Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

(04)

26/04/201318:43(Xem: 2436)
(04)

PHÁP MÔN
Trì Danh Niệm Phật, Vãng Sanh Cực Lạc

Tác giả:Huỳnh Lão cư sĩ

Hải Huyền Viên Giáodịch

PL. 2545

---o0o---

CHƯƠNG I

(04)

13. TỰ TỊNH KỲ Ý (Tâm thanh tịnh)

“Tự tịnh kỳ ý” tức là tự tâm được thanh tịnh, tâm không động niệm. Không vọng tưởng, không tạp niệm, không phiền não, việc ác không nghĩ tưởng, việc thiện cũng không nghĩ, việc của hiện tại ( trừ việc đang công tác ) không nghĩ, không nghĩ việc của vị lai; Ðem muôn niệm tập trung nơi một niệm - chỉ niệm Phật. Có thể làm được như thế này tức là cảnh giới tâm bất loạn, không có công phu tương đương thì làm không được. Có thể làm được việc không có phiền não thì chỉ chánh niệm, không phải là tà niệm, chỉ có thiện niệm, không phải là ác niệm; Tức là đúng vậy.

Tâm thanh tịnh không phải là chỉ nói, nói thì không có thể làm được, có người tu đến vài mươi năm ngay cả một chữ “tham” cũng không quên được, một chữ “ái” cũng còn thường tại ở tâm đầu. Nếu muốn tâm được thanh tịnh, chẳng hạ một lần quyết tâm thì chẳng thể được! Có thể xả - là có thể xem cho rõ, buông cho rời; Nếu rốt cuộc ở nơi tình đời việc thế tục cứ lay chuyển, tâm làm sao có thể tịnh được?

Tâm thanh tịnh không phải là giống như người bằng đá, thế nào đi nữa đều không nghĩ tưởng; mà là nhất tâm chế ý, gặp việc không mê, chỉ có chánh niệm, không có tà niệm, tức là lúc ăn cơm nhất tâm ăn cơm, ăn rồi lại nghỉ ngơi, lúc công tác nhất tâm công tác, công tác rồi lại nghỉ ngơi, không đình trệ ở trên niệm đầu, không dừng giữ ở nơi niệm quán, cũng như chim bay qua bầu trời không để lại dấu vết.

Ví dụ như: Gặp có người đang bán chim, mà anh muốn mua chim để phóng sinh, nhưng tiền trong túi không đủ, việc mua không thành, trong lòng nghĩ rằng ngày hôm nay có thể mang nhiều tiền hơn một chút thì tốt hơn nhiều, đây tức là vọng tưởng. Lúc ăn cơm thì nói rằng đồ ăn của ngày mai ngon, đây cũng là tạp niệm. Con cái có việc ra khỏi nhà bảo nó về trước hai mươi mốt giờ, nhưng qua hai mươi hai giờ chưa thấy nó về, anh lại đợi nó mà không đi ngủ, tức là buông không rời. Gặp cảnh thuận thì cười híp mắt, gặp cảnh nghịch, bị cảnh chuyển mặt mày ủ rủ khổ sở, tức là phiền não.

Tu tâm thanh tịnh, nhất định cần hạ quyết tâm rất lớn, tâm thường xuyên tâm nhẫn nại, cũng tức là nói “đắm nhiễm tình đời” (nghĩ tưởng bận tâm về người, việc, vật của thế gian), chúng ta nên xả ly càng nhiều càng tốt, rốt cuộc cũng chẳng cần nghĩ tưởng bận tâm, đem cái niệm nghĩ tưởng bận tâm chuyển biến thành cái niệm: NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT; Ðem lợi ích nhà và thân của mình (thân là người gốc, nhà là gia đình của ta) cũng là khởi tâm động niệm, đều là cái niệm lợi ích cho nhà và tự thân (chỉ là nghĩ tưởng mình, không nghĩ tưởng chúng sinh) đem niệm đầu nầy chuyển biến làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, không nghĩ tưởng mình, thế nầy tâm chúng ta cũng thanh tịnh nhiều rồi; có thể làm được vấn đề khởi tâm động niệm chỉ là ADIÐÀPHẬT, tịnh không có niệm khác, nhất tâm chỉ có ADIÐÀPHẬT, không bị ngoại cảnh chuyển. Như vật tâm chúng ta cũng thanh tịnh.

A/ NHÌN RÕ – BUÔNG RỜI

Nhìn rõ, tức là nhìn xem tất cả giả tướng của thế gian, tất cả vô thường, như sinh không mang gì lại, tử không mang gì đi, có người khác cũng tốt, không người khác cũng tốt; người có tiền cũng là người, người không tiền cũng là người; người có tiền ăn nhiều cá nhiều thịt gọi là ăn no, người không tiền ăn rau xanh, đậu hũ cũng là ăn no; người có tiền nhiều người khác gặp đến nể mặt, người không tiền, người ta không gặp không nể mặt. Nhưng người có tiền có được bao nhiêu việc không khổ não buồn lo? Người không tiền tự mình nhìn thấy mình, không đi phân biệt có tiền hay không có tiền, tốt xấu được mất, không thể vì không tiền thì không có sĩ diện mà tự ti, cuộc sống được mãi vui vẽ, tự tại ở chỗ cảnh thuận thì vui, gặp cảnh nghịch cũng vui, tâm vui thì cảnh thường vui. Biết (tin) lý nhân quả thì “nhìn được rõ”. Bi thương, sợ sệt, buồn lo, bận tâm, tham lam, phẩn hận tức là nhìn không rõ.

Buông rời tức là không chấp trước: người, việc, vật các món của thế gian, như tiền vàng, tài sản, người thân, nam nữ, ăn uống, ngọc ngà châu báu, bảo vật... Không đem nó mà để ở trên tâm, có cũng như không, chẳng mong ngóng nó, chẳng vì nó mà bận tâm, so tính lo buồn.

Ðem người, vật, việc của thế gian từng cái, từng cái nắm trên tay mà quẳng đi, buông đi buông càng nhiều càng nhẹ, buông càng triệt để thì càng không bận tâm, cái đồ ở trong tâm không còn (hiện thực thì hãy còn) chỉ là trong tâm không có nó mà thôi, tâm mới có thể bình tĩnh, bình được tâm thì mới đầy đủ, đầy đủ thì mới buông được rời. Việc hôm qua không hối, không oán, việc của ngày nay không tham không cầu, việc của ngày mai không lo không sợ.

Nhìn cho rõ, tức là nhìn tất cả giả tưởng, tất cả vô thường của thế gian, đây có thể học tập từ trong văn tự, lời dạy trong kinh điển rất nhiều đạo lý của phương diện nầy đều đưa ra cho chúng ta “nhận thức nhìn được rõ”.

Nhưng buông cho rời, cũng không đơn giản, nói thì dễ mà làm thì rất khó, không có niềm tin kiên cường, càng không nên phí một phen, cố sức mới có thể dẹp thoát sự ràng buộc kìm hãm này; như gặp lúc khó khăn trọng đại, ô nhục hoặc vấp ngã, hoặc những việc không như ý, thì nên không có ngày tiếp tục trở lại việc này.

Buông cho rời tức là buông rời việc thế gian như: tham, sân, si, mạn, nghi, như tiền bạc, tài sản, sự nghiệp, người thân... của chúng ta; Nói chung là căn tánh thấp hèn của con người, việc này thì không dễ dàng. Nếu đối trị với căn tánh thấp hèn này thì cần dùng một cái khác “Tịnh”, để đối trị. Như bố thí, trì giới, sám hối, những việc này không phải là lý Phật cao siêu, tức là cần việc làm. Cũng như bố thí, tức là đối trị tham dục, bố thí càng lớn, càng triệt để, thì càng có thể giảm thấp đi dục vọng của con người, tâm tình sẽ ngày càng nhẹ nhàng sảng khoái, cảm thấy nợ nần ít đi, trong lòng thoải mái, đây tức là kết quả của việc làm bố thí. Ngược lại, nếu bố thí rồi mà khiến cho anh càng thêm chấp trước công đức, rồi truy cầu, tham đắm danh tiếng của bố thí, hư vinh đầy đủ cho tự tâm, đây cũng là biểu thị trạng thái của tâm không đúng rồi, đây cũng là “buông không rời”. Ngoài ra những việc khác như trì giới thì phải thanh tịnh, nếu như không có thì phải điều chỉnh thêm nữa, lý tánh thì nhiều, cảm tánh thì ít, hoặc là bài trừ tâm sở cầu mà làm việc thiện.

Buông được rồi, cần tâm đầy đủ, tâm đầy đủ mới có thể buông được, tâm đầy đủ là tâm địa tự bình. Tâm không đẩy đủ là buông chẳng rời, như không có tiền thì muốn có tiền, có tiền rồi lại muốn có nhiều hơn, càng nhiều càng tốt, tâm làm sao có thể bình. ( Tâm đẩy đủ không phải là đầy đủ cho tâm tham vọng ham muốn của mình, mà làm tâm “thiểu dục, tri túc” vậy). Nếu như chấp dính việc thế gian mà không buông xả, thì ở nơi việc vãng sinh là một món chướng ngại lớn.

Người đời nhiều đời nhiều kiếp, tâm sinh chấp dính cái được ở thế gian, chỉ sợ mất đi, tham luyến mà buông xả không được, lại còn tìm cầu cho đầy đủ đời này, thì ắc sẽ chuốt lấy khổ não càng nhiều cho chính mình, cũng sẽ ngăn trở con đường vãng sinh thế giới Cực Lạc.

B/ TÂM BÌNH THƯỜNG

Tâm bình thường tức là: Trực tâm, tâm dài xa, không tạo tác, không an bài, không phân biệt, việc để trong nội tâm là yên ổn tĩnh lặng và bình hòa, cả một năm, suốt một đời, thường thường như vậy tức là bình thường. Ví như: Người đời tiếp khách quen, chỉ dùng trà cơm bình thường không bày biện sắp đặc, tiếp đãi thế nầy có thể dài lâu, tức là bình thường; Như có quý khách đến bày ra bao nhiêu kiểu đồ ăn ngon, đây thì không bình thường, chỉ có thể tiếp đãi mười ngày nửa tháng, nhà không lễ thường, cho nên tiếp đãi chẳng bình thường, thì chẳng dài lâu được.

Tâm bình thường là tâm hàng ngày biểu thị việc nên làm tự nhiên trong cuộc sống ngày thường, không bị niệm lăng xăng, cố chấp,lộn xộn làm trở ngại, không miễn cưỡng công tác liều mạng chính mình, mà có thể làm việc một cách yên ổn thỏa đáng thuận lợi theo lệ thường ngày, khiến cho sinh hoạt chính mình không bị trói buột.

Chúng ta chỉ cần lấy tâm bình thường để đối mặt với cuộc sống hiện thực, không phân biệt tốt xấu, được mất, giàu do người khác giàu, nghèo do người khác nghèo, bệnh do người khác bệnh, già cũng do người khác già, tùy thuận tự nhiên không cưỡng cẩu, mở thoát những việc trói buộc buồn tình này, mặc cho bốn mùa biến đổi, đều là thời tiết tốt tươi.

Tâm bình thường là một cái tâm giữ được sự quân bình mà thuần khiết, có trí huệ viên dung vượt thoát nổi lòng ôm ấp, không bị sắc tướng cõi dục làm mê, không bị huyễn tưởng trần lao làm lầm lạc ( dối gạt ), tâm trong sáng tự tại, bình thảng vui tươi, trải qua cuộc sống vui vẻ đơn thuần.

Con người có tâm chân thật, nhẫn nhịn, bình ổn và tha thứ, thì gặp việc từ nơi tự bao dung mà ổn định, nên không thể vì con người, sự tình, vật chất làm cho suy nghĩ phiền não. Cho nên tâm bình thường tức là cuộc sống bình đạm, bình thường, bình bình thường thường, chẳnh vì vật vui, chẳng vì mình buồn, hiểu rõ tại ta, tiếp nạp người khác, lấy tâm từ ái mà bao dung tất cả.

14. SANH TỬ VÀ NGHIỆP

Sanh tử vô thường, thường đem đến sự sợ sệt và bất an rất nhiều cho chúng sinh. Mọi người cho là người chết rồi thì trăm việc hết, cái gì cũng đều không có. Ðây là con người chỉ có nhục nhãn, không có huệ nhãn, không thấy được chân tướng của vạn tượng vũ trụ, nên mới nói thế này. Nhưng Ðức Phật không những có nhục nhãn, huệ nhãn mà còn có Phật nhãn, chân tướng của muôn hình tượng vũ trụ Ngài thấy rất rõ ràng. Ngài nói sinh mạng của con người không phải là chết rồi thì kể như xong hết, nếu như đơn giản như thế này, đời ngừơi cũng có cái tâm tham muốn, thích làm cái gì thì làm cái nấy! Lại nữa sao cần phải nói cái việc có nhân quả báo ứng thiện ác, nếu rõ sinh tử như thế nào là phiền rồi! Kỳ thật, sinh mạng trước khi chưa sinh thì đã có rồi, cũng không phải chết rồi là hết - đơn giản như thế! Không phải nói qua loa vài ba câu thì có thể nói được vấn đề rõ ràng, đồng thời cũng là vấn đề rất khó giải quyết. Do đó với nhu cầu học Phật tu hành, là để giải quyết đại sự sinh tử đời người này.

Hành giả học Phật đối với cái chết, cần thiết phải ghi nhớ hai điều đạo lý:

1. Ðời người vô thường, tuỳ theo thời gian đều có khả năng chết, hoặc tuổi thọ hết, hoặc phước hết, hoặc chết đột ngột.

2. Không nên cho rằng thọ mạng là trời sinh có chủ định về số tuổi thọ, thực tại là đa số nghiệp ác hiện đời, việc không nên làm đi làm, không khéo giúp nuôi tốt tự thân. Chớ nên cho là nhất định tuỳ thuộc ở tuổi thọ hết mà chết, còn có việc chết đột ngột thì sao, nào là tai nạn về nước, lửa, hung sát, xe cộ, trúng độc... tử vong không chính đáng, tình huống bất thường tạo thành.

Trước chưa rõ sinh tử, chết rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, chết chết sinh sinh, sinh sinh chết chết luân hồi không dứt, mà nhân tố chủ yếu tạo thành luân hồi sinh tử này tức là NGHIỆP.

Nghiệp, tiếng Phạn gọi là “yết ma”, nghĩa là “tạo tác”, ta và người ở trên tư tưởng, hoặc nhân tư tưởng phát ra tạo tác các ác ở nơi ngôn ngữ và thân thể, giả gọi là “nghiệp”. Bất luận có hành động thế nào, Phật pháp đều gọi là NGHIỆP.

Nghiệp có ba tánh: thiện, ác và vô ký. Thiện nghiệp hay chiêu lấy thiện quả, ác nghiệp hay chiêu lấy ác quả, vô ký nghiệp đã không phải là thiện lại không phải là ác, cho nên không cảm quả.

Liên quan với “nghiệp”, hơi khó khiến cho người hỏi hiểu rõ, nhân vì nó không hình không tướng, không chất không lượng, nhưng người ta khởi tâm động niệm, đều thành nghiệp chủng, vả lại trọn không thể mài dũa hay diệt đi, nó tồn tại hằng hữu, gặp duyên thì khởi hiện hạnh. Chúng ta nếu miễn cưỡng làm một phép so sánh, thì không ngại nói là ấn tượng trong ý thức của ta và người. Ta và người mỗi khi có khởi tâm động niệm, cho đến ngôn ngữ hành vi, không kể là thiện hay ác, trong ý thức tất có lưu giữ ấn tượng, đây tức là nghiệp chủng vào trong ruộng thức thứ tám, ruộng thức thứ tám là thức A Lại Da. Ta và người ở nơi ngôn ngữ và hành vi của thân tâm cho ấn tượng lưu giữ trong ý thức, tuy có cạn có sâu, nhưng đều không do sự lâu hay tạm của thời gian mà xóa diệt. Ðối với một sự vật nào đó, ấn tượng sâu sắc, cố nhiên trọn đời khó quên; vả mỗi khi nhân đối với ấn tượng việc này mà ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của người ta, dẫu cho là ấn tượng của người rất mỏng cạn nhỏ nhặt, cũng sẽ giữ gìn vĩnh cửu ở trong ý thức. Hiện tại các nhà tâm lý học giải thích “mộng” là hoạt động ẩn chứa trong ý thức đồng thời cũng biểu thị cho chúng ta thấy nghiệp lực cũng là bất diệt.

Nghiệp, lấy hiện tại để giải thích đại khái là mỗi người đều nhờ vào kết quả phản ứng hoạt động ý lực không dứt của chính mình, tạo thành tánh cách của mình, tánh cách này lại tạo thành gốc gác của hoạt động tương lai, chi phối vận mệnh chính mình. Từ sự chi phối vận mệnh một điểm đó mà nói, gọi là “nghiệp quả hoặc nghiệp báo”. Nghiệp là vĩnh viễn không diệt, trừ phi nghiệp tận - ý chí đình chỉ hoạt động. Hoạt động nếu chuyển một phương hướng, nghiệp bèn cũng chuyển phương hướng mà tồn tại, nghiệp quả nghiệp báo chẳng phải lấy một thời kỳ tử vong sinh mạng mà hết đâu, tử vong bất quá là “sắc thân” này (thân thể vật chất cấu thành) theo phép tắc vật lý mà có tụ có tan. Sinh mạng thật ra không phải là thuần tuý vật chất, cho nên mỗi người tạo nghiệp, đều không nhân nơi tử vong của thân thể vật chất mà tiêu diệt. Sau khi tử vong, cái lực của nghiệp khiến mình đuổi dẫn chính mình đổi thành một phương hướng khác, hình thành một cái sinh mạng mới, cách chuyển đổi trạng thái này gọi là “luân hồi”. Hiểu được đạo lý luân hồi, lại có thể chứng minh nguyên tắc nghiệp lực không diệt.

Nghiệp lực đều không nhân nơi sự tử vong của nhục thể mà tiêu diệt, sau khi nhục thể tử vong, nghiệp lực gởi gắm ở trong thức của A Lại Da, thức này lại chịu sự chi phối của nghiệp lực, trở lại kết hợp cùng với vật chất riêng thành một sinh mạng mới. Nhưng riêng sinh mạng mới hình thành là người, là súc, là thần, là quỷ, thức A Lại da không thể tự chủ, toàn dựa vào sự dẫn dắt của nghiệp lực. Trên kinh Phật có nói tình hình nghiệp lực dắt dẫn A Lại Da thức là: “ví như đòi nợ, kẻ mạnh dẫn trước”. Thế thì nói nghiệp lực, một phương diện nào đó sức nó nặng, thì lệch rơi về phía đó.

Nghiệp lực tức là sau khi tạo tác thi vi (khởi tâm động niệm), năng lực giữ gìn liên tục mà dẫn phát. Thọ báo nhân gian đời này là nghiệp lực đời trước. Nghiệp lực đời trước cùng với nghiệp lực đời này, lại quyết định cho tiền đồ đời sau; đây tức là nhân quả báo ứng ba đời.

Y cứ nơi luật nhân quả của nghiệp lực mà nói, thời gian nghiệp báo phát sinh có ba việc:

1. Thuận với hiện tại thọ nghiệp; tức đời này tạo nghiệp, mà đời này cũng thọ báo.

2. Thuận đời kế thọ nghiệp; tức đời này tạo nghiệp, mà đời kế đến thọ quả báo.

3. Thuận đời sau thọ nghiệp, tức đời này tạo nghiệp, mà hai hay nhiều đời sau mới thọ quả báo.

Ðây cũng tức là từ ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai mà nói rõ nhân quả là vấn đề không thể tiêu diệt; chỉ cần nhân duyên đầy đủ, rốt cuộc cũng phải chịu báo ứng, mà tạo thành quả báo cho đời sau, cuối cùng là do một vấn đề nghiệp lực đó xúc tác mà thành ư? Ở đây không có ba sự phân biệt:

- Một là theo nơi sức nặng; không luận thế nào, người đến lúc chết, nghiệp lực nhất định sẽ hiện ra, việc tốt xấu lúc bình thường làm đều rất nhiều, ngay lúc này có một cái sức mạnh nghiệp lực đặc biệt (không luận là thiện hay ác), sẽ so kè thế lực mà hiển hiện ra, con người sẽ nương theo cái năng lực này mà thọ báo. Một người sát nhân, trong tâm thường ghi nhớ sự việc ở trong tâm, quên không được, tức khiến cho quên mà lại mạnh mẽcàng tồn tại cái lực; đến lúc chết, những việc làm tội lỗi này sẽ hiện tiền. Cũng vậy, một người làm việc thiện một đời cứu người đến lúc mạng chung, thiện nghiệp đó cũng sẽ tự nhiên hiển bày trước mắt. Ðây cũng như người mắc nợ đến cuối năm, chủ nợ đều đến, một người chủ nợ mạnh mà có sức lực hơn trong số đó, bắt đem về đặc biệt ngược đãi làm hại, không thể không trả trước cho người đó.

- Hai là theo nơi tập khí, như có người không có nghiệp rất tốt rất xấu, bình thường làm việc, thói quen cho là thường, cũng có thể sản sinh ra năng lực vĩ đại, tuy là ác nhỏ, cuối cùng phải mắc ác báo, thiện nhỏ cũng có thể được thiện báo, tức là nói ngay khi trồng nghiệp gì, thì đã định về sau, cuối cùng ắt phải theo nghiệp định này mà thọ báo.

- Ba là theo sự nhớ nghĩ; bình thường cuộc sống không có thiện ác gì trọng đại, cũng không có sự tình chứa nhóm, cuối sau bỗng nhớ tới cái gì đó, thì lấy niệm thiện hoặc niệm ác này mà thọ báo. Phật pháp lúc bình thường chỉ nêu đối đãi người nặng bệnh, tất nhiên bảo họ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, lúc bình thường xưng tán công đức bố thí, trì giới, khiến họ nhớ khởi lên công đức, tâm sinh thiện niệm, nương nơi công lực này thì sẽ đi lên tiền đồ tốt đẹp. Có người tuy có nghiệp thiện, nhưng lúc lâm chung chịu sự đâm chích đau khổ trong lòng, niệm ác hiện tiền đến nỗi đoạ lạc. Cho nên người đời nay đến lúc lâm chung, không luận già trẻ, đều không nên kêu khóc và xô động thân thể của người chết, chẳng như vậy thì làm phiền tâm thần của họ, khiến họ sinh khởi phiền não. Nên khuyên họ vất đi buông rời, chuyên tâm niệm Phật, niệm công đức... nhưng rốt cuộc lúc bình thường trọng ở nơi lúc lâm chung, như lúc bình thường tạo nên cái ác nặng, nên lúc họ lâm chung khởi một niệm thiện là không thể khởi được; Trừ phi anh ta đời trước có nghiệp thiện, lúc bình thường hay có nghiệp thiện to lớn, hoặc tập thiện thành tánh, mà vả ở lúc lâm chung có trợ niệm thêm, thì có thể quyết định qua nơi cõi lành.

Như y nơi lập trường “thiện có báo thiện, ác có báo ác” mà nói, mỗi con người ở mỗi đời đều có thiện nghiệp và ác nghiệp, như thế không phải là vĩnh viễn không có cách nào liễu thoát sinh tử hay sao? Nói một cách chơn thật, riêng chỉ mỗi nghiệp lực còn không nhất định có thể khiến chúng ta sinh; ngoài nghiệp lực còn có điều kiện của phiền não, trong đó “khát ái” là tối trọng yếu. Tham luyến thế gian, hy vọng sinh tồn, tức là nên dứt đi cái “ái” sinh mạng này; như không khát (ái) các thứ nước thấm (phiền não), cũng sẽ không thể trở lại cảm lấy mầm (khổ của sinh) đâu.

Phật pháp cũng là bảo người: “dứt phiền não, xong sinh tử”.

15. BA CÕI VÀ SÁU ÐƯỜNG.

Hữu tình trong ba cõi, nhân nơi mê hoặc mà tạo nghiệp, nhân tạo nghiệp mà thọ khổ, rồi nhân thọ khổ lại mê hoặc. Ba món: hoặc – nghiệp – khổ này, tức hình thành ra tánh ác tuần hoàn. Nhưng nghiệp mà hoặc tạo ra, có chia ra nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp nhẹ, nghiệp nặng. Do đây quả báo nhận được cũng có phân ra làm sáu đường. Nghiệp thức ở trong sáu đường mà sinh đây tử kia thì gọi là luân hồi sáu đường.

Thế nào là sáu đường? Sáu đường là: trời, A Tu La, người, ngạ quỷ, súc sinh và địa ngục. Ba đường trước gọi là đường thiện, ba đường sau gọi là đường ác.

Trong đó trời phước báo rất nhiều, thọ mạng cũng dài. A Tu La phước báo giống trời, mà tâm sân rất là nặng, đấu tranh không dừng. Người thì khổ nhiều vui ít. Súc sinh thì là toàn khổ thôi. Ngạ quỷ thường chịu đói lạnh, nên gọi là ngạ quỷ, địa ngục thì khổ đau cõi đó rất nhiều kiểu. Song ở trong sáu đường này, phước báo khổ vui trong mỗi đường cũng phiền phức khác lạ muôn mối, như cõi người có giàu sang và nghèo hèn, chia ra thành đạt và cùng khốn, thọ và yểu... Ba cõi, trong đó chia ra: cõi sắc, cõi dục và các cõi trời vô sắc. Tóm lại, đều do nghiệp lực chiêu cảm, thiện thì đi lên mà ác thì đoạ lạc, lý cố nhiên như vậy.

Biểu đồ ba cõi, sáu đường như sau (chúng sinh sáu đường luân hồi):

Ba cõi:

Dục giới: thế giới dục, có đủ nam nữ, ăn uống.

Sắc giới: thế giới tâm thức, lìa nam nữ, ăn uống.

Vô sắc giới: thế giới tâm thức, không có hình sắc.

Sáu đường:

Trời

......... A Tu La

....................... Người

....................... Súc sinh

....................... Ngạ quỷ

....................... Ðịa ngục.

CON NGƯỜI – Sanh từ đâu đến và chết đi về đâu?

Con người, sinh ra từ đâu đến, chết rồi đi về đâu? Anh biết rồi, thế thì quá tốt.

Con người, đời này làm người, là đời trước do phước báo cõi trời hưởng hết nên đọa lạc vào con đường làm người; hoặc ở nơi nhân đạo sau khi chết hợp với việc trở lại làm người mà trở lại sinh làm người; hoặc do khổ báo ba đường ác chịu đủ rồi chuyển sinh làm người.

Người chết, chẳng phải là một khi chết là trăm việc hết, chết rồi thì xong; mà người chết là nhục thân chết thôi, người đời nói “linh hồn”, cái đó vĩnh viễn không thể chết, đó là theo chỗ tạo tác thi vi lúc sinh tiền; làm thiện thì thăng thiên hưởng phước hoặc sinh trở lại làm người, nếu làm ác, thì đoạ lạc trong ba đường chịu lấy khổ báo, tức là chết đây rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, sinh chết, chết sinh xoay vần luân chuyển, trọn không dừng lại, đây tức chỗ gọi là luân hồi sáu đường. Cũng tức là báo ứng nhân quả thiện có thiện báo, ác có ác báo.

Con người, thần thức (linh hồn) sau khi chết trở lại chuyển sinh là thật đúng không? Thế nào là không đúng; Từ xưa trở lại trên sách sử chánh kinh ghi chép việc sau khi chết chuyển sinh và mượn thây chết hoàn hồn không biết là bao nhiêu, tức là bảo hiện tại cũng thường có vấn đề này, anh cho là vì đánh lừa người phải không? Hành giả tự sức tu hành, được khai ngộ, có thiên nhãn huệ nhãn, việc trong sáu đường thì có thể xem xét rất rõ ràng; chúng ta là phàm phu chỉ có nhục nhãn, chỉ có thể nhìn thấy việc của phàm phu và súc sinh, còn thiên đạo, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo đương nhiên không thấy.

Tự nhiên bất toàn là việc đánh lừa người, nhưng không biết rốt cuộc là việc gì? Ở đây không có gì khó rõ, ở đây cũng tức là “nhân quả”. So như anh việc làm đời này hợp với thiên đạo, như thế đời sau (sau khi chết) sẽ thăng thiên hưởng phước; nếu như anh đời này việc làm hợp với nhân đạo, như thế đời sau tái sinh làm người; ngoài ra các đường khác đều là như vậy. Ðây tức là giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, đều là việc tự nhiên, không lạ lẫm gì cả. Như món anh trồng là dưa, thần không thể biến nó thành một cây đậu; (nếu có, thì đó chỉ là giả thuật không chân chánh). Như thế việc anh làm là nhân “thiên đạo”, thần tự nhiên không thể cưỡng bách anh đoạ lạc vào địa ngục; đây là vấn đề rất hiển nhiên. Trở lại nói đơn giản một chút, tức là làm thiện được phước, làm ác bị hoạ.

Sáu đường thì đường nào tốt nhất? Ðương nhiên đường Trời (thiên đạo) là tốt nhất; kế tới là Atula, rồi đến người. Còn các đường khác thêm một đường không bằng một đường, thêm một đường thì khổ một đường.

Chúng ta nhờ dựa nơi lương tâm, làm nhiều việc thiện, không thể ra khỏi luân hồi sao? Không! thế thì không làm! Người làm việc thiện thì sau được báo ứng tốt sinh vào thiên đạo, chờ cho báo ứng xong hết trở lại chuyển đến các đường khác, cũng như vậy có thể chuyển sinh đến đường súc sinh; Nếu muốn thoát ly luân hồi sáu đường mà riêng nhờ vào việc làm thiện thì không đủ đâu, chẳng học phật tu hành chẳng thể được, chí thành chuyên nhất tinh tấn không biếng lười, không phô bày, không lơ là, mới có thể ra khỏi luân hồi sáu đường; Không phải nói qua loa ta tu hành học Phật là xong, thì là ra khỏi luân hồi sáu đường xong rồi, đơn giản như thế sao, thật đơn giản như thế thì bốn chúng của Phật giáo đều ra khỏi luân hồi rồi.

Khổ vui sáu đường luân hồi đều là một kiểu cũng được, song thì khổ và vui là không giống nhau. Nếu anh cho thế giới Ta bà là biển khổ, đời người là khổ, khổ nhiều vui ít, làm ác dễ làm thiện khó, cơ hội sanh Thiên hưởng phước ít, cơ hội rơi vào ba đường ác thì nhiều. Một khi mất thân người rơi vào ba đường ác thì không phải là việc giỡn chơi. Không muốn ở trong sáu đường luân hối, muốn thoát ly ra khỏi luân hồi của sáu đường, thì cần phải học tu hành.

16. PHIỀN NÃO

Phiền não cũng gọi là: Hoặc, trần lao, nhiễm ô v.v... Do vì nó nhiễm loạn sự thanh tịnh thân tâm chúng sinh hữu tình, không được giác ngộ, làm chướng ngại lý tưởng Niết Bàn.

Phiền não chủ yếu không hiển bày bề mặt mà là tiềm ẩn tánh cách tà ác và cố tật ở chỗ sâu xa nội tâm, một khi có cơ hội liền hiển bày biến hóa.

Phiền não, có thể riêng phân ra: “căn bản phiền não” và “tuỳ phiền não”. Tuỳ phiền não lại có thể từ lớn tới nhỏ về phạm vi nhiễm ô mà chia ra: tiểu tuỳ phiền não, trung tuỳ phiền não và đại tuỳ phiền não. Nay đem các món phiền não mà phân biệt một cách đơn giản để lần lượt nói ra:

Căn bản phiền não.

Căn bản phiền não có sáu việc: tham - sân - si - mạn - nghi - kiến, được giải thích từng việc như sau:

Tham: là chỉ cho tham dục hoặc tham ái. Tham tức là đối tượng và sự yêu thích đối lòng ưa thích, càng nhiều càng tốt, tham lam không bao giờ biết đủ.

Sân: là nguyện vọng đối với mình, khi yêu thích rồi mà có lúc trái ngược, thì tâm tình phẫn nộ liền sinh khởi.

Si: tức là “vô minh” của mười hai duyên khởi, không rõ thị phi, không tin nhân quả, mà khởi lên các món tà kiến, tà hạnh.

Mạn: nâng cao chính mình mà xem thấp người khác, lấy tự “bản ngã” mà tình kết trong tâm.

Nghi: hoài nghi luật nhân quả, hoài nghi thiện ác báo ứng, hoài nghi chơn lý Phật nói; nó làm ngăn trở sự tăng trưởng của huệ căn.

Kiến: tức không giữ được chính niệm, lấy tà kiến, tà hạnh làm pháp đạo để tu.

Trong sáu món phiền não, năm món trên là sự mê hoặc tình ý chấp trước trên tập quán, gọi là TƯ HOẶC (tu hoặc). Ðối với phiền não tư hoặc này dù cho có thể hiểu biết trên lý luận nó là loại sai lầm, nhưng hãy còn rất khó sửa đổi, loại tập quán này mê hoặc ngoan cố, cần phải dựa vào sự nỗ lực tu hành thời gian dài mới có thể lần hồi dứt trừ. Tư hoặc cũng gọi là “độn sử” (phiền não nặng nề chậm lụt)

Món Kiến, là sự mê hoặc trên tư tưởng, cũng gọi là KIẾN HOẶC. Loại phiền não này như có thể nghe lý luận chính xác mà lãnh ngộ, thì có thể lập tức trừ bỏ mê hoặc, do đó cũng gọi là “lợi sử” (phiền não nhạy bén). Như có thể đoạn được kiến hoặc, cũng là thấy được vị trí đạo, tức là KHAI NGỘ. Như nếu dứt được kiến hoặc và tư hoặc, tức là chứng quả A LA HÁN.

Tiểu tuỳ phiền não

Tiểu tuỳ phiền não có mười món: 1. Phẫn, giận dỗi kịch liệt. 2. Hận, do sân giận tích chứa kết ở trong tâm. 3. Phú, chính sự che đậy của mạng sống thường xuyên mà thành lớn. 4. Não, ác não, phiền muộn. 5. Tật, sự đố kỵ ganh ghét. 6. Lận sắc (khan), lòng dạ hẹp hòi. 7. Cuống, dùng lời nói dối lừa người khác. 8. Siểm, dùng lời nói để đánh dò người mà vui sướng. 9. Kiêu, kiêu ngạo (món này cùng với “mạn” của căn bản phiền não có sự khác nhau, là sự tự hào chưa trải qua sự so sánh bản thân mà sinh khởi). 10. Hại, là từ nơi sự sân hận phát sinh ra hành động thêm hại cho tâm người khác. Sự tàn nhẫn cũng là gần như hại.

Trung tuỳ phiền não

Trung tuỳ phiền não có hai món: 1. Vô tàm, không có sự hổ thẹn đối với nội tâm. 2. Vô quý, không có sự hổ thẹn đối với thế giới bên ngoài.

Ðại tuỳ phiền não

Ðại tuỳ phiền não có tám món: 1. Hôn trầm, tâm tình nặng nề không mở mang. 2. Ðiệu cử, tâm tình bềnh bồng không định. 3. Bất tín, không tin có báo ứng nhân quả. 4. Giãi đãi, không có sự nỗ lực. 5. Phóng dật, tức là mặc tình lung tánh vọng làm. 6. Thất niệm, mất đi chánh niệm (có muốn cũng không khởi ra). 7. Tán loạn, tâm không chuyên nhất. 8. Bất chánh tri, không có sự thấy hiểu chính xác.

Tiểu, trung, đại; ba món “tuỳ phiền não” ở trước, đều là chi mạc phiền não (phiền não cành nhánh), theo nơi sáu món căn bản phiền não mà sinh khởi. Tóm lại, cũng là phiền não nhiễm ô, trở ngại cho việc thực hiện chứng ngộ.

17. HỒI HƯỚNG

Hồi hướng là qui hồi công đức của mình tu, thảy đều hướng chuyển về Phật đạo, để xu hướng nơi đối tượng được kỳ vọng, để cầu được vĩnh viễn thóat ly biển khổ sinh tử, gọi là hồi hướng.

Nếu không thể làm việc “hồi hướng” như đây, thì khiến cho một đời trì giới, một đời tu Phật đạo, cũng khó giải thoát sự trói buộc của sinh tử. Hồi hướng là một việc làm trọng yếu trong cuộc sống tu hành của người Phật tử, các công sức trong một ngày làm được, cuối cùng đem đức hồi hướng. Chỗ gọi là hồi hướng, bèn là lấy công đức nhỏ của mình để vào việc to lớn, thế này tích chứa hàng ngày, trong tâm, trong cái nhìn và trong tư tưởng của người này đều sẽ theo phương diện tốt đẹp mà rộng lớn, khiến người phàm nuôi dưỡng trong tâm thành bậc Thánh, công đức đó là do từng việc nhỏ biến thành chẳng phải gọi là lớn. Người ta mỗi ngày niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh và các công đức thiện hạnh, đều hay hồi hướng cho tất cả chúng sinh, đồng sinh tịnh độ, đồng gặp Phật Di Ðà.

Công đức không nhất định phải xuất tiền xuất sức mới có công đức. Như giảng kinh nói pháp, nghe pháp, tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, thậm chí nói một câu ái ngữ cổ động khích lệ hoặc lời an ủi, khiến cho đối phương hướng thiện, hướng thượng, những việc này đều là công đức, đều cần nên “hồi hướng”. Mỗi thời khóa ngày đêm niệm cung kính: “đệ tử tên... nguyện đem tất cả công đức của ngày hôm nay hồi hướng: trang nghiêm tịnh độ Phật, trên trả bốn ơn nặng, dưới cứu độ ba đường khổ, nếu có người thấy nghe, đều phát tâm Bồ Ðề, hết báo thân này rồi, đồng sinh nước Cực Lạc”. Ðây là hồi hướng lớn, nếu ở trong nhà có người sức khỏe rất kém, hoặc sự nghiệp của mình không thuận lợi... cũng có thể làm hồi hướng nhỏ. Chúng ta có thể nói: “Lấy tất cả công đức này hồi hướng cho (việc, ai đó) khiến họ thân thể khoẻ mạnh trở lại”... Hoặc nói: “đệ tử.... nguyện đem công đức đã làm trong ngày hôm nay hồi hướng cho cha mẹ đời trước, kẻ oán người thân, chủ nợ đời trước của (ai đó).. thảy đều phát tâm bồ đề, đồng sinh nước Cực Lạc”. Nhưng phải nhớ rằng: nhất định trước tiên phải làm việc hồi hướng lớn, rồi sau đó mới làm hồi hướng nhỏ.

Văn hồi hướng

“(Ai đó) nguyện đem công đức này (hoặc công đức đã làm ngày hôm nay), hồi hướng cho tất cả oán, thân, chủ nợ từ vô thuỷ kiếp đến nay của đệ tử, cha mẹ và lục thân quyến thuộc đời đời kiếp kiếp oán thân bình đẳng, giải oan mở buộc, nghe kinh chú này, thảy đều lìa khổ được vui, vãng sinh tịnh độ”.

Nếu học Phật, trên cuộc sống không thuận tiện, thất ý hơn trước, là nghiệp trước nhiều đời, kẻ oán người thân, chủ nợ đến đòi nợ. Ðã học Phật tu hành, thì kẻ oán, người thân và chủ nợ chỉ sợ đòi không được nợ mà đưa ra trước để đòi, còn gia thêm bố thí, niệm Phật, hồi hướng cho tất cả oán, thân, chủ nợ; thế thì oán, thân, chủ nợ mới có thể tan hết. Có khổ nạn cũng nên phải tự rõ, đây là do nhân ác đời trước, đời này chịu quả báo, quả báo sạch khi trả sạch, bèn được thân nhẹ nhàng. Quyết không thể oán trời trách người! Trách Phật và Bồ tát không linh! Có bệnh ở nơi thân, lấy vô bệnh mà nhìn, bèn không thấy khổ; như vậy mà xem đó, sao lại khổ ư?

18. PHÁP MÔM TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Một pháp chấp trì danh hiệu: “A DI ÐÀ PHẬT ”, lúc Ðức Phật Thích Ca còn tại thế, thấy được con người trên thế giới này của chúng ta, nghiệp tạo ra rất là nhiều, chịu khổ cũng rất là sâu, nhất là hạng hạ căn lại nỗ lực làm sao để tu trì, cũng khó được quả Phật, vì thương xót con người trên thế giới này, của chúng ta rất là bi thiết, bèn dạy bảo chấp trì danh hiệu “A Di Ðà Phật”, nguyện sinh nước kia, đổi ác thành thiện, tự lợi lợi tha, tin sâu nguyện thiết, hành trì niệm Phật, nhất tâm không loạn, lúc người mạng chung, chánh niệm hiện tiền, tâm không đảo điên, Ðức Phật A Di Ðà sẽ tiếp dẫn vãng sinh về nước Cực Lạc của ngài; người đời cần gấp hiểu rõ có một chỗ tốt đẹp như thế này, có thể khiến con người trên thế giới chúng ta, không nên trở lại thọ các món khổ, cho nên bất kỳ người nào hỏi, thì trước tiên nói pháp môn trì danh niệm Phật này.

Ðức Phật Thích Ca lúc nói pháp môn tịnh độ “trì danh niệm Phật” này, gọi pháp này là pháp thế gian khó tin. Nguyên nhân là người đời phần nhiều còn có một niềm tin sai lầm, cho rằng trên đời không có cái gì để mình nương tựa một cách xác thực, đem sự tình giao cho một người khác thì không an tâm, bởi vì sức mình làm mới rất đáng nương tựa. Do đây rất nhiều tôn giáo lấy món tưởng pháp này làm cơ sở. Không chỉ các tôn giáo khác như vậy, tôn chỉ tông phái đại đa số của Phật giáo cũng đều như đây, như tông Hoa Nghiêm, tông Duy Thức, tông Thiên Thai, tông Thiền... đều dạy người là con đường của mình do chính mình mở, tức là dựa vào sự tu trì của mình, cắt đứt phiền não mê hoặc, rõ tâm thấy tánh, chứng được chân lý thành Phật, cũng gọi là đoạn mê hoặc, thấy và chứng (khai ngộ); giáo pháp này lúc thực hành chân chánh, là rất khó khăn. Các bậc cao nhân chung của các tông các giáo hãy còn nhiều khó khăn, là trong cuộc sống làm sao cho thanh tịnh được hết hoặc nghiệp! Huống gì người thường, thật ra người mà có thể trong cuộc sống đoạn được hoặc, rõ tâm thấy tánh khai ngộ không được nhiều! Nhưng vừa nghe qua, mọi người đều có thể tin rằng, nguyên nhân tức là con đường của mình tự mở; hoặc nhân người đời ưa bàn lý luận cao xa huyền diệu, không chịu thực sự học Phật, cho là thế gian ắc có bí mật huyền diệu, bí quyết nhanh học đạo, không chịu thực sự an phận. Thực sự an phận thì: 1. Thu chuyển được dã tâm, chẳng thể suy nghĩ hồ đồ và tưởng muốn cuồng loạn. 2. Trì trai giới giữ thanh tịnh, không thể phóng túng hoặc biếng lười. 3. Còn giữ được sự mộc mạc, không tự cho là thông minh. 4. Chân thật không tà ngụy, chẳng có chút phô bày. Những việc này là cần tự mình nỗ lực, mới có thể rõ được. Nhưng người đời mê chấp rất là sâu, chung quy cảm thấy vần đề mình hiện có và sự vật dễ dàng tìm được, chẳng cần trân quý. Cho nên phải nói là bí mật vi diệu của ngàn xưa thật dễ dàng nhẹ nhàng mà truyền cho người. Hoặc giả có thuyết nói là: cảm động đến Thánh linh; hoặc Thần Tiên trao bày, không thể do người dễ dàng chứng được; do đó mới có người tin như vậy. Pháp môn trì danh niệm Phật mà Phật nói, đây cũng giống như đem tấm chi phiếu ngàn vàng cho người ngu, khiến họ khó thể lý giải. Người ngu cho là một đồng tiền còn được thật sự giá trị hơn tấm chi phiếu ngàn vàng, tâm người ngu trí cạn cợt, vả lại tự xấc láo chính mình ngay cả một bảng đồng, đều không đánh giá được; khó đối với sự tin tưởng công đức của danh hiệu A DI ÐÀ PHẬT. Cho nên lời dạy ( trì danh niệm Phật ): A DI ÐÀ PHẬT. So ra các tôn giáo và tông phái khác khó tin. Chúng ta chấp trước đối với đời người, tức ngay cả các tôn giáo khác đều rất khó tin, tôn giáo khác đó vả hãy còn khó tin thay, huống gì lời dạy là tha lực A DI ÐÀ PHẬT. Cho nên nói là: khó ở trong khó, lại nói: không khó nào qua, cũng nói: pháp rất khó tin.

Pháp môn trì danh niệm Phật là tâm đại từ bi của Ðức Thích Ca Như Lai, thương xót chúng sinh chẳng đủ tự lực, không thể một đời tu hành tức xong sinh tử, một đời không xong lại chuyển một đời, dễ dàng mê hoặc, nếu lại tạo ác nghiệp, đọa lạc ba đường, công ngày trước bỏ hết; đối với việc đó nên dạy người chấp trì danh hiệu A DI ÐÀ PHẬT, cầu Phật lực gia bị, tuy tự lực yếu mỏng, cũng có thể nương vào sức từ của Phật tiếp dẫn vãng sinh về nước Cực Lạc, một khi sinh về cõi kia vĩnh viễn không thối chuyển.

19. NÓI ÐƠN GIẢN – A DI ÐÀ PHẬT

“Nam mô A Di Ðà Phật” là một câu lời nói trong nước Thiên Trúc, biến thành lời nói của chúng ta: - Nam mô; Tức là cung kính, quy y, tín ngưỡng, phục tùng. - A Di Ðà; tức là ánh sáng trí tuệ không có ngằn mé và phước thọ không có hạn lượng. - Phật; tức là Thánh nhân, thần nhân, toàn nhân, chí nhân, người có đạo đức, người giác ngộ xong, người có trí huệ tối vĩ đại; Họp chung lại tức là “ Kính tôn trọng qui theo bậc thánh nhân - vô biên - vô lượng trí tuệ, hào quang, phước đức, thọ mạng như thế”. A Di Ðà Phật không phải là ở trong thế giới này của chúng ta, thế giới của chúng ta gọi là thế giới “nhân khổ”. Hơn hai nghìn năm trăm năm (?) trước, có một Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện ở thế giới này của chúng ta, vì chúng ta mà nói trạng huống lịch sử A Di Ðà và thế giới Cực Lạc kia. Chúng ta lại biết rằng Phật A D i Ðà lúc chưa thành Phật, chưa có thế giới Cực Lạc trở về trước, Ngài vốn là một hoàng đế, lúc đó cũng có Phật đang trụ thế. Hoàng đế này rất là tin sùng chánh pháp, về sau cũng xuất gia tin Phật làm Tăng, tu hành không lâu thì chứng A La Hán. Lại phát tâm Bồ Ðề, lập nguyện nếu người ở tương lai họ đồng ý với phát nguyện tu hành của họ, tu thành một thế giới Cực Lạc; nghĩ áo được áo, nghĩ ăn được ăn, tưởng đến cái gì thì được cái ấy, muốn có cái gì thì có cái nấy, tất cả yên ổn vui vẻ, không có việc nào là không hoàn toàn đầy đủ, tất cả những nguy hiểm khổ não không cái nào là không lìa thoát; Người cùng ở với nhau đều là người tốt; không có người ác cũng không có việc ác. Tự nhiên xăm xăm hàng ngày tiến tới chỗ thiện, thẳng đến thành Phật, càng không thối lui. Ðã tu thành thế giới Cực Lạc này, lại đem danh tự thế giới Cực Lạc này khiến thế giới mười phương không đâu chẳng nghe biết, khiến người nghe đều sinh mến thích; nhưng niệm A Di Ðà Phật danh hiệu đó, lại có được lúc chuyển sinh, là do Phật A Di Ðà đến trước tiếp dẫn, sinh đến ở trong thế giới Cực Lạc - Ðến lúc sau quả nhiên thành thế giới Cực Lạc, thế giới nầy ở phía tây của thế giới chúng ta, thành Phật tên là A D i Ðà cùng với Bồ Tát, La Hán rất nhiều đồng ở trong đó, thường thường nói pháp nhóm hội, đến mười phương thế giới khổ não tiếp dẫn cứu độ chúng sinh, khiến cho họ được sinh về trong thế giới Cưc Lạc. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vì thấy chúng ta ở thế giới này là cực kỳ khổ não, ở trong đây rất là nguy hiểm, vì tuy là được làm người có thể sống được bao nhiêu năm không có nhất định, một hơi thở không trở lại là chết rồi. Thì ở trong lúc sống: Lạnh, nóng, bệnh, già, các việc nói không hết... những khổ đau đoanh vây thân tâm không cách nào lìa thoát. Nên Ðức Phật dạy chúng ta trong tâm và miệng luôn thường niệm mãi “A Di Ðà Phật”, khiến cho chúng ta đến lúc lâm chung chuyển đời, lại được cứu độ đến thế giới Cực Lạc của Ðức Phật A Di Ðà, vĩnh viễn hưởng sự yên ổn vui vẻ, lại không có một chút nguy hiểm khổ não; đây mới là ý nghĩa chân chánh niệm: A DI ÐÀ PHẬT.


ĂN CHAY

Muốn thoát ly biển khổ luân hồi của sáu đường (ra khỏi ba cõi), thì nên ăn toàn chay.

Muốn thân thể cường tráng mạnh khỏe, ít bệnh đau, thì nên ăn toàn chay.

Vì ăn đồ chay thiên nhiên là đi tới con đường mạnh khỏe! Trái lại, thì tật bệnh nổi lên, sớm bị suy già, đó sẽ thành là một phần trong cuộc sống của anh.

Thích ăn tanh, phần nhiều thèm muốn ở nơi cửa miệng. Thói quen nhiều đời, thêm đặc biệt chú trọng, kết nhiều duyên ác, là nhân giúp cho việc sát sinh tạo nghiệp, bỡi vì các lý do cẩu thả, tự cho là phải. Ăn chay bồi dưỡng hạt giống từ bi của chúng ta; Cho nên gọi: “Có ý đến gieo giống, nhân nơi đất mà quả lại sinh”.

Có thể dứt hay ngăn trừ ăn thịt rất là phải cách, chẳng được vậy thì có thể bằng phương thức lần hồi, bắt đầu mỗi lần cách một hai ngày ăn chay một ngày, lần lần tăng thêm số lượng ăn chay, sau đó khẩu vị ăn chay trở thành tập quán rồi tự có thể đạt được mục tiêu (đoạn nhục).

Ðộng vật (súc sinh) cùng với người có thần kinh cảm giác như nhau, ném bị thương thì máu chảy, đánh đau thì rên la, ngay lúc con vật bị giết, bị nấu sống, nước sôi đổ trên thân, sống không cách trốn. Nghĩ xem lúc dao chặt hoặc trong nồi thế nầy nếu là thân ta hoặc cha mẹ, con cái ta, thì nỗi đau đến cùng cực ra sao! Cảnh đó thảm như thế nào!

Mỗi một cá nhân trong một đời đã từng chịu qua những bệnh nhỏ như đau đầu, đau bụng, hoặc từng bị kim đâm, dao cắt, bị phỏng, bị đốt... các bệnh đau nhỏ, thì cũng khiến cho con người ngồi đứng không yên, khó mà chịu đựng, huống gì súc sinh lúc bị bầm, cắt, chặt, thui, nấu cho đến chết, đau thương hơn cả những nỗi đau nhỏ của chúng ta gấp ngàn gấp vạn. Hãy nhìn nó chống cự lúc bị trói bắt, nó kinh sợ dọa nạt để được chạy trốn, tiếng kêu bi ai đau khổ, kéo dài rên rỉ cho tới lúc bị giết! Tiếng bi ai động đến lòng người! Nỗi sợ sệt trước lúc chết như vậy mà anh nhẫn tâm ăn thịt nó sao?

Tinh thần cơ bản của Phật tức là: Chúng sinh bình đẳng. Ngăn trừ sát hại mà ăn chay. Bỡi ta có quyền lợi sinh tồn mạng sống, họ (chúng nó) cũng có quyền lợi sinh tồn mạng sống. Thấy đời sống vậy anh nỡ nhẫn tâm ăn thịt nó sao?

Học Phật, đầu tiên là học giới, không sát sinh là giới trước nhất. Không sát sinh là không ăn thịt, ăn thịt là sát sinh; Tức nếu không tự tay anh giết nó, thì cũng đã là cọng nghiệp tội phạm sát sinh, anh không ăn thịt thì người khác cũng sẽ không sát sinh.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói với Bồ tát Ðại Huệ rằng: “Phàm người sát sinh, phần nhiều là vì người ăn, người nếu không ăn, cũng không có việc sát, cho nên ăn thịt cùng với sát sinh đồng tội”.

Kinh Lăng Nghiêm, quyển sáu, Phật dạy:

A Nan, lại nữa các thế giới, chúng sinh trong sáu đường, tâm kia không sát, thì không theo việc sinh tử mà tiếp tục. A Nan! Ông tu tam muội vốn là để ra khỏi trần lao; nhưng sát sinh không trừ thì trần lao không thể ra khỏi. Dẫu có đa trí, thiền định hiện tiền, nều không dứt được việc sát thì chắc chắn sẽ rơi vào Thần đạo...”; “Các ông nên biết; là người ăn thịt dẫu được tâm khai giống như Tam Ma Ðề, cũng đều là đại la sát, báo hết chắc chắn chìm vào biển khổ sinh tử - người như vậy chẳng phải là đệ tử Phật - giết nhau, nuốt nhau, ăn nhau chưa thôi!”.

Kinh Lăng Nghiêm, quyển tám, viết rằng:

Thế nào gọi là chánh tánh? A Nan, như chúng sinh vào Tam Ma Ðề, cần thiết trước tiên là nghiêm trì giới luật thanh tịnh, trọn dứt thân dâm, không dùng rượu thịt... là người tu hành. Nếu không dứt được dâm và sát sinh mà ra khỏi ba cõi, thì không có lẽ đó!

Bậc Cổ đức nói rằng: “Ở đời không có người ăn thịt thì lò mổ không mở ra”. Thế gian nếu không có người muốn ăn thịt, muốn mua thịt, thì nghề sát sinh bán thịt sẽ không cách nào tồn tại, cũng sẽ không có người làm; Thế nào thì người ăn thịt cũng nói ngược lại:

“Không phải vì ta mà giết đâu!”.

Tất cả chúng sinh đều có bản năng sinh tồn của nó, đều có sự tự do sinh tồn. Loài người vì ham thích hưởng thụ cửa miệng, nên giết mạng của nó! Một người chịu gặp cảnh nhà phá, người chết, lìa vợ, xa con, vả hãy còn đợi cơ hội tìm cừu mà phục thù; huống gì sự chấp trước, nhiễm trước của động vật càng quá hơn con người, một khi kết thù oán là không có lúc nào không tìm đòi nợ. Nhân quả báo ứng thì ở bên thân chúng ta. Không tin thì mọi người đến quán rượu lớn lặng lẽ quan sát coi, không tin thì mọi người hồi tưởng lại con cái, sự nghiệp, gia đình, đến tình trạng sức khẻo tự thân của mình coi, thì sẽ biết mức độ tàn hại của những sinh linh nầy tìm đòi nợ mạng. Con người đối với những động vật khác tàn khốc bất nhân như vậy, cho nên mạng mạng đền nhau, nợ nợ đòi nhau sẽ xảy ra kiếp nạn đao binh.

Do đó, muốn cầu thân thể khỏe mạnh, gia đình bình ổn an lạc, con cái hiếu thuận, sự nghiệp thuận lợi; Thì nên từ nội tâm chính mình làm ra, không nên sát sinh ăn thịt. Giả dụ như còn nhẫn tâm sát sinh, ăn thịt thân chúng sinh, thế thì trả báo nợ oán là điều trốn không khỏi!

Ăn chay, thơ xưa chép rằng: “Vị máu thịt dầm dề đáng quí, nỗi khổ đau cũng vậy khó phân, xét lòng muốn - để nơi thân, thì ai chịu lấy dao phân chính mình?”.

Có người nói: “Ta niệm Phật tụng kinh, tâm cũng rất tốt, hà tất phải nhất định ăn chay?”. Ðây là lời dối mình, dối người. Thử nghĩ: “Lưỡi dao chặt xuống chúng sinh, mà niệm Phật tụng kinh các thứ, nói thế nào Từ bi! Miệng nói niệm Phật tụng kinh các thứ, mà đem một cục thịt nhét vào miệng, đây nói là Từ bi thế nào?”.

Ðã có thể buông cả sự quyến luyến của thế giới Ta Bà, cầu sinh thế giới Cực Lạc, vì sao buông không được vấn đề ăn thịt nầy? Ngài Liên Trì Ðại Sư nói: “Thiên hạ nói đâm thân ăn thịt đó là tâm hung dữ, tâm thảm, tâm độc, tâm ác, đâu thế vậy! Vậy còn tâm tốt đang ở đâu?”. Tâm Từ bi là bản thể của chư Phật và Bồ tát, hành vi hung tàn sát sinh ăn thịt cùng với Từ bi rất là trái nhau, mà đời hiện tại thì mắc quả báo mạng sống ngắn ngủi và nhiều bệnh. Thử hỏi: vì tật bệnh trọng đại trói buột, có mấy người còn có thể phát khởi được chánh niệm - niệm Phật. Cho nên đức Phật nói rất cảm khái: “Thân người chết nhiều như đất của đại địa”. Chư Phật dùng các món phương tiện, cứu tất cả chúng sinh, vì sao còn có những người nhiều như thế, ngay cả thân người đều giữ không được? (chỉ cho tư cách, cơ hội đầu thai chuyển sanh làm người đều không có), đây là vấn đề rất nghiêm túc, vả lại đây là vấn đề được suy nghĩ sâu xa!

Có người nói rằng: “Ta ăn thịt không nhiều, lại là thịt từ chợ mua về, tâm địa của ta cũng rất tốt, và vả lại thường niệm Phật tụng kinh, làm việc thiện, như vậy có thể giữ được bình yên hay không?”. Ðây là nhân chẳng phải thường mà mong quả - Tự mình sát sinh ăn thịt thì tạo nghiệp đoản mạng, bệnh nhiều; Ngược lại, mà yêu cầu quả báo bình an, trường thọ, sức khỏe của cá nhân không sát sinh, không ăn thịt, thế cầu được không?

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Người ăn thịt mà cầu công đức, tất không thành tựu!”.

Muốn chơn chánh tu hành, liễu sanh thoát tử, thì cần phải nắm lấy từ nhân địa, nhân không chánh, thì cầu không được chánh quả. Cho nên chư vị Ðại đức Phật học đời nầy, như lão cư sĩ Hạ Liên Cư nói rằng: “Việc quả báo tìm nhau thật đáng buồn thương, ai biết được luân hồi từ cái nhân, hỏa kiếp đầy trời rực rỡ khiến lo lắng, đều là một niệm sát sinh ăn thịt mà đến”. Do đó, vấn đề khuyên nhau tu hành, niệm Phật, ăn chay, bất tất phải bàn nói đến chỗ huyền diệu nữa, chỉ cần nhớ một câu: “Việc mình không muốn, đừng nên đem đến cho người, cho chúng sinh”. Từng giờ chiếu xét chính mình, kiểm thúc chính mình, thì thịt của chúng sinh có thể ăn hay không? Ăn rồi, trả nợ thường mạng đủ không, lại bèn có thể hiểu biết rốt ráo, tự ta xét định, bất cần người sao cũng được, tự sai lầm, sai lầm đến người!

Sát nhân thường mạng, thiếu nợ trả tiền, đây đã là đạo lý của thế gian. Người sát sinh ăn thịt cướp đoạt đi cái sinh mạng rất tôn quí của chúng sinh, và đem nhục thân rất coi trọng của nó mà ăn đi; Nỗi cừu sâu hận lớn nầy, ở một chút lòng sửa lỗi sám hối, tình huống đó đều không có, tụng một vài biến kinh, lạy - niệm một vài câu Phật, ăn một chút rau cỏ nhỏ nhoi thì có thể qua loa mà kết duyên được không? Cho nên nói: việc cầu công đức, đều không thành tựu.

“Tam tịnh nhục cũng không nên ăn. Tam tịnh nhục là: - không vì ta mà sát - ta không thấy sát - ta không nghe sát. Có người nói: “Ta đến chợ mua thịt mà người ta giết rồi, hoặc nấu chín đã thành rồi về ăn, nên ta không có tội lỗi?” Ðây là cách nói xô đẩy trách nhiệm. Thịt ở chợ hay lò mổ là vì ai mà giết? Cần phải hiểu rằng nhân trước có người ăn thịt nên mới có người sát sinh bán thịt, nhân có người sát sinh bán thịt thì có người ăn thịt, hai loại người nầy là liên kết tạo thành tội ác sát sinh.

Kinh Lăng nghiêm nói rằng: “Nếu không dạy không cầu, thì không có tam tịnh nhục”.

Trứng; có người cho là trứng gà hiện tại là trứng gà chuyên nghiệp nuôi dưỡng sinh ra, đều không có thụ tinh, nên không có sinh mạng! Chúng ta có thể an tâm ăn! Nhưng trứng là có “noãn tử” tức là có sinh mạng rồi, nếu nhân duyên đầy đủ (thụ tinh) nuôi thành “ấu thể” của gà; hiện nó không có thụ tinh thì hãy còn có sinh mạng, nếu anh ăn nó rồi, như thế oán cừu đã kết. Huống gì là mùi vị của thịt ngon hơn trứng rất nhiều hãy còn không ăn, hà tất lại bỏ không được vấn đề ăn trứng nầy sao?

Cho nên người tin Phật thì hiểu rõ được nhân quả, không rõ nhân quả thì không thể tu hành! Nhân quả thì mảy may không sai sót, nhân quả báo ứng như bóng theo hình, so ra vi tế hơn chân tơ kẽ tóc, một chút cũng trốn lánh không được, không thể không nhận thức chính mình, không thể không rõ nhân quả, lại càng không thể không tin nhân quả.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có một đoạn kinh văn nói: “Các chúng sinh cầu “tam ma đề”, phải dứt năm món rau cay thế gian. Ăn năm món đồ nầy, có năm việc hại”.

Năm việc hại là:

1 - Sinh lỗi; Năm món cay, ăn sống thì sẽ khiến cho khí của tỳ biến xấu, ăn chín thì sẽ tăng trưởng lòng dâm dục.

2 - Xa trời; Dẫu cho có thể giảng kinh nói pháp, thiên tiên và thiên thần mười phương cũng sẽ ngờ là dơ nhớp, mà lánh xa khỏi.

3 - Gần quỉ; Chúng ngạ quỉ mừng vui liếm môi, mổ mép, thường ở chung một chỗ với quỉ.

4 - Tiêu phước; Phước đức lần hồi tiêu mất, thường không được lợi ích.

5 - Nhóm họp với ma; Dù cho tu được thiền định, cũng sẽ nhân việc thiện thần bỏ đi xa lìa, mà nhường cho quỉ ma trống chỗ chen vào. Ma đến dạy người quan niệm in hình như phải mà lại trái, đến nỗi hủy phạm thiện giới thanh tịnh. Sau khi chết thành quyến thuộc của ma vương, sau khi phước báo cõi ma hưởng hết rồi, lại sẽ đọa vào địa ngục vô gián.

Năm loại đồ ăn cay là: Hành, tỏi, hẹ, kiệu, và cừ (?) (có thể là loại củ nén). Năm món thực vật cay nồng nầy, là trí Phật coi xét không sai sót mảy may, là Phật tử nên kính tin mà ngừa ăn đó. Các loại rau cải phần nhiều là ăn được hết, chẳng nên nhân việc nhỏ mà mất việc lớn.

Nếu có người đả phá biểu tượng Phật, reo rắt là ăn thịt, uống rượu, hành dâm không ngại đến việc tu hành, cái được ở ngay nơi tâm! Người đó không phải thân chứng quả Phật, mà là tà thuyết, cuồng ngôn loạn ngữ, họ nói rằng: “ăn thịt là độ chúng sinh, ăn càng nhiều thì độ càng nhiều, rán sức mà ăn; Ăn càng nhiều, công đức càng lớn. Lại đây, ta dạy cho kiết ấn, trì chú, siêu độ chúng nó thăng thiên!”; Thế nầy trái với lời Phật nói! Người nầy nói lời mê ngủ của ma, đánh đổ cờ xí Phật, tướng giống người tu, thật là loài ma, nên cẩn thiết chớ quá đáng! Ta nên mau mau xa lìa để khỏi hư hoại huệ mạng của ta, mất đi chánh đạo.

Ăn chay là bước khởi đầu rất cơ bản của vấn đề học Phật, nếu còn sợ khó chân không bước tới trước, phải nên tự suy nghĩ, vì sao cần học Phật? Rất nhiều người chưa ăn chay không biết chỗ tốt của ăn chay, còn người đã ăn thì không sạch miệng, cho đến nỗi có kẻ chứa điều tai hại tạo nghiệp, có kẻ phạm trai phá giới, tự đoạn giống Phật, rất là đáng buồn thương!

Ăn chay là một cửa tắt để tu thân dưỡng tánh. Ăn chay, rốt cuộc có chỗ tốt đẹp gì? Do rất nhiều điều tốt, chỉ có tự mình ăn chay mới có thể hiểu được, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Chỗ tốt của việc ăn chay trừ vấn đề không cùng với chúng sinh kết oán cừu ra, còn có thể giảm ít đi dự phòng và phát sinh bệnh tật, thân thể cường tráng, còn được sinh tâm hoan hỉ, tâm từ bi, so về kinh tế, giá trị dinh dưỡng cũng so cao hơn.

ĂN CHAY LÀ VẤN ÐỀ NGUYÊN TẮC

Không sát sinh là giới đầu trong giới luật rất là cơ bản của Phật. Nhưng vấn đề năm mùi vị khiến miệng người ưa thích, bỡi đã là thói quen do nghiệp lực dẫn dắt từ nhiều đời nhiều kiếp, nếu một người nào đó buông bỏ mỹ vị mà đổi lại ăn đồ chay thì rất là chẳng đơn giản chút nào mà lại khó khăn mười phần. Ăn đồ chay, chúng ta là người tu hành học Phật cần phải suy tư về nó, chứ không phải là ưa hay không ưa ăn! Vấn đề ăn được hay không, dễ hay khó thì đó là vấn đề tu hành học Phật, chí thành chân tâm hay không của chính mình? Nếu học tu hành chí thành chân tâm thì giữ vững nguyên tắc, xả bỏ sự thèm muốn cửa miệng, chỉ ăn toàn đồ chay! Như nếu tin Phật mà không tu hành, không dùng đồ chay; Ðó là “ý thức” quyết định sự “tồn tại” không dính líu với người khác. Ăn chay là một lối đi tắt hoàn chỉnh nhân cách. Tâm lý sẽ ảnh hưởng sinh lý, nếu ở nơi tâm lý cho rằng đồ chay không thích ăn, thế thì nuốt không trôi; cho là ưa ăn thì dù không bỏ bột nêm vào mà ăn vẫn thấy ngon, thích ăn chay hay không, ăn được hay không đều do ở nơi tâm lý phát sinh ra cả. Thật sự mà nói, bỡi vì thế mà có những cụ già bà lão ăn chay đến mấy chục năm, đến lúc gần chết còn bỏ chay ăn mặn; có những Tỳ kheo sau khi hoàn tục vẫn vậy không ưa thích thịt cá. Có thể thấy rằng người đời giữ vững nguyên tắc là một việc rất gian nan khổ sở! Một người lập chí học Phật tu hành, việc sinh tử đều có thể buông bỏ thì hà tất gì ở nơi một chút việc ăn chay mà làm cho chướng ngại ngay nơi tâm lý. Chúng tại gia chúng ta, muốn thoát lìa biển khổ mới đi học Phật, lại còn sợ ăn chay, cho là đồ chay sẽ làm tổn thương sức khỏe! Như thế e rằng học không được cái gì cả!

Ăn chay, đối với đạo Phật thật ra là việc nhỏ, nhưng ngược lại là cửa ngõ số một cho người học Phật. Chúng ta trang nghiêm cuộc sống Phật đạo, không nên theo thế tục tham lam mưu cầu sự thèm muốn miệng bụng, đường lớn ngay phía trước, quần ma nhường lối, còn có cái gì so bì nghiêm túc bằng việc ăn chay?

Có người nói rằng: Học Phật thì tốt. Cũng có người cho rằng: Tâm tốt thì tốt, sao nhất định phải ăn chay học Phật? Anh cho rằng cuộc sống hiện tại tốt, không ăn chay thì không ăn chay; Song học Phật là muốn ra khỏi sáu nẻo luân hồi (ra khỏi ba cõi), lìa khổ được vui, thì phải ăn chay.

Tất cả chúng sinh bình đẳng, người cho rằng lòng dạ của người tốt, vậy thì hãy nhìn xem sự đau đớn giãy giụa, rên la, sợ sệt khi chúng sinh bị giết, người nói đó là tấm lòng tốt của người phải không? Mọi chúng ta nhu cầu cho thân thể ít, mà ăn thịt lại nhiều, ngay trên việc ăn uống lại cầu cho vị ngon thích miệng, vì nhất thời miệng bụng hưởng thụ mới giết chúng sinh để ăn, như vậy người có lòng Từ bi không? Ðệ tử của Phật thì tâm phải thanh tịnh, thân cũng cần trong sạch. Những người ăn thịt chúng sinh đem bao tử của mình làm chỗ chôn cất chúng sinh, thế thì thân thể của người có trong sạch không? Mà thân đã không trong sạch, thì chư Phật, Bồ tát không nguyện ở với người rồi.

Kỳ thật, thịt chúng sinh không phải là vị ngon họp khẩu mà là những đồ gia vị, nếu trong lúc nấu nướng thịt chúng sinh mà không nêm bất cứ thứ gia vị nào để điều chỉnh, người sẽ thấy rằng không ngon, ăn không được.

Người đời phần lớn cho rằng chỉ có “sơn trân hải vị”, thịt béo cá to mới ngon, mới có dinh dưỡng. Rau xanh, đậu hủ những món quay qua quay lại của hạng người bần cùng mới ăn. Kỳ thật cái ngon của đồ chay hay mặn, rau đậu hay cá thịt, khi vào miệng qua cổ rồi, vị gì cũng đều không còn nữa! Ăn uống chủ yếu là làm cho bao tử không đói, miệng không khát, duy trì thân thể mạnh khỏe. Ðồ ăn không phải là xem đẹp xấu, giá trị cao thấp của nó để phân biệt tốt - xấu, mà phải coi thử ăn nó có khỏe mạnh cơ thể hay không.

Ăn chay, không ăn thịt chúng sinh, ngay cả những đồ có pha chế thịt hay trứng cũng chẳng được ăn.

Ăn chay, không ăn thịt chúng sinh, nhưng mua về những đồ giả gà, giả cá v.v... nói chung là những đồ giống như thịt cá, để ăn cũng chẳng được. Bỡi vì đây là tuy niệng không ăn thịt chúng sinh, ngược lại trong tâm lại ăn, thân thể thì tịnh mà trong tâm không tịnh.

Học Phật tức nên ăn chay, nếu người khác trong gia đình phản đối thì trước nên hiểu rõ đạo lý Phật dạy, ở gia đình, ở xã hội, nương soi lý Phật mà làm, làm cho đức hạnh mình tốt, trong tâm thanh tịnh, khiến những người khác trong gia đình hiểu được anh đối với ngày chưa học Phật về trước tâm tham lớn, tâm sân nặng, thiếu sót trách nhiệm cảm đến tâm từ bi; Ðến nay sau khi học Phật tất cả đều biến đổi, tâm tham ít, tâm sân mỏng, từ ái với người, làm việc có trách nhiệm gánh vát. Khiến cho người ta hiểu chỗ tốt mà anh học Phật, đối với gia đình và xã hội. Lúc đó muốn ăn chay, người nhà không những không phản đối mà ngược lại khởi tâm đồng tình, lần lần học cùng anh. Như học Phật mà chỉ học ăn chay, không học việc gì khác, thì nhất định sinh chướng ngại.

Phật học muốn cầu bình đẳng, từ bi thì phải ngăn chặn việc sát sinh, cho nên đề xướng ăn chay. Từ trước đến nay người ăn chay thuộc về lý do tôn giáo. Những năm gần đây vì sau khi khoa học dinh dưỡng và cuộc sống tiến hóa tiến bộ, mới biết rằng ăn chay và sức khỏe có sự quan hệ mật thiết với nhau, ăn dùng thân xác động vật tệ hại vô cùng. Gần đây vừa phát hiện dùng đồ ăn thiên nhiên tươi sạch thay thế cho thịt và đồ ăn gia công bào chế, không những thể lực mạnh khỏe mà độc tố trong cơ thể cũng giảm ít đi, đối với nhiều tật bệnh khó trị cũng trợ giúp rất lớn, khiến người có chứng bệnh đau đầu cũng có thông tin trị bớt.

Nay các chuyên gia khoa học gần đây nghiên cứu thành phần dinh dưỡng đối với đồ chay, đề cập tới phân lượng dinh dưỡng của đồ ăn mà thân thể nhu cầu, đưa ra một giới thiệu đơn giản thành phần dinh dưỡng của đồ ăn mà nhân loại nhu cầu, bao quát có:

1 - Ðường

2 - Dầu, mỡ

3 - Chất lòng trắng trứng (Protêin)

4 - Chất khoáng.

5 - Chất cà rốt (Carotin)và Vitamin.

6 - Vitami PP.

Giờ xin đem nguồn gốc các chất dinh dưỡng của thực vật mà cơ thể con người nhu cầu nói rõ sau đây, mong rằng mọi người có chỗ nhận biết:

- Ðường: Có ở trong các loại ngũ cốc, đậu xanh, đậu vàng v.v...

- Dầu, mỡ: Có trong rau cải, đậu vàng, đậu phộng, mè, ngô, rau, dầu, hạnh nhân, đậu xanh v.v... Trong trái cây thì hạt dưa hấu, trái dừa, hạt dẻ, quả hạch đào v.v...

- Chất Prôtêin: Trong rau cải thì có ở trong các loại họ đậu và các món được bào chế, toàn lúa mạch được bào chế, con men, ngô, quả có hạt, đậu vàng, đậu phộng, mè, hạt hoa hướng dương, bốn món trên hàm lượng rất phong phú.

- Chất khoáng: Chế ra từ các món họ đậu như mè (vừng), con men chế ra từ ngũ cốc, rau cỏ xanh như: Hải đới (côn bố - tên thuốc), bí đỏ, đông cô (nấm), cà chua v.v...

- Chất Carôtin và Vitamin: Các loại đậu, mộng đậu, rau lá xanh và các loại trái cây v.v...

- Vitamin P.P: Ðậu phộng, các sản phẩm được chế toàn ngũ cốc, gạo chưa giã và các loại đậu.

Ăn uống chủ yếu tốt nhất là gạo chưa giã, hoặc toàn mì miếng, không cần phải ăn mì trắng gạo trắng. Nếu gạo chưa giã không dễ mua thì có thể dùng mầm phôi để thay thế cũng được.

Phải nên thường dùng các loại rau cải tốt tươi, trái cây cũng nên ăn nhiều, lá rau xanh tốt tươi phải có trên một nửa trong bữa ăn.

Rau cải, trái cây lúc mua về dùng năm phần muối và một trăm phần nước ngâm nó mấy phút xong đem tẩy rửa ở vòi nước sạch, để trừ khử nồng độ của thuốc độc.

Ăn uống tốt nhất có một vấn đề rất là trọng yếu tức là rau cải, trái cây, hoặc rau non cần phải không có thuốc men độc địa, ký sinh trùng hoặc ô nhiễm. Không như vậy thì rất là nguy hại, rất phải nên chú ý.

Các loại đậu, đậu phộng, mè, (vừng) là gốc chủ yếu của Protein, không nên ngại làm phiền mà không ăn đó, chỉ ăn đậu hũ, đậu tương thôi thì sẽ không đủ dinh dưỡng. Nếu dùng nó quá lượng sẽ có lúc bị đau, thì nên dừng ăn mấy ngày sẽ hết đau, giảm lượng ăn mà không hết tức là người đó có bệnh, nên cần phải đến thầy thuốc.

Rau cải không nên ăn lạnh, lúc nấu nên bỏ thêm mấy miếng gừng để được trung hòa.

Rau cải, trái cây, đậu phộng, tốt nhất là ăn sống, vì ăn sống dinh đưỡng nhiều hơn là nấu ăn chín (hạt giống nóng quá sẽ không thể nảy mầm sinh trưởng).

Mè (vừng) nếu lúc có cát lộn vào, nên dùng nước đãi bỏ và đem rang chín mà ăn.

Cơm gạo lức (gạo chưa giã) là phương cách tốt nhất.

Gạo lức, cách nấu nếu giống như gạo trắng, cơm đó nấu ra hạt sẽ khô xảm khó nuốt, ăn xong lại khó tiêu hóa; Nếu như hiểu được cách nấu thì cơm khi nấu ra sẽ rất mềm mà lại dễ ăn, hiệu suất tiêu hóa lại cao hơn gạo tinh trắng - phương pháp nấu cơm gạo lức như sau:

1 - Gạo lức chưa được vo sạch mà đã gấp rút nấu, vì bên ngoài của lớp gạo lức có một lớp vỏ đen, nước ngấm qua lớp vỏ đen nầy để đến được gạo bên trong ít nhất là hai giờ đồng hồ, cho nên giả như lúc nấu là sáng, thì hay nhất là trước lúc gần ngủ đem gạo rửa sạch ngâm một đêm.

2 - Lúc nấu để nước ngập gạo và trên một nửa so với gạo. Dùng nồi nấu mau tốt hơn dùng nồi điện.

3 - Thời gian nấu cần phải lâu hơn thời gian nấu cơm trắng hơn mười phút.

4 - Không được nấu chín thì ăn liền, đợi trong nồi giữ yên cơm sau mười phút, từ từ nguội dần rồi mới mở nắp ra ăn. Nên nhai nhỏ nuốt chậm, không nhai nhỏ thì không dễ tiêu hóa.

Trên đây là bốn phương cách để nấu cơm gạo lức, đã ăn ngon mà sức tiêu hóa lại cao.

Các loại đậu lúc nấu thì chẳng cần rửa kỹ mới nấu, nhưng cũng nên phải ngâm sau vài giờ mới dễ nấu chín nhừ.

Buổi sáng nên ăn no khoảng tám phần, không cần chỉ ăn cháo, tương, rau, cũng được. Trưa ăn no khoảng bảy phần, bữa chiều no năm phần. Bữa chiều không nên ăn quá no, càng không nên ăn dặm buổi tối, vì ăn dặm buổi tối rồi ngủ, lúc ngủ dậy, nước dịch xúc tác vấn đề tiêu hóa giảm ít đi, mức độ tiêu hóa tự nhiên chậm lại, kết quả sáng ngày thứ hai không còn muốn ăn sáng nữa.

Sau khi ăn xong trong vòng một tiếng đồng hồ không được tỉnh tọa hoặc niệm Phật to tiếng, vì như thế dễ sinh bệnh về đường ruột. Ðây là tác dụng của sinh lý.

Ăn chay, vì không rõ về dinh dưỡng đối với đồ ăn cho nên cho rằng dinh dưỡng không tốt, thân thể suy nhược, lại sợ ăn chay không tốt nên thối lui tâm Phật, thế thì rất là đáng tiếc!

Chất dinh dưỡng trong thân thể chúng ta nhu cầu thành phần thực vật hàm lượng phong phú hơn xa so với động vật. Ngày nay chúng ta tu hành học Phật, mượn giả tu chơn, nghiên cứu đối với dinh dưỡng đồ ăn chay, không được thiếu sót, mong mọi người cùng đồng nghiên cứu, để thân thể cường tráng khỏe mạnh, làm gương mẫu tốt để độ được nhiều chúng sinh.

Ăn chay điều cần yếu là cân bằng được sự ăn uống với thân tâm, mới có thể thu được hiệu quả lớn.

Ăn đồ sống là sản phẩm thánh làm đẹp dung mạo.

Ăn đồ sống là thuốc hay làm giảm béo phì.

Ăn đồ sống (là phép ăn thiên nhiên) là đồ ăn về thực vật mà đồ ăn đó chưa được nấu chín và trải qua sự gia công bào chế, ví như rau cải, trái cây, dưa, đậu v.v... các loại.

Vấn đề ăn sống, bất kỳ người nào cũng đều có thể thực hành, có ích mà không có hại, ví dụ như phần lớn hoặc toàn bộ là đồ ăn sống, một vài tình cảnh nào đó tốt nhất là cần phải trải qua thời kỳ quá độ, trước thì số ít, sau lần lần tăng thêm, chờ đến sau ba tháng thì mới ăn đồ sống số nhiều.

Có vài nguyên tắc là người chủ yếu ăn thịt, nếu như một vài biến chuyển do ăn đồ chay hoặc ăn đồ sống, chất độc trong cơ thể sẽ bài tiết ra rất mau, có thể chịu không được.

Ăn đồ sống là phép ăn thiên nhiên mục tiêu sau cùng là lấy mầm cải của hạt nảy ra hay trái cây, rau cải làm chủ yếu. Nhưng khi mới bắt đầu, đường ruột vì chưa có thói quen lập tức, vì vậy cần phải trải qua một khoảng thời gian (ước chừng ba tháng), ở trong khoảng thời gian nầy nếu có thể tuân thủ một vài nguyên tắc cơ bản, thì sẽ dễ dàng thay đổi thôi:

1 - Lần hồi tăng thêm lượng rau quả tươi tốt. Mức độ thấp nhất là 5O% rau sống.

2 - Trước và sau bữa ăn không nên uống canh và nước, vì sẽ làm loãng đi chất nước dịnh kích thích tiêu hóa.

3 - Lúc đói mới ăn, lúc tâm tình không tốt, hay nhất là không nên ăn.

4 - Trái cây ăn tốt nhất là thời gian giữa hai bữa ăn, trái cây rất dễ tiêu hóa, nhưng nếu như ăn sau bữa ăn thì không thể hoàn toàn phát huy được hết tác dụng dinh dưỡng của nó.

Sau đây là một chút kiến nghị về ba bữa ăn trong một ngày:

Sáng có thể kiểm soát cái tốt cái xấu trạng thái và tinh thần của một ngày, nhân đây lựa chọn đồ ăn cần đặc biệt chú ý. Buổi sáng trái cây là lý tưởng nhất, chỉ cần thêm một ít hạt đậu phộng hoặc mè.

Ðổi cách ăn tốt là ăn đồ sống như thế có hưởng thọ những đặc quyền như là: Tiêu hóa tốt, đường ruột thông suốt, nhuận trường, giấc ngủ yên ổn, thậm chí đối với bên ngoài của con người cũng sẽ thay đổi (trẻ trung), đầu tóc đen mướt, răng cứng cáp, da dẻ mịn màng, hai mắt có thần.

Khi thời gian đầu thân thể giảm cân, đây là hiện tượng đáng mừng, bỡi vì trong cơ thể sẽ bài tiết ra những tế bào không tốt, mới có thể tổ chức lại những tế bào mới. Ở trong thời gian chuyển biến có một vài việc có thể sẽ cảm thấy không được thích nghi như: Cảm giác đau đầu, phát nóng, hoặc tinh thần không phấn chấn... đây là những độc tố trong cơ thể bài tiết quá mau, độc tố còn lại ở trong máu dịch tuần hoàn dẫn đến như vậy. Nhưng những hiện tượng nầy sẽ qua mau (không cần đi bác sĩ hoặc uống thuốc gì cả), qua thời gian sau đó có cảm giác mỏi mệt rã rời. Nên rất tự nhiên bình tĩnh, người nào nếu tuân thủ những qui luật nầy, thì sức khỏe, vui vẻ thuộc của người đó; Nếu ngược lại, thì tật bệnh, già suy sẽ là một phần lớn trong cuộc sống của con người. Sự lựa chọn sau cùng vẫn là ở nơi tự cá nhân mỗi người.


---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn