðó là tám.”

­“Lại nữa này Long Vương, nếu lìa TÀ KIẾN, tức được thành tựu mười pháp công đức. Thế nào là mười? 1. Ðược ý vui chân thiện, bạn bè chân thiện. 2. Tin sâu nhân quả, dẫu có hy sinh thân mạng quyết không làm điều ác. 3. Chỉ quy y Phật mà không phải các trời nào khác. 4. Trực tâm, chánh kiến, trọn xa lìa tất cả lưới nghi tốt xấu. 5. Thường sinh về nhân thiện, không quy về các đường ác. 6. Vô lượng phước huệ lần lữa tăng trưởng thù thắng. 7. Trọn lìa tà đạo, làm nơi Thánh đạo. 8. Không khởi thân kiến, xả các nghiệp ác. 9. Trụ nơi vô ngại kiến. 10. Không đọa lạc ở các nạn. Ðó là mười.”

“Thập thiện nghiệp” nên cùng với “luật nhân quả” và “sám hối” đồng thời tu hành, sau khi rõ biết luật nhân quả thì không thể phạm mười thiện nghiệp; nếu phạm mười thiện nghiệp tức phải dùng sám hối càng giúp cho tâm linh sau khi phạm sai lầm mở được nỗi đau.

Giữ miệng, nhiếp ý, thân không phạm, như vậy hành giả được độ sinh.

Có thể nương nơi phương pháp mười thiện nghiệp thực tiễn là sáu pháp “Ba La Mật”, tu được sáu pháp Ba La Mật, mới càng thù thắng hơn.

11. SÁU PHÁP BA LA MẬT VÀ BỐN PHÉP NHIẾP

Ngoài ba học là: Giới - định - huệ, cộng thêm: bố thí - nhẫn nhục - tinh tấn, hợp thành sáu độ, cũng gọi là sáu độ Ba La Mật (sáu pháp Ba La Mật).

Chữ Ba La Mật là tiếng Phạn, nghĩa là “Ðáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia). Người qua sông cần phải nương nơi thuyền bè mới vượt qua giữa dòng để tới bờ bên kia; người học Phật ở bờ sinh tử luân hồi, vượt qua dòng ở giữa là phiền não, đến bờ bên kia tịch tịnh Niết Bàn. Sáu pháp Ba La Mật thì có thể vượt qua biển khổ sinh tử luân hồi, đến được bờ bên kia giải thoát: Niết Bàn.

Hàng Bồ Tát của Ðại thừa Phật giáo vì thành tựu Phật đạo tối hậu, quyết cần phải thực tế bước lên sáu pháp Ba La Mật. Mỗi một người tu hành học Phật, đều cần phải phát “tâm Bồ Ðề”, đầu tiên đều cần phải tự mình đầy đủ thực tế, tích cực làm cho được hành vi: “tạo phước cho nhân loại, lợi ích cho chúng sinh”, mới có thể đạt được đầy đủ cho chính mình, chỉ muốn ngóng trông tìm cầu thì phiền não, thất vọng, đau khổ càng nhiều. Vì cần đạt được dục vọng chính mình, tự nhiên sẽ bất chấp mọi thủ đoạn đối với bên ngoài để tham cầu tất cả, do đó, cũng tạo nên nghiệp ác rất là nhiều, dẫn khiến phiền não, thất vọng, đau khổ tiếp tục đến; tóm quy một câu nói: đều là vì danh lợi hư huyễn không thật, phiền não thống khổ mang lại, cội gốc sanh tử mang lại. Song pháp môn “Lục độ Ba La Mật”, chính là Ðức Phật vì chúng sinh giải thoát phiền não thống khổ, khiến con người đạt được cảnh giới lý tưởng an lạc: Niết Bàn; Ðồng thời khiến con người thẳng đến thăng hoa cuộc sống tinh thần; Pháp môn này tu hành viên mãn sáu món, tự lợi lợi tha, thành công sự nghiệp.

Sáu pháp Ba La Mật: Bố thí - trì giới - nhẫn nhục - tinh tấn - thiền định - trí tuệ.

Bố thí có thể giải thoát độ được tâm “xan tham” của thân tâm. Trì giới có thể giải thoát độ được “tà hạnh” của thân tâm. Nhẫn nhục có thể giải thoát độ được “sân hận” của thân tâm. Tinh tấn có thể giải thoát độ được “giải đãi” của thân tâm. Thiền định có thể giải thoát độ được “tán loạn” của thân tâm. Trí tuệ có thể giải thoát độ được “ngu si” của thân tâm. Khiến người đạt được cảnh giới giải thoát “thật tướng vô tướng”. Cũng tức là: 1. Vô ngã tướng; không phải ngã là một cá nhân rất sai lạc và cứng cỏi, không phải chỉ biết có ngã mà không biết tâm trạng của người khác. 2. Vô nhơn tướng; trong cuộc sống hằng ngày, không có quan niệm cảm giác điểm đối lập người và ta. 3. Vô chúng sinh tướng; trong quá trình sinh hoạt, không thọ trở lại các món ái dục, dục vọng mê mờ, si ám, trói buộc, tạo các món nghiệp ác, thọ các món khổ, mà cuộc sống an ninh tự tại. 4. Vô thọ giả tướng; không đem sinh mạng ngắn ngủi tạm bợ hiện thời cho là vĩnh hằng, không đem sinh mạng vô thường hiện đời cho là thế giới trường cửu. Tìm đến mà phá trừ “ngã chấp, pháp chấp” của con người, đạt được cảnh giới: từ - bi - hỉ - xả, ngã - pháp cả hai đều không.

A. BỐ THÍ (vưng làm các điều thiện)

Trong đại thừa Phật pháp, vì sao bố thí được kể là đầu của sáu pháp Ba La Mật? Bởi vì bố thí là một hành vi có thể thăng hoa nhân tính, nó có thể phát sinh năng lực của sự vượt qua (gọi là ÐỘ); đem sự nhỏ mọn, cố chấp đóng kín, tật đố, bi quan mà vượt qua, đến bờ bên kia của sự nhiệt thành, thoải mái, rộng rãi, tri túc và giàu có.

Bố thí tức là phát tâm Bồ Ðề, rộng lợi ích tất cả chúng sinh, giải thoát khổ nạn của chúng sinh, giúp cho chúng sinh an lạc.

Mục đích của bố thí: thương xót chúng sinh, vì khiến chúng sinh an lạc. Không ở việc mong cầu, không mong báo đáp, không ở nơi rộng thu lấy tiếng tốt xa bay.

Bố thí (làm thiện) cần phải thành tâm, không được phân chia đối tượng, oán thân, kia đây, ôm lòng nặng đây nhẹ kia, bố thí thế này thì không phải là bố thí.

Bố thí không khó, khó ở chỗ đạt được cảnh giới “thể của ba luân đều không”. Ba luân đều không là: không có cái “ta” bố thí; không có “người” thọ của bố thí; cũng không có “vật” được thí.

Bố thí tức là “thí xả”, vấn đề thí xả có nhiều phương diện, và chẳng cuộc hạn ở nơi nắm tiền bạc tài vật mà đưa ra. Tức là dùng trí huệ, học vấn, hoặc thể lực, năng lực của mình tuỳ thời tuỳ chỗ đều có thể giúp đỡ cho người cần chịu giúp đỡ.

Bố thí chia ra: tài thí, pháp thí và vô uý thí.

­Bố thí tài (tài thí), đem năng lực tài sản của mình mà thí cho. Không chỉ là đem ra một ít tiền quyên giúp chùa chiền hoặc nhà nghèo khó, mà là cần phải ở trong sinh hoạt hàng ngày, mỗi niệm mỗi niệm vì người khác, không phải vì tự kỷ.

­Bố thí pháp (pháp thí), đem Phật pháp giáo hoá dẫn dắt chúng sinh, khiến nhân đó mà được độ. Phàm là người khác muốn biết, muốn học tập, chỉ cần ta biết, ta có thể, thì nhiệt tình dẫn dạy họ. Không điều kiện, không kể trả công; nếu là có giá thay thế, thu phí dụng... như thế không phải là bố thí. Cho nên bố thí pháp không nhất định giảng kinh, nói pháp.

­Bố thí không sợ sệt (vô uý thí), cứu độ khổ nạn cho chúng sinh, nên lấy tinh thần an ủi giúp đỡ, khiến họ xa lìa lo lắng, không sợ không hãi, trừ khỏi sự bất an.

Lúc thân tâm ở chúng sinh bất an, sợ sệt, lo âu, có thể giúp họ tiêu trừ được sự lo sợ, bất an của họ.

Bố thí là giữ thiện tâm, làm thiện hạnh. Thế nào là thiện? Tức là tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi, làm việc hợp với luân lý đạo đức của xã hội, luật pháp của quốc gia, không làm tổn hại đến tất cả chúng sinh, tâm giữ công chính, vui đối với việc giúp đỡ người, tức là thiện.

Giữ tâm làm thiện cần có tâm lợi ích chúng sinh, tâm ý cần chân chính thiết thực, lượng sức mà làm, bố thí bởi lòng từ tốt đẹp. Giả như nói ta không có trí tuệ lại không có năng lực, càng không có của tiền vật chất, làm sao mà thí? Ở nhà hiếu thuận cha mẹ, bên ngoài tôn thầy kính lão, hiếu đễ trung tín, kính trên hòa dưới, tâm giữ chân thành, hiền hậu, lấy sự ôn hòa nhẹ nhàng, nhân từ đáng mến, diện mạo hòa vui, thái độ cởi mở đãi người tiếp vật, rất ít xem đến thành công của người ta, hoặc làm việc thiện có thể sanh khởi tâm tuỳ hỉ, khen ngợi người khác, nhà người có việc xấu cần nên an ủi họ, đối với kẻ mất chí hướng nên nói lời khích lệ, đối với người buồn đau nói lời an ủi, như ở trên đường bắt gặp vỏ cây giấy vụn... kiểm tra nó, những việc này chịu khó động tay, kịp thời phục vụ lạc quan, đều có thể làm, không phải là thí cho bao nhiêu tiền, bao nhiêu vật mới là làm thiện. Chỉ cần giữ tâm thiện mới là thiện, không phải là làm được bao nhiêu thiện mới là thiện.

Chỗ làm được ít trên tiền tài, có thể mỗi tháng bố thí mười phần trăm chỗ được; chỗ làm được nhiều thì có thể bố thí nhiều, làm việc cúng dường tam bảo, in (giúp) kinh sách, phóng sinh, cứu giúp nạn gấp, kẻ nghèo, người bệnh, người cần giúp đỡ.

Ðối với việc thí xả tài vật (hành thiện) cho người, đừng còn có một chút tâm hư vinh dứt không được, ôm giữ lấy tâm kiêu mạn, tự đại, tật đố, phải hoàn toàn phát tâm chân thành, đồng tình từ nội tâm. Như anh bố thí được một vạn đồng, có người khác chỉ bố thí được một trăm đồng, như thế anh sẽ cảm thấy chính anh so với người kia, người bố thí một trăm đồng, anh rất là to lớn. Có tưởng pháp kiểu này sẽ sinh ra tâm lý kiêu mạn tự đại, việc làm thiện của anh sẽ cùng với sự kiêu mạn xen lộn với nhau rồi. Ngoài việc bỏ tiền ra rồi, chúng ta phải chăng cũng nên xét nét hiểu động cơ tâm lý thái độ lúc làm thiện của chúng ta, có phải là chân chính có thể phát sinh ra công năng của “Ba La Mật” hay không? Hay là khiến cho việc làm thiện của mình ngược lại mà trở thành một cái duyên nhiễm, bất tịnh, tâm tham danh cầu công đức của thế tục đó là “nhiễm”, khiến cho người bố thí và người thọ thí đều không cách nào được đại lợi ích chân thành.

Sau khi bố thí lại sinh tâm hối hận, hoặc khoe việc làm thiện của mình, đây không phải là bố thí tốt nhất. Sau khi bố thí hoan hỉ trong lòng, vả lại không đem việc thí xả của mình để mà nhận lấy đối tượng thí xả, và đồ vật được thí dính mắc trong lòng, đây mới là bố thí đỉnh cao.

Chỉ cần lấy sự bố thí của tâm chân thành, dẫu là mười đồng, cũng hơn là công dức của trăm vạn đồng mà không chân thành. Bố thí không có tâm chân thành là vì cầu lấy công đức hoặc được danh tốt rộng rãi, dù cho bố thí mấy mươi vạn đồng cũng chẳng được công đức mấy mươi đồng.

Ðại phàm nghĩ thiện làm thiện, người thường phần nhiều biết làm, muốn làm, nhưng nếu chẳng thể “tịnh không” ngã kiến, ngã chấp, ngã tham, ngã hận, ngã dục, ngã tư (riêng)... chứa nhóm thành kiến, thì gặp việc thường tình thấy trước mắt nhất là tâm riêng tư (ngã tư) làm trọng, nhân đầu mối tình cảm dấy động mà việc làm và chí nguyện trái nhau, nhân tu dưỡng chẳng đủ mà xử trí không thoả đáng, cái biết và việc làm khó đem mà phối hợp, chứa nhóm lại thường sanh khốn đốn buồn lo, ham muốn riêng tư thường trở ngại việc thiện, vọng niệm tăng thêm phiền não, cho nên nhờ “không quán” giúp cho việc tu dưỡng.

Niệm Phật cần tịnh tâm tịnh ý, xử sự cần phải tịnh tâm, đương nhiên mục đích của bố thí cũng phải cần từ trong tâm xả mà cầu tịnh tâm, xả được thì tịnh, không thể xả được thì nhiễm. “Chấp trước” là kẻ địch lớn của sự tu hành. Sau khi bố thí anh nên “tướng lìa tâm lìa”, không nên ôm giữ trong lòng sự tình đó, tâm mới có thể lìa, đây mới là ‘bố thí của vô tướng”. Nếu như anh làm việc bố thí nhiều năm, ở trong tâm vẫn còn một mực chấp trước công đức, như thế thì nên phải cẩn thận kiểm thảo trạng thái của tâm này.

Làm thiện, trong trăm việc thiện “Hiếu” là trước nhất, không hiếu thuận với cha mẹ, không thể nói là làm thiện. Làm người, con trai hay gái, phải nên phụng dưỡng kính thuận cha mẹ. Hiếu thuận cha mẹ mà chỉ lấy cơm áo, tiền bạc để lo là chưa đủ đâu. Hầu hạ mẹ cha cần phải cung kính, phải nhẹ nhàng, một lời nói một việc làm đừng khiến cho cha mẹ phải thương tâm khó lòng, cần phải làm cho cha mẹ sinh tâm hoan hỉ, việc chính đáng cha mẹ làm không nên ngỗ nghịch, cha mẹ dè răn không được trái ngược, dắt dẫn cha mẹ tin Phật, học Phật tu hành mới là báo đáp ơn cha mẹ chân chính.

Bỏ người nhà cuộc sống gian khổ, không đoái hoài mà đi làm thiện, chẳng được công đức.

Tu thiện như thế chia ra có: Chân thiện - giả thiện, dương thiện - âm thiện, thị thiện - phi thiện, bán thiện - mãn thiện, đại thiện - tiểu thiện, nan thiện - dị thiện.

Những món thiện này mỗi cái đều có mỗi đạo lý, ắt cần phải tiến tới mà giải rõ, chẳng như vậy, làm thiện mà không rõ lý, thì tự khoe mình làm được việc thiện, làm được công đức gì, như thế biết rằng không phải làlàm việc thiện, mà kỳ thật tạo hành vi xấu, uổng phí khổ tâm, không được chút tốt đẹp nào!

Thế nào gọi là chơn thiện – giả thiện?

Phàm làm việc có ích đối với người tức là chơn thiện (thiện chân chánh); chỉ cần làm lợi riêng mình, làm thiện như vậy tức là giả thiện (thiện giả dối). Làm thiện mà không có sở cầu, thiện mà lợi người mới là chơn thiện, như thế sợ rằng chửi người đánh người cũng kể là chơn thiện. Giả như chỉ vì lợi ích chính mình,tức khiến cho anh cung kính người khác, lễ nhường người khác, dùng của tiền thí cho người khác, giúp đỡ người khác cũng gọi là giả thiện. Cho nên gọi là loại người cố ý nói tốt, tạm gượng, dèm xiểm dối lừa đó vậy.

Tu hành trọng yếu nhất là xuất phát từ sự chân thành mà không có sở cầu, giữ tâm lợi ích xã hội quốc gia, làm cho tất cả chúng sinh tạo phước, làm thiện không cần báo đáp, không lộ bày dấu vết, việc thiện như thế là “chơn thiện”; làm việc thiện vì đại chúng xã hội, tất cả chúng sinh tạo phước mà mình còn muốn sự báo đáp tương đương, hoặc mục đích lợi ích nào đó, mưu đồ có chỗ được, đây là trong cái thiện có xen lộn với cái ác (thiện không thuần chất), không phải là chơn thiện. Thiện mà muốn người thấy biết, không phải là “chơn thiện”, ác mà sợ người biết mới là “đại ác”.

Thông thường con người là phàm phu mắt thịt, tục tình và tâm địa của họ không sạch sẽ, tức là vọng tưởng chấp trước còn rất nhiều, không có huệ nhãn, Phật nhãn, nhìn không rõ sự thật chân tướng. “Nhận thiện là ác, cho ác là thiện”, thiện ác đảo điên, đây cũng gọi là mê hoặc điên đảo, người thế này ở thế gian lại rất nhiều. Thế nào là chơn thiện? Chúng ta cần phải khảo sát cho rõ ràng từ tong tâm địa, mới biết mình hành thiện hay không. Thiện ác ở tâm địa, chứa thiện nhiều, lập công to đều là tu trên tâm địa, thuần tuý là lợi cho người giúp cho đời, không có lợi cho mình hay tâm riêng tư.

Thế nào gọi là dương thiện - âm thiện (Thiện bày ra ở bên ngoài - thiện ẩn ở bên trong)?

Phàm làm việc thiện mà người ta biết, thì là dương thiện; làm thiện mà không bị người ta biết thì gọi là âm thiện. Việc thiện của anh làm mọi người đều biết, người người nhìn thấy khen anh tốt, thì chỉ có thể rộng thu loại tiếng khen (danh dự), Khen tốt tức là phước, chính phủ biểu dương (anh là người tốt, làm được rất nhiều việc tốt), quả báo đều báo rất rõ ràng. Cho nên chư vị nên hiểu rằng, không luận là làm bao nhiêu việc thiện, bất tất phải để cho người khác biết, thì việc thiện vĩnh viễn chứa ở trong đó, mà không cầu báo hiện khởi, gọi là “tích đức”. Người khác biết rồi, thiện sẽ không chứa được, làm bao nhiêu thì báo trả bấy nhiêu, về sau quả thiện không còn chút nào, ngược lại tạo rất nhiều ác. Hành thiện mà không bị người khác biết, “âm đức’ trời ắt ban cho đức dày. Do đó dương thiện và âm thiện thì chỉ chia phân giữa sự sáng suốt và ám độn thôi.

Thế nào gọi là thị thiện - phi thiện (thiện phải - thiện quấy trái)?

Ðã làm việc thiện tại sao lại có việc phân ra “thị thiện” và “phi thiện”? Phàm người làm thiện không luận sự hiện hành mà luận sự dẫn đến cái xấu, không luận nhất thời mà luận dài xa, không luận một thân mà luận thiên hạ. Trước mặt thấy là thiện, trên thực tế chẳng là thiện. Ðối với một người là thiện, đối với nhất thời là thiện; mà đối với quốc gia xã hội là phi thiện, đối với đời sau là phi thiện. Cho nên đối với thiện – ác không thể chỉ xem hiện hành trước mắt, cần phải hiểu được ảnh hưởng đối với quốc gia xã hội, đối với hậu thế lâu xa về sau, là mặt chính hay là mặt trái. Hiện hành giống như thiện, kỳ thật kết quả đủ để hại người, thời in tuồng là thiện mà thật thì phi thiện, kết quả đó có ích cho đại chúng, thì tuy là chẳng phải thiện mà thật là thiện.

Nêu lên một ví dụ có thể hiểu thông, như không nên khoan dung tha thứ được, khen ngợi người khác quá đáng, vì giữ tín nhỏ mà sai lầm đại sự, sủng ái con cái mà dung dưỡng đại hoạn... đều gấp mong chúng ta lắng tịnh kiểm thảo mà cải tiến.

Thế nào gọi là bán thiện - mãn thiện (thiện một nửa - thiện đầy đủ)?

Bố thí trăm nghìn vạn đồng, nhưng tâm ý ngược lại không chân thành; Bố thí một hai chục đồng, nhưng tâm ý chân thành; Lấy đây làm thí dụ, thì là trăm nghìn vạn đồng kia là “bán thiện”, một vài chục đồng đó là “mãn thiện”. Thí như đem của tiền mà giúp đỡ cho người khác, không phải ở nơi tiền nhiều hay làm nhiều, mà là thành ý nơi chân tâm, hết lòng hết sức mà làm, tức là mãn thiện; Nếu bố thí của tiền mà lòng xót xa, thi ân mong báo đáp, hoặc có mưu đồ, thí tiền mà không quên được, như thế dẫu cho thí trăm nghìn vạn đồng, cũng chỉ có một nửa thiện mà thôi!

Thế nào gọi là đại thiện - tiểu thiện?

Lập chí làm việc thiện lợi ích cho chúng sanh, quốc gia xã hội, thì thiện tuy nhỏ mà công đức lớn, nếu chỉ vì lợi ích cho mình hay gia đình, như thế tuy lớn mà cũng là nhỏ.

Thế nào gọi là nan thiện - dị thiện (Thiện khó làm - thiện dễ làm)?

Cũng giống như tu thân khắc kỷ, cũng cần khắc phục từ chỗ khó khắc phục, thì lỗi lầm nhỏ cũng không thể phạm. Như mười năm tích góp nhịn ăn nhịn tiêu, trả nợ thay cho người khác, cứu sống vợ con người ta, ở trên nói việc dốc túi giúp nhau, nghĩ tưởng người khác, vì việc người khác nghĩ tưởng, đây là vấn đề tốt có thể nói là khó xả mà có thể xả, việc thiện này rất khó làm mà rất đáng quý, mà phước cũng rất là hậu. Người có tiền tài thế lực, làm việc thiện rất là dễ, dễ mà không chịu làm, tức là thiện dễ làm mà không làm thì giàu mà bất nhân.

Bàn về cái thiện, lấy “chủ nghĩa công lợi” là điểm xuất phát, làm bất kỳ việc thiện nào, trước tiên xét cái gốc thành công hiệu quả tác dụng, quả báo và danh lợi..., xác nhận sự thu hoạch được, rồi mới làm; hạng người này không phải bình thường vô cớ cho anh của tiền, họ nhất định có mưu đồ rồi.

Thiện - thương người như mình; do hạng người này đã phá trừ được “ngã chấp”, cho nên có thể quên mình, mà đạt đến cảnh giới thương người như mình, nhưng vì họ chưa phá trừ “pháp chấp”, cho nên lúc làm việc thiện, trong tâm vẫn còn có quan niệm trừu tượng, vì họ mang lấy danh - tướng, cho nên chưa làm được sự tự tại tuyệt đối.

Thiện - rất hoàn mỹ; làm thiện không những không cầu đáp trả, mà còn không phân biệt người và ta, thậm chí cũng không gánh vác bất kỳ một danh – tướng nào. Tâm từ bi của hạng người này là không có điều kiện mà không có hạn lượng. Vì lúc họ hành thiện, ngay cả một chút danh tướng mang lấy cũng không có, cho nên rất chân thành, rất tự nhiên, cũng rất là vui vẻ, đây tức là cả ba vòng cái thể đều KHÔNG (tam luân thể không).

Người bước đầu học Phật hành thiện, thì khó tránh khỏi sẽ có chấp trước, đợi sau khi công phu tu dưỡng thuần thục, thì có thể vượt qua sự trói buộc và dẫn dắt của danh tướng.

Lớn hay nhỏ của thiện nghiệp đều xem nơi gốc trình độ trong sạch chân thành của tâm con người mà định. Như tâm có thể chân thành trong sạch đến cực điểm (tức là dừng ở nơi chí thiện), không có một chút cặn bã, tức là đại thiện. Nếu tâm không trong sạch, dừng ở nơi tính toán gọi là tiểu thiện. Ví như người giàu có bố thí tiền làm việc thiện, hết sức xuất ra mấy trăm vạn đồng, nếu có một chút ơn huệ bố thí nào mong được báo đáp dù là tiếng khen, tâm cầu phước làm công đức đó, nhân thiện cũng không chân thành thiết tha, như có một người khác, của tiền ít ỏi, chỉ có thể thí vài mươi đồng, thuần tuý phát ra từ tâm từ bi, không xen lộn mảy may một ý niệm khác, thiện nghiệp của người này so với người kia, người mà xuất ra mấy trăm vạn đồng, thì người này lớn hơn nhiều. Nhưng cái tâm rất chân thành thanh tịnh này nói đến rất khó. Cho nên tâm thiện chơn thiết, một việc làm có thể muôn việc thiện.

Thiện mà có tướng tức chẳng phải chí thiện. Cho nên nói rằng người dừng được ở nơi chí thiện, vô niệm vô tướng, mà từng giờ từng phút vẫn không lìa tâm đại bi, không xen lộn tâm tư kỷ, tức là “không giữ ở nơi tướng, như như chẳng động” ở trong kinh đã nói.

Hơn muôn việc hành trì của Ðức Phật dạy, lấy bố thí làm thứ nhất. Thí tức là xả, tức là làm thiện; người hiền minh ở trong xả sáu căn, ở ngoài xả sáu trần, tất cả đều có thể xả, thông thường con người đương nhiên làm không được cảnh giới này, thế thì làm thiện không nên mong muốn làm lợi mình mà phải mong muốnvì lợi người, lợi chúng sinh thì bên trong có thể bỏ trừ căn tánh hạ liệt so kè riêng tư, bên ngoài có thể giúp người nạn gấp, thì đem công vốn có đối với việc làm thiện mà tu trì. Tuy nhiên ban đầu sẽ cảm thấy miễn cưỡng, nhưng lần lần thì sẽ cảm thấy tâm lý yên ổn.

Nói rõ bố thí là giúp đỡ người khác, thật ra vì mình, bởi vì anh làm cái gì thì thu hoạch cái ấy. Của tiền anh bố thí càng nhiều, chính anh cũng càng có thể thăng hoa cuộc sống tinh thần, “chánh nhân” là làm việc thiện bố thí rồi, do đây chỗ được mới là giàu có chân chánh (chánh quả); cho nên nói là bố thí có phước hơn thọ dụng, tiến đến mới có thể hiểu rõ một cách thuận lợi và “trì giới” một cách thực tiễn.

Cái mà anh giao ra có hình hay vô hình mà sự thu hoạch nhìn không thấy; anh bố thí rồi một khoảng thời gian, như con cái trái lời, thì đã ít phiền anh, nhà người cũng lễ độ đối với anh, làm việc cũng dễ dàng nhiều... Anh nói: tiền của tôi không đủ xài lấy đâu bố thí? Nếu như anh có thể tiết kiệm một chút, tính nhập để mà xuất, lấy một gia đình mà dự toán, trừ những phí dụng tất yếu trong sinh hoạt ra, cái gì đang dùng thì dùng, phải nhón gọn lại thì nhón gọn, không phải là những khoảng phí tổn tất yếu mà không được dùng, như là không có việc gấp ra ngoài nên đi xe buýt, chẳng nên đi taxi... Như vậy không những có tiền để bố thí, mà còn dư tiền để cất giữ! Anh bố thí mấy trăm đồng, số mục tuy nhỏ, nhưng đây là tiền nhịn ăn nhịn dùng, công đức đó lớn hơn đại phú ông quyên giúp hơn mấy trăm vạn đồng. Thông thường con người không có khả năng có thể có nhiều tiền để bố thí, nhưng có thể giữ thái độ xử thế “chớ vì thiện nhỏ mà không làm”, thiện trong một niệm tức là tu hành. Con người, không có tâm bố thí, tức khiến giàu có trở lại cũng chưa chắc thấy được khả năng bố thí. Không thể xả được, nắm đưa ra một phần của tiền cho người khác, vật ngoài thân, đều xả không được cho người, cần bàn gì đến Bồ tát tâm!

Có người thường nói: “Ðợi lúc ta có tiền mới bố thí làm việc thiện”. Bố thí không hạn cuộc ở nơi cầm tiền đưa ra, tức là dùng trí tuệ hoặc thể lực của mình, tuỳ thời đều có thể giúp đỡ người cần giúp đỡ, mà tuỳ duyên bố thí. Bố thí ở nơi tâm thương xót, tâm đồng tình và tâm cung kính.

Tài thí có thể độ người khốn đốn ách nạn, không thể độ người thoát ly sinh tử. Pháp thí có thể độ huệ mạng của người, có thể siêu xuất luân hồi. Lúc bố thí tâm giữ bình đẳng, lúc tài thí nên giữ tâm cứu độ, không nên giữ tâm thi ân; lúc pháp thí, phải giữ tâm giúp đời, không nên giữ tâm danh lợi.

Bố thí cũng tức là giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt; phàm không có tâm, lời, việc lợi ích chúng sinh, đều không giữ, không nói, không làm.

B. TRÌ GIỚI (không làm các việc ác)

Tu hành trọn dứt sinh tử, ngoài vấn đề trì giới ra chẳng có thể nói lời dứt sinh tử, dứt sinh tử thì phải giữ gìn cấm giới cửa Phật! Trì giới trước tiên cần phải biết nhân quả, thì mới biết vì sao cần phải trì giới? Trì giới tức là khiến hành vi không vượt qua quy củ, không tạo các món ác nghiệp.

Ý nghĩa của giới tức là “dừng ác sinh thiện”, dừng mà trừ bỏ tội ác của mười ác, năm nghịch, giúp lớn thiện pháp gọi là nghĩa giới.

Ðức Thích Tôn lúc sắp Niết Bàn, ngài A Nan thưa hỏi Ðức Phật lúc còn tại thế, tôn Phật làm thầy, sau khi Phật nhập diệt lấy gì làm thầy? Ðức Phật dạy rằng: “Lấy giới làm thầy”.

Cho nên chúng ta là đệ tử của Phật, hành trì giới luật, mới có “đạo sư”, nếu không có giới hạnh, cũng như không có thầy truyền.

Trong luật tạng của Phật giáo, liên quan đến giới tướng của luật học rất nhiều, tại gia có: ngũ giới, bát quan trai giới, thập thiện giới... xuất gia có tỳ kheo giới... Tóm lại,đều lấy năm giới làm căn bản mà trì cho được tịnh thì những cái nhánh cành (chi mạt giới) cũng dễ hành trì vậy.

Công đức của trì giới, thế tục nói rằng: “Thọ giới dễ, trì giới khó”, xác định là có lý. Nhưng cũng ở nơi thiện căn của chúng ta mà có cạn - sâu, quan hệ nghị lực của tín tâm có hay không? Nếu như đệ tử của Phật giới luật nghiêm tịnh, thì ai chẳng kính ngưỡng? Chư Phật, Bồ Tát hãy còn hộ niệm, huống gì trời, rồng quỷ thần và con người? Luật Tứ Phần nói “trì giới có mười món công đức”:

1.Ðầy đủ chí nguyện, có thể giữ gìn cấm giới, thì thân tâm thanh tịnh, huệ tánh sáng suốt, tất cả trí - danh - thệ - nguyện, không món nào là chẳng đầy đủ.

2.Như Phật mà học, Ðức Phật lúc ban đầu tu hành, lấy giới làm gốc, mà được chứng quả, hay trì giới kiên cố, đó cũng là học như Phật.

3.Trí không huỷ hoại, giới hạnh thanh tịnh, thân miệng không lỗi, phàm người có trí vui ưa khen ngợi, mà không chê bai.

4.Thệ nguyện không thối lui, kiên trì cấm giới, cầu chứng bồ đề, thệ nguyện tinh tấn, được bất thối chuyển.

5.An trụ hạnh chân chính, kiên cố giữ cấm giới, cầu chứng được Bồ Ðề, ba nghiệp thường thanh tịnh, mà ở nơi chánh hạnh, an trụ không xả bỏ.

6.Xả bỏ sinh tử, thọ trì cấm giới, thì không sát, đạo, dâm, vọng các nghiệp, có thể lìa xa sinh tử, trọn thoát quả khổ luân hồi.

7.Ưa thích Niết Bàn, kiên trì cấm giới dứt các vọng tưởng, cho nên nhàm chán khổ sinh tử, ưa thích vui của Niết Bàn.

8.Ðược tâm không trói buộc, giới đức được tròn sáng, tâm thể được trong sạch, tất cả nghiệp duyên phiền não thảy đều giải thoát, không có hoạn trói buộc.

9.Ðược tam muội thù thắng, trì giới thanh tịnh, tâm không tán loạn, thì được thành tựu tam muội, định tánh hiện tiền, siêu các hữu lậu.

10.Không thiếu của cải tín tâm, trì giữ giới luật, đối với Phật pháp đủ tâm chánh tín, thời có thể sinh ra tất cả công đức, pháp và tài không hết.

Phải biết rằng giới của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không nên huỷ phạm, không phạm thì thôi, phạm thì rốt cuộc đoạ lạc. Cho nên người trì giới không nên vì “danh” mà động, không bị “lợi” dụ, không vì uy vũ khuất phục, thân này có thể nát, giới này không nên phá, cho nên gọi là: giữ giới như đỉnh cao núi thái, đứng một mình chót vót mà không thể động, đây mới là trì giới.

“Giới”, là một quy luật, cách luật; trong Phật giáo có giới luật, cũng có thể nương pháp mà làm; trì giới vốn là phần trọng yếu của tín đồ Phật giáo tu hành, cho nên gọi “giới là gốc của Bồ Ðề vô thượng”. Lúc Ðức Phật còn tại thế, ngài dẫn dạy hàng đệ tử rằng: “lấy giới làm thầy, giới còn thì pháp còn”. Nói rõ tánh trọng yếu và địa vị “giới”. Trì giới là duyên tăng thượng. Giới như trăng sáng lớn, hay tiêu tối tăm của đêm dài. Lấy giới làm thầy, nên cần tôn kính giới, cần siêng hộ giới, tôn trọng chánh pháp, làm các việc thiện.

Giới, giúp cho chúng ta tu thành thiện pháp, phòng ngăn việc quấy, dừng dứt cái ác, là đạo ngăn cấm cho thân tâm, khiến thân tâm không làm việc tổn hại chúng sinh, cũng tức là nghĩ ác, làm ác của mỗi kiểu, mỗi loại từng chút đều không nên có, không nên làm.

Cần được tất cả thiện pháp, thì quyết phải cần trì giới, vì tất cả thiện pháp thanh tịnh chỗ có, đều ắt phải bắt đầu từ giới luật. Cho nên trì giới chỉ là một thủ đoạn, phương tiện mà thôi, không phải là mục đích. Song nguyên nhân của trì giới chính là thông qua mình lề lối trang nghiêm, mới có thể đả phá, bỏ trừ được tất cả tậc chứng của bản thân, triệt để mở bày giải thoát mê hoặc của tất cả ngoại cảnh, mà đạt đến Niết Bàn. Giới cũng giống như pháp luật của quốc gia. Quốc gia có pháp luật, mọi người tuân thủ pháp luật, xã hội mới có thể tốt đẹp, hòa bình, an lạc. Cho nên nói rằng “giới mà không giới”.

Giới là dẫn dạy chúng ta tránh sao để khỏi phạm lỗi lầm, và cảnh tỉnh chúng ta nếu vượt qua phạm vi giới luật, phải chịu sự báo ứng của nhân quả. Giới không phải là dùng để trói buộc người tu hành. Là giống như pháp luật của quốc gia, là muốn chúng ta chẳng nên phạm, nếu phạm rồi, thì sẽ phải chịu sự khống chế, khiến cho anh phải chịu sự báo ứng của thân hiện tại.

Giới, không những biểu hiện quy củ mô phạm của hành vi tình cảm đối với con người mà còn biểu hiện quy củ mô phạm của sự thật và tư tưởng đối với con người.

Cuộc sống ngày thường của chúng ta tuỳ tiện một câu nói, một việc làm có thể khiến chúng ta cao hứng, cũng có thể khiến chúng ta giận dỗi, đều là do người khác nắm giữ chúng ta, ngay cả ưa, giận, buồn, vui cũng đều không có cách nào đối trị, tu hành làm sao có sự thành tựu!

Ðệ tử Phật cần phải khéo hộ giữ giới luật, không như vậy thì ở nơi giới pháp tức khiến có sự rò rỉ mà lọt mất, cũng có thể khiến cho hành giả trở lại nơi biển khổ sinh tử đoạ lạc luân hồi không thôi, đây là tánh trọng yếu của giới luật, người có tâm học Phật tu hành không thể không xem trọng giới luật.

Giới, là đình chỉ cái ác, thì tại sao là ác? Phàm là bồng bột ở nơi luân lý xã hội và lương tâm đạo đức, trái phạm pháp luật quốc gia, tức là ác; tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi làm tổn hại chúng sinh, tức là ác, trái phạm mười thiện nghiệp tức là ác.

Trì giới lấy sự “nhiếp tâm” làm gốc, thân và miệng tuy không phạm giới mà tâm buông lung, chẳng gọi là trì giới, ắt cần phải thu nhiếp tâm ý, thân và miệng cố không phạm, vọng niệm cũng không sinh, mới gọi là trì giới. Trì giới tức là thủ phép, giữ quy củ, giữ trật tự. Không chỉ là giữ năm giới, mười nghiệp thiện.

Nhiếp tâm không động như gió ngừng sóng lặng. Nghe được thấy được cái gì tốt, cái gì xấu đều không mong muốn. Một khi muốn thì tâm liền động, chẳng thể yên tịnh, không tịnh thì chẳng thể định, không định thì huệ không phát.

Người bước đầu nghe Phật pháp, phần nhiều sanh tâm sợ sệt, nói rằng: “ái ái da, Phật pháp nghiêm quá! Thế này cũng phạm giới, thế kia cũng phạm giới!”; cho nên hãi sợ, chẳng chịu thọ giới, chẳng chịu trì giới. Nếu trong lòng không giữ tâm riêng tư tự lợi, không giữ niệm tâm tổn hại chúng sinh, có gì mà sợ lắm vậy! Pháp luật quốc gia nhiều như thế, anh không phạm luật, pháp quan làm gì được anh, anh không phải là sống tự do tự tại sao? Trì giới, thọ giới, có gì mà sợ lắm vậy? tức là sợ anh không muốn làm người tốt, nên mới sợ thọ giới! Cách thường nói, sáu đường chúng sinh là đồng đẳng đối đãi cũng còn tốt, tức là khổ – vui không phải một kiểu; nếu học Phật mà không trì giới, một khi mất thân người, rơi rớt trong ba đường ác chịu khổ, thế mới đáng sợ! Trì giới chính là “thuốc kim đơn” cứu pháp thân huệ mạng của chúng ta. Nếu hiểu rằng sinh tử có số phần đã định, đó là con ma cháu ma. Nếu không cam tâm đoạ lạc trong ba đường ác, thì nên cẩn thận trì giới! Giới vốn không dễ trì, vì không chạy theo thế tục, nên phát không được tâm trì giới. Trì giới cũng giống như rèn sắt, nung rồi nung, đập rồi đập, bỏ những sái vụn (sái vụn tức là tập khí) thường thường đưa vào lửa, thường thường đập rèn... đâu phải làm một cái là xong sao? Ngồi dưới tam bảo của Như Lai, đều không ăn thịt, ngay lúc ban đầu không phải là không muốn ăn đâu! Nhưng tập lâu rồi không ăn được. Nếu tâm niệm một khi sinh ra tức liền quở trách, như rèn sắt đánh hết những sái vụn. Tất cả đều là từ từ mà mài luyện, thọ không được miễn cưỡng thọ, trì không được miễn cưỡng trì, chẳng sợ trì không được mà chỉ sợ không phát tâm. Chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, đưa chung ra không phải e dè chúng ta phạm giới, nhưng các thần hộ giới, họ thì không dung cho người phạm giới. Phạm nhiều không bằng phạm ít, phạm ít không bằng chẳng phạm. Chư Phật, Bồ Tát từ bi với chúng ta, tự chúng ta không từ bi với mình.

“Thọ được giới”, thì cần phải nhận rõ vấn đề “trì giới”. So như anh không sát sinh, anh muốn là không thọ giới, anh không sát sinh thì là không tạo lỗi xấu, đành vậy, nhưng anh cũng chẳng tạo công đức gì khác, anh lại không cứu người, anh có công đức gì? Những việc anh thọ năm giới, anh không sát sinh, anh cũng có công đức trì giới. Ngược lại mà nhìn, nếu là người không thọ giới, giết người rồi tức là một tội báo, anh thiếu người ta một mạng, tương lai sẽ phải trả người ta một mạng. Anh giết con vật mà ăn, tương lai người ta sẽ đem anh ra giết thịt để mà ăn, đây là bình đẳng; nhưng không có tội phá giới. Nếu là thọ giới rồi, sau khi anh bắt vịt để giết thịt ăn rồi, đời sau anh bị biến thành vịt bị người ta giết ăn, ở đây anh còn thêm một tội phá giới. Tội phá giới thì càng lớn nhiều, cho nên trì giới tức là thế này, anh trì được ổn định, công đức rất là lớn.

Trong vấn đề phạm giới, điều rất tệ hại là phỉ báng pháp. Ví dụ như Phật pháp là giả, vấn đề huỷ báng này chúng ta chẳng nên, nhưng chúng ta vẫn cứ huỷ báng. Anh nói theo người khác, nói kinh điển nào là giả, hiểu rõ người nào là thiện tri thức, có người chê bai người khác, anh theo nơi cái nghe phụ hoạ nói người khác là thiếu công đức; đây đều thuộc về vấn đề huỷ báng. Khoe khoang không khác gì là tăng thêm sự huỷ báng, giữ trong lòng không nói ra là giảm ít sự huỷ báng, tội của sự huỷ báng rất là nặng.

Ðối với giới, người thọ giới rồi nếu làm việc xấu thì thảm hại hơn nhiều so với người chẳng thọ giới. Cho nên chúng ta thọ giới rồi không thể không hiểu rõ về giới. Cần giữ gìn không phạm. Giới bị phá rồi, anh cũng như vật bị lủng lọt. Như cái bát bị lủng, đổ nước vào một hồi sẽ chảy mất hết. Cho nên “kiên trì giới luật”mấy chữ này phải ráng ghi nhớ lấy trong lòng.

Không giữ cấm giới, thì chẳng thể giữ tâm, không tu trí tuệ, buông lung ý niệm, chỉ cầu danh tốt, không thuận lời dạy đạo, chẳng chịu siêng năng ưa chuộng nghĩa độ đời.

Nhưng mà giới luật của Phật giáo rất nhiều, như là Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới... rất cơ bản là năm giới, chúng tại gia trì năm giới mười thiện nghiệp.

Trì giới quyết cần phải không thời khắc, tuỳ thời tuỳ chỗ đều nên phải sinh khởi chánh niệm (niệm chánh đáng), quyết cần phải dứt khoát đủ niệm đầu và lý tưởng chân chánh, nên lấy đại từ và đại bi làm nguyên tắc, do đó ở trong tình huống xấu ác niệm không theo đó mà sinh khởi, tự nhiên có thể ngăn dừng ý nghiệp; đã không có ý nghiệp, tức không có thân nghiệp và khẩu nghiệp, ba nghiệp tức được thanh tịnh.

C. NHẪN NHỤC

Nhẫn là tâm có thể nhẫn, nhục là cảnh được nhẫn. Tức là nhẫn nại tất cả khổ đau, chịu được sự khinh khi lăng mạ, không tranh đấu với người khác. Thường tình rất là khó nhẫn, chẳng gì bằng bị hiếp đáp nhục nhã, nhục mà nếu có thể nhẫn, thì nhẫn với cái khác so ra cũng dễ làm được. Ðối với sự nhục mạ gia hại của người khác, không sinh tâm sân hận, gọi là nhẫn nhục. Nhẫn nhục cũng là nhẫn nại, không luận làm công việc gì, đều cần có lòng nhẫn nại.

Nhẫn nhục: đối với việc lợi dưỡng, suy tàn, chê bai, khen ngợi, xứng ý, quở trách, khổ não, vui vẻ – tám việc ấy đều để ra bên ngoài, đối việc trái ngược tâm tư, đều an tâm nhẫn chịu, tức gặp người chửi mình, đánh mình, thậm chí giết mình, nên giữ lấy sự báo ơn ở nơi tâm Bồ Tát, xem những việc này, dùng để tiêu trừ nghiệp chướng đời trước của ta, giúp nhân duyên cho ta thành Phật, lại nữa Bồ Tátcũng chẳng phải giả trau chuốt diện mạo bên ngoài, bướng bỉnh chịu lấy sự ăn thiếu thốn, để rộng chứa danh nhẫn có thể so sánh.

Pháp môn nhẫn nhục, từ cạn đến sâu có năm việc không đồng:

1.Sanh nhẫn:

Tức là mỗi khi bị nỗi nhục đến, không cách chạy trốn, không cách chống cự, chỉ nên kiên cường một lòng nhẫn nại với nó, nhưng tâm lý cảm thấy khó thọ nhận, đau khổ mười phần, cho nên gọi là sanh nhẫn.

2.Lực nhẫn:

Chúng ta đối với nỗi nhục khi nó đến, không để cho người khác bàn bạc, dùng sức khả năng rất lớn, lui một bước, nhường ba phần, đem nó đè ép xuống, một lòng xưng niệm danh hiệu Phật, nhờ sức từ của danh hiệu Phật, đem tâm phẫn hận mà an định, cũng giống như đè bình hồ lô trên mặt nước, chẳng thể buông tay, một khi buông ra thì hồ lô lập tức nổi trở lại, nên gọi là lực nhẫn.

Hai việc nhẫn trên đây gọi là sự nhẫn

3.Duyên nhẫn:

Ngay lúc nỗi nhục hiện ra, chúng ta dùng trí tuệ một mực “hồi quang phản chiếu” (chiếu rọi lại tự thân tâm mình), tu phép quán nhân duyên. Chín chắn mà nghiên cứu vì sao vô cớ lại chịu nhục, bị đòn, bị chửi mắng, trong đó nhất định có những nguyên nhân. Bị ngừơi hiếp đáp làm nhục đều là nhân duyên đời trước mà quả ác bây giờ cảm chiêu lấy, nên đời này theo nghiệp mà thọ báo. Là cho ý tưởng thọ báo trở thành ý tưởng trả nợ, tự nhiên lấy nỗi nhục khó có thể nhẫn thọ, ngược lại là thọ một cách thuận tiện, tâm tình thoải mái, không sinh sân hận, cho nên gọi là duyên nhẫn.

Người xưa nói rằng: “có tâm bao dung thì đức mới lớn, không tham muốn thì khí mới trùm”.

4.Quán nhẫn:

Mỗi khi ngay lúc nỗi nhục phát sinh, thì dùng trí tuệ “không quán” ra để mà chiếu rọi quan sát, rõ được tâm, thân, thế giới, tất cả các pháp, xưa nay “vô ngã” để được (không có cái gì ta có thể được). “Ngã” là không, thì trong đó còn có ngã nào bị hiếp đáp nhục nhã ư?cho đến cảnh giới bị nhục? Ðây tức là “tướng ngã” có khả năng KHÔNG và “nỗi nhục” được KHÔNG, cả hai cái hoàn toàn là KHÔNG, cho nên “tướng nhục” ở khoảng giữa, đương nhiên cũng là trọn không thể có được. Cũng vậy, tâm sân hận của muôn việc ác đó tự nhiện sẽ không thể phát sinh. Cho nên gọi là quán nhẫn.

5.Từ nhẫn:

Bồ tát mỗi khi gặp nỗi nhục đến, không những không sinh tâm sân hận, mà ngược lại phát tâm từ bi, thương xót nghĩ tưởng người này thực tại ngu si đáng thương, vô lý chuốc lấy ồn ào, vọng sinh nhánh nhóc. Hiện tại đánh chửi, làm nhục ta, ta có thể nhẫn thọ, như không có việc đó, chẳng thể báo trả lại. Nếu đối với người khác mặc ý huỷ nhục, nhất định phải chịu đến lúc đáp trả lại, chửi nhau, đánh nhau, đây kỳ thật cũng tức là mượn miệng người khác chửi mình, mượn tay người khác đánh mình. Càng nghiêm trọng thậm chí phát triển đến thương tật tàn phếnhân mạng, chịu lấy sự phán xét của pháp luật, tương lai khó trốn khỏi sự báo ứng của nhân quả, do đó khởi “vô duyên đại từ” phát xuất “đồng thể đại bi”, tuỳ nghi phương tiện giáo hóa, khiến cho người khác hiểu rõ qua lại, biết lỗi phải sửa đổi, dứt ác tu thiện, cho nên gọi là từ nhẫn.

Ba món nhẫn này gọi là lý nhẫn.

Nhẫn nhục không những là nhẫn cái nhục của người khác đem đến cho mình, đồng thời càng phải nhẫn cảnh chính mình gặp gỡ. Nếu ở trong nghịch cảnh khốn cùng bệnh khổ, nhẫn khiến cho niệm suy đồi, thấp hèn không sinh; ở trong thuận cảnh giàu sang, nhẫn khiến cho niệm kiêu căng, mê đắm không khởi; ở trong thường cảnh không thuận không nghịch, muôn pháp sinh diệt, nhẫn khiến cho niệm dời theo sự di dịch không sinh, chịu sự hiếp đáp nhục nhã không sinh sân hận, gặp sự khen ngợi không sinh hoan hỉ.

Nhẫn nhục không chỉ là nhẫn sụ hiếp đáp nhục nhã, giết hại, hai cảnh thuận nghịch trên tâm lý, mà cần phải nhẫn đói khát, lạnh, nóng, thương đau, các khổ trên sinhlý. Nhẫn nhục là chiến đấu cùng với phiền não của nội tâm, phiền não từng lúc máy độngở nơi tâm của ta và người, nếu một lòng không chịu nhẫn, tức phiền não sẽ chiếm cứ vị trí trên tâm của người ta.

Nhẫn nhục chủ yếu bao hàm: 1. Tâm nhẫn nhục phi thường. 2. Nghị lực kiên cường. 3. Xa lìa phẫn nộ. 4. Xa lìa tất cả xung động. 5. Lúc chịu nhục có thể vượt khởi tâm khoan dung tha thứ.

Ðây là năm món nội tâm nhẫn nhục, mới là nhẫn nhục chân chánh. Quyết cần phải phát khởi tâm từ bi từ nội tâm, khoan thứ tất cả, nếu như việc khởi tâm sân hận thì khổ não khó mà kham chịu.

Nhẫn nhục là một loại biến chiến tranh thành giao hảo, biến hung ác thành tốt hòa, tiến đến hiện bày đại từ đại bi, đồng thời cũng là pháp môn chủ yếu”trên cầu phật đạo, dưới giáo hóa chúng sinh”.

Nhẫn nhục là: nhẫn cái khí, nhẫn cái khổ và nhẫn cái vui.

“Nhẫn cái khí”, là nói ngay người khác hiếp đáp nhục mạ, làm tổn thương, chẳng khởi tâm oán hận, phẫn khí. Không đi kể lể, không khởi tâm trả báo, chẳng cùng đối phương thường hay gặp biết, là muốn lui một bước, bất kể người khác đối với ta như thế nào, đều cần phải nhẫn cho được, tức là chẳng nên phát nóng giận, thêm nữa dùng tâm từ bi để nhìn và tiếp đãi đối phương, vui vẻ hít vào mà tiêu mất khí nóng; Như người đời: bôi nhọ, khinh khi, làm nhục, chê cười, dối gạt, khinh tiện, ghét... các việc đối với ta, phải có cách gì? Nhẫn nhịn, chịu đựng, tránh né, cung kính, không lý sự đối với họ; đây gọi là cái nghịch đến mà thuận thọ nhận, không nên châm chọc với nhau, mới là nhẫn khí.

Người đời hiếp đáp nhục mạ ta, chê bai ta, là tự mình còn có khuyết điểm,nên phản tĩnh tất cả việc làm của mình, nếu có khuyết điểm thì dốc sức sửa đổi để tiến bộ. Lúc chịu nhục còn cảm được vận may, cảm tạ người ta xét nghiệm ta, khiến ta có cơ hội tu “nhẫn nhục”, cảm tạ họ cho ta tiêu được tai ách. Anh nhẫn rồi, việc không còn, được thái bình. Nếu nói ta cũng nhẫn không được khẩu khí này, như thế ta làm sao? Cần phải có cái tư tưởng như thế này: họ chửi ta - còn tốt không đánh ta, họ đánh ta - thật là vận may họ không giết ta, ngón tay bị đâm một cây gai - còn may mắn không đâm trong tròng mắt, thì chẳng thể buồn bã hay giận dữ được. Nếu gặp lúc giận, thì phải nhẫn, biến nhẫn thành tha thứ, tha thứ rồi tha thứ! Cần chuyển xoay tư tưởng đến chỗ tốt đẹp, nếu chuyển đến chỗ xấu xa, thế thì thảm lắm, khổ não nhẫy đầy!

Nhẫn khí, không phải là nhẫn thọ, càng không phải là đem cái khí căm phẫn, buồn phiền ở trong tâm mà đè nén ức chế chính mình; mà là đối cảnh (chẳng hiểu được) có cảnh, đây mới gọi là nhẫn khí, như người khác chửi ta, mà không hiểu họ đang chửi ta, mà họ đang chửi chính mình, hoặc là đang biểu diễn ca múa.

“Nhẫn cái khổ”, là nhẫn áo mặc, đồ ăn, ở, đi, lạnh, nóng, đói, khát, bệnh, đau... các điều khổ. Ăn được no, mặc được ấm, ở có nhà, đây không kể là khổ. Ăn, chủ yếu là bụng không đói, miệng không khát, có thể duy trì được thân thể khỏe mạnh, có sức sống, có khí lực. Ăn vật ngon dở là xem đối với sức khỏe của thân thể được lợi ích lớn hoặc nhỏ để phân biệt đó là ngon hay dở, không phải là phân cao thấp ở trên giá trị và cách thức, nghĩa là giá tiền cao là tốt mà giá tiền thấp là không tốt. Áo, đồ nhãn hiệu, đồ mặc đẹp dùng để đi lại, mà y phục phổ thông cũng là đồ mặc; áo chủ yếu là để chống lạnh che thân. Ở, nhà to hoa lệ gọi là chỗ ở, mà nhà nhỏ bình thường, nhà lá cũng là chỗ ở; ở chủ yếu là ngăn gió che mưa, không rọi mặt trời, tối đến ngủ được.

Người học Phật tu hành ở trên cuộc sống vật chất là làm sạch nỗi khổ, tuy nhiên có tiền, có địa vị trên xã hội, có danh vọng, cũng không thể giống như ngoại đạo làm ra vẻ của chốn phồn hoa như thế, bày biện giàu có, chạy theo mốt, chất đầy cửa, ưa sĩ diện. Ăn, không cầu sơn hào hải vị, miệng muốn hưởng thụ. Áo mặc, không cần áo lụa hàng bông hoa. Ở, không cầu lầu cao nhà lớn.

“Nhẫn cái vui”, là ngăn trừ tất cả vật phục sứctrên thân và hưởng lạc trên cảm quan, như không hút thuốc, không uống rượu, ít giao tế qua lại, chẳng ca múa xướng vui, chẳng bước chân tới chỗ trường hát, cờ bạc, ngay cả ti vi cũng ít xem, để tâm khỏi bị tán loạn không chuyên nhứt, ngăn ngại việc tu hành. Có tâm dục lạc, tâm cũng không dễ gì yên tĩnh, tâm không yên tĩnh làm sao có thể định. Cuộc sống bình thường không cầu buông thả và khoái lạc, thì cũng không ưu não và cũng không sợ sệt.

Nhẫn nhục, nhân vì tập khí nên nhất thời khó nhẫn nại, chỉ cần hạ quyết tâm, có nghị lực, có tâm thường xuyên, thì có thể làm được thôi.

D. TINH TẤN

Tinh tấn, không xen tạp, gọi là TINH, không thối lui gọi là TẤN. Ý của tinh tấn là: tinh là tinh thần, chỉ tâm không xen tạp cái ác. Tấn là không thối lui, không giãi đãi, không buông lung, là ý nói sự nỗ lực, đủ có ý chí kiên cố, chỉ có sự cố gắng tiến tới trước không dứt, không có tâm lùi về sau, nghịch lý và ý chí có thuỷ có chung.

Tinh tấn; phàm người tu hành Phật đạo, như nông phu làm ruộng, không nên sợ cần khổ, mới có thể có thu hoạch; lại như người buôn kinh doanh sự nghiệp, không được gián đoạn, mới có thể được lợi. Nông phu nếu sợ khổ thì ruộng kia sẽ bị hoang phế, người buôn nếu bị bể việc thì làm sao có thể mong doanh nghiệp được lợi, đạo lý trong đây mọi người đều biết. Tu học đạo, nông phu làm ruộng và người buôn bán, là một kiểu đạo lý, nên chẳng được làm biếng, không được gián đoạn. Ở ngay trong vô lượng pháp môn, điều phải nên là “thâm nhập một cửa”, mới có thể thành tựu. Nếu muốn các cửa đều học, là tuyệt đối không thể thành tựu được. Các cửa đều học, đó là việc sau khi “một cửa” thành tựu, một cửu thành tựu rồi, thì vô lượng pháp môn khác một khi xem, một khi nghe lập tức đều thông đạt hết.

Tinh tấn có thể đối trị ma chướng giãi đãi (lười biếng), phá phiền não ác, trừ các phép ác, não phiền, bức bách.

Người tinh tấn ở trong vấn đề dứt ác tu thiện mạnh mẽ cố gắng, vì thể tánh đối trị biếng lười, hoàn thành đầy đủ việc thiện để làm chỗ dùng của nghiệp.

Cho nên “đoạn ác tu thiện”, trước tiên chỉ cần đoạn trừ tất cả pháp ác, siêng tu tất cả pháp thiện, mới có thể đạt đến chỗ gọi là “tinh tấn”, dõng mãnh mạnh mẽ. Ðó chỉ là dứt các pháp ác đã có, mà trong tu thiện quyết cần phải trực tiếp dứt trừ, ý chí kiên cường đã tinh càng muốn tinh thêm, không ngừng gắng tiến về phía trước, vì không sợ khó, không sợ khổ, và quyết xả tinh thần lớn mạnh có thể xả, mới có thể đối trị được giãi đãi, và làm cho tròn đầy một cách tích cực tất cả việc thiện thế gian và xuất thế gian. Chỗ gọi rằng: “hoàn thành đầy đủ việc thiện” là chỉ cho trong quá trình tu hành, cần phải tích cực nơi việc thiện để khắp độ chúng sinh.

Tu tập Phật pháp, không có thể lúc làm lúc nghỉ, hôm qua như vậy, nay lại là như vậy, tu hàng ngày - tu hàng năm - tu trọn đời, không nên quá gấp, không phải một năm hay muời năm thì có thể tu xong, quá gấp dễ sinh mỏi mệt nhọc nhằn, làm thương tổn sức khỏe, cũng không nên quá kéo dài, nhiệt tình chỉ có năm phút, ngày nay không tu còn có ngày mai, năm này không tu còn có sang năm, kéo dài quá, dễ khiến thân tâm biếng lười buông lung, trong tất cả nên phải thích ứng. Tinh tấn như giọt nước chảy lâu làm xuyên đá núi.

E. THIỀN ÐỊNH

Thiền định độ cho sự tán loạn: chúng sinh thì tâm tính tán loạn, vọng tưởng lăng xăng, tâm như vượn, ý như ngựa, luôn nghĩ đến sự ruổi dong, từng sát na dừng niệm, sinh niệm, niệm niệm không dừng, nên tu thiền định để thoát thân tán loạn.

Thiền định tức là đem tâm này an trụ, không buông thả nó tản ra, nghĩ đông nghĩ tây tạp loạn không rõ ràng.

Thế nào gọi là thiền? Tức là nhất tâm xét vật là thiền. Thế nào gọi là định? Tức là tĩnh lặng tư duy một cảnh là định. Ý nghĩa và mục đích chân chánh của thiền định là ở trong “tịnh lự” (tĩnh lặng tư duy) tập trung tinh thần, thống nhất tư tưởng, trừ bỏ tất cả vọng tưởng tạp niệm, tình tự không xung động, cảnh tịch tình không, thoát ly thế giới huyễn tưởng chủ quan, mà nhập vào thế giới an bình tĩnh lặng chân chánh.

Thiền định, mục đích chủ yếu là “nhiếp các tâm loạn”; do vì con người ở nơi cõi dục, chỗ chỗ tâm loạn nhẹ thổi, có lúc như lông chim hồng bay lên, đều là dong ruổi phân tán không dừng, chẳng thấu rõ sự chế ngự của thiền, chẳng dễ gì được định, chỉ có thấu suốt thiền định, mới có thể triệt để rửa hết và tiêu diệt ma chướng tán loạn trong tâm, ma được trừ bỏ, trí huệ tự nhiên tăng trưởng. Chỉ có thấu suốt thiền định - tịnh lực, mới có thể giải thoát phiền não căn bản của sinh tử, cũng tức là nói “thiền dịnh có thể thống nhất tinh thần - dừng, lặng, yên, định, sau tiến đến mà thay đổi, chuyển tĩnh lặng để đoạn trừ các chướng mê hoặc: tham, sân, si, mạn, nghi của nhân loại”. Cản trở phiền não xâm lấn, không bị trở lại cái mê, cái hoặc của ngoại cảnh, không theo cảnh mà khởi sinh diệt.

Thiền định tức là lìa tất cả tướng ở bên ngoài, tâm tánh bên trong không loạn. Nếu chấp trước tướng của ngoại cảnh, tâm tánh bên trong cũng sẽ hỗn loạn. Có thể lìa được tất cả các tướng ở bên ngoài, tâm tánh ở bên trong cũng có thể bất động.

Tâm niệm đối với tất cả cảnh giới thiện ác không khởi, tịnh không phải là chỉ giống đầu đá, người gỗ không hay không biết khi đối mặt với ngoại cảnh, mà là niệm không chấp trước. Gặp duyên đối cảnh, lý vả đáng có chỗ phản ứng vẫn vậy có chỗ phản ứng. Ví như lái xe trên đường, gặp đèn đỏ thì dừng, đèn xanh thì đi, tâm không trở ngại, tức là “ứng với không chỗ trụ mà sinh tâm đó”. Nhưng phải thiết tha mà nhớ rằng: ứng với không chỗ trụ mà “không” sinh tâm đó, như thế càng hay.

“Ứng với không có chỗ trụ mà sinh”, cũng chẳng qua là niệm niệm không chấp trước mà thôi! Con người, xưa nay là Phật, ngược lại nhận đồng với mình là phàm phu, trái lại cho là Phật cao không thể vin tới được! Chỉ có đả phá chấp trước nhận thức mình là phàm phu, bản lai diện mục của Phật mới có thể “nước trong cá hiện”, nếu như nhất định có chỗ chấp trước, thì không được nhận đồng: tự mình là Phật.

Người bước đầu học tập Phật pháp, thô tháo náo loạn ở nơi tâm rất nhiều, định lực không đủ, trong một sát na niệm trước diệt, niệm sau khởi, niệm niệm liên tục với nhau, trọn không dừng dứt, nên phải khởi được chánh niệm, từ từ có thể khiến cho tâm niệm thanh tịnh, mà đạt đến vô niệm; công phu này việc cần thiết là phải chu đáo tỉ mỉ, thời gian lâu, mới có thể vào định, đạt tới cảnh giới vô niệm. Tốt xấu, chê khen, mừng giận đều không khởi tâm động niệm, mới có định lực.

Niệm Phật cũng là một phương pháp thiền định. Có thể niệm cho tới khi miệng không niệm mà tâm ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, niệm Phật có công phu rồi, cách “niệm Phật tam muội” không xa.

F. TRÍ HUỆ (Bát Nhã)

Trí huệ được chứng đắc từ thiền định, tức được gọi là: trì giới mà được định, từ định mà phát huệ. Nhưng trí huệ này tịnh mà không phải là trí hữu lậu: thông minh, đa văn, bác học của người đời; mà là chánh trí viên dung vô ngại. Trí tuệ này có khả năng chiếu phá tất cả khách trần phiền não, hiển bày bản tính chân như rõ biết tất cả chân tướng của vũ trụ. Có được trí huệ đối với tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, vạn tượng vũ trụ, là không chỗ nào chẳng biết, không chỗ nào chẳng hiểu, có thể thông đạt sự lý, phân biệt thị phi, phá trừ các món mê hoặc. Chính xác rõ hiểu chơn tướng các pháp và khế hợp nhận thức chính xác của chân lý, vì sao có thể làm, rất rõ ràng nên lời nói cũng viên dung.

Tu sáu pháp Ba La Mật quyết cần phải cùng giúp cùng làm, không được thiếu một pháp. Vì huệ mà không có định chưa có thể thọ dụng, định mà không có huệ chưa khỏi trầm mê, mà chẳng trì giới bèn trở ngại cho việc chứa nhóm thiện pháp. Ba món học gồm đủ mà không bố thí lại không thể nhiếp hoá chúng sinh, bố thí mà không tu ba món học thì chỉ trồng phước báo trời, người. Trì giới mà không nhẫn nhục thì khó điều hòa khí sân nhuế. Có tinh tấn mà không có các pháp (độ) khác thì luống uổng công phu. Có các độ mà không có tinh tấn thì ban đầu siêng năng mà sau giãi đãi. Cho nên nhất định phải sáu độ cùng tu, mới có thể hành hai việc lợi (tự lợi, lợi tha) của hàng đại thừa Bồ Tát một cách viên mãn.

Hành giả tu Bồ Tát, ngoài việc siêng tu trì sáu độ BaLaMật ra, còn cần phải hành “ Bốn phép nhiếp”, mới có thể vào sâu trong nhân loại mà cứu độ chúng sinh.

G. BỐN PHÉP NHIẾP

Bốn phép nhiếp tức là: Bố thí nhiếp - Ái ngữ nhiếp - Lợi hành nhiếp - Ðồng sự nhiếp.

Bố thí nhiếp: Nếu khắp độ chúng sanh quyết cần phải đi sâu trong nhân sinh, tiếp cận cùng với người được độ thì mới có thể đạt đến nguyện vọng của mọi người

1.Bố thí nhiếp: Là đối người nhu cầu tiền tài dùng “tài” để bố thí; đối với người cầu biết tâm làm trọng thì dùng “pháp” để bố thí. Thích hợp với thời gian, không gian đầy đủ nhu cầu của chúng sinh, khiến cho tâm kia được hoan hỷ, do cảm cái ơn mà tiếp nhận sự giáo hóa, mà đạt được mục đích hóa chúng sinh.

2.Ái ngữ nhiếp: Thường đối với người nói lời hòa vui từ ái, lời nói hài hòa đáng thân, khéo nói tiếp đãi với người, nói lời mà khiến người nghe sinh tâm hoan hỉ, nguyện ước muốn nghe, cũng vì đạt đến mục đích hóa độ chúng sinh. Ái ngữ không phải là lời nịnh hót, hoa mỹ hoặc nói dèm pha.

3.Lợi hành nhiếp: Dùng các việc làm của thân, miệng, ý đều có lợi cho người, toàn tâm toàn ý vì mọi người mà phục vụ, khiến cho họ vui vẻ, cam tâm tình nguyện cùng tu đạo Phật, nương theo lời dạy mà vưng làm, cũng vì đạt đến mục đích độ người.

4.Ðồng sự nhiếp: Vào sâu trong xã hội, công tác cùng với mọi người, cùng sinh hoạt, gần gũi với nhau, khiến cho bên kia bên đây tình như thủ túc, ở nơi hoàn cảnh khế cơ họp duyên mà hóa độ họ.

Thông thường nói rằng: Bồ Tát vì thành tựu Phật đạo tối hậu mà tu: Sáu độ “Balamật “ và pháp môn lợi tha “bốn phép nhiếp”; Quyết cần phải lấy “bốn tâm vô lượng” làm căn bản, mới có thể chân thật phát huy mục tiêu lợi tha.

12. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

Tâm vô lượng là không có phép hạn lượng, ý là rất khó mà giới hạn suy lường. Bốn tâm vô lượng còn gọi là “bốn đẳng tâm”. Ý là chỉ lấy tâm bình đẳng mà không sai biệt để giáo hóa lợi ích tất cả chúnh sinh. Ở đây nói đơn giản như sau:

1. Tâm từ: Từ là chỉ niệm ái, tức cho ta an lạc. Tức là nghĩ yêu chúng sinh mà cho chúng sinh an lạc.

2. Tâm bi: Bi - là chỉ sự thương xót, tức là tâm dẹp đi khổ. Cũng là nghĩ thương chúng sinh chịu các điều khổ, mà thường ôm lòng bi, cứu giúp chúng sinh thoát ly khổ đau.

3. Tâm hỉ: Thấy người ngăn ác làm lành, sinh tâm hoan hỉ; thấy người lìa khổ được vui, sinh hoan hỉ; tâm nầy khắp duyên nơi chúng sinh.

4. Tâm xả: Xả là bỏ xả tâm từ, bi, hỉ đã làm, đều không để ở trên tâm, xả mà không còn dính mắc, oán, thân, ghét, yêu thảy đều buông bỏ.

Vui vẻ cùng chúng sinh gọi là Từ, cứu khổ chúng sinh gọi là Bi; thấy chú ng sinh lìa khổ tâm sinh vui sướng gọi là hỉ; Một mực bình đẳng đối với chúng sinh, kẻ oán người thân đều xả mà không còn dính mắc gọi là xả. Tu trì bốn tâm trên còn khả năng: không sinh chấp trước.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn