Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Dẫn nhập

26/04/201318:25(Xem: 2574)
Dẫn nhập

PHÁP MÔN
Trì Danh Niệm Phật, Vãng Sanh Cực Lạc

Tác giả:Huỳnh Lão cư sĩ

Hải Huyền Viên Giáodịch

PL. 2545

---o0o---

DẪN NHẬP

Phật tử là người Quảng Ðông, sinh năm Dân quốc thứ 18, lúc nhỏ thì không tin Phật, không bái thần, có thể nói trong rối rắm càng mơ hồ rối rắm lộn xộn, hơn nửa đời người, đến lúc sắp đậy nắp quan tài luận tội, mới tin Phật, học Phật tu hành, đáng tiếc muộn một chút, nhưng hãy còn chưa chậm. Trong bảy mươi hai năm, cơ duyên chín muồi, ngẫu nhiên gặp trên báo liên hợp xuất bản có in giúp “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Ða linh dị lục”, theo đó được mấy bản in giúp, sau đó nhận được quyển “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Ða linh dị lục”. Lại nhận được mấy tờ tạp chí của “Phật giáo tạp chí xã” từng kỳ gởøi đến, và thỉnh được mấy quyển sách Phật, được nghe Phật pháp, mới để tâm với việc lớn sanh tử, nhân quả (thiện có báo thiện, ác có báo ác). Con người từ đâu sanh ra? Chết đi về đâu? Thế giới ta bà là biển khổ! Người nghèo khổ, người giàu cũng khổ! Khổ nhiều vui ít, ra khỏi ba cõi sáu đường, lìa khổ được vui - gọi là Chơn lạc. Khái lược có nhận thức, chỉ hơi tin Phật mà không học Phật tu hành thì không ra khỏi vòng luân hồi của ba cõi sáu đường, chính như vậy mà bắt đầu học Phật tu hành.

Nhân vì cảm thấy: khó được thân người, khó sinh nơi trung tâm quốc gia, khó nghe được Phật pháp, khó gặp được thiện tri thức, khó sanh được tín tâm, lên một tầng khó hơn một tầng.

Khó được thân người: Con người đời đời kiếp kiếp đều ở trong lục đạo luân hồi, may mắùn có thể được thân người, thật chẳng phải dễ!

Khó sinh nơi quốc gia trung tâm: không phải sanh nơi có Phật giáo thôi, mà Phật giáo lại phải thịnh hành. Trên thế giới, địa phương có Phật giáo không nhiều, mà chỗ Phật giáo thịnh hành càng ít. Như ở Ðại Lục ngày trước thì có Phật giáo mà lại thịnh hành, nay chỉ có Phật giáo mà không thịnh hành. Mỹ quốc ngày trước không có Phật giáo, ngày nay có mà không thịnh hành. Ðài Loan là nơi có Phật giáo lại thịnh hành...

Khó nghe Phật pháp: pháp môn tịnh độ trì danh, niệm Phật lại càng khó nghe. Kinh Phật là kinh dùng văn nói, văn tả, hiện đại kinh người ta đọc là văn bạch thoại, nếu người không đọc qua văn nói, xem kinh Phật thì không hiểu, lại không thể nói được Phật pháp thông đạt, hiểu rõ nghĩa kinh. Xem kinh Phật không giống như xem sách tham khảo hay phương tiện nào đó, ưa xem thì đến thư viện để xem, nếu muốn xem lại phải mất công sức đi tìm. Người thường được nghe pháp sư giảng kinh thuyết pháp cũng chẳng có nhiều, người có thể nghe pháp sư giảng về phương pháp tu hành trì danh niệm Phật lại càng ít... Nhơn ở nơi chúng tại gia chỉ tin Phật cầu phước báo nhân thiên: ăn no, mặc đẹp, ở nhà tốt, ăn uống vui chơi tận tình, không tu hành!Vì vậy pháp sư giảng kinh thuyết pháp cho chúng tại gia, viết ra chú trọng trên vấn đề học giáo lý ở nơi Phật học, ít đề cập đến phương pháp tu hành học Phật.

Khó gặp thiện tri thức: có thể gặp được người thông đạt Phật pháp, hiểu biết lý nghĩa, lại là bậc thiện tri thức tu pháp môn tịnh dộ trì danh niệm Phật, dạy cho phương pháp tu hành, trì danh niệm Phật, rất khó rất khó!

Khó sanh tín tâm: không tin Phật! Không có gặp ma quỷ thần, chẳng tin có Phật, Bồ tát, hoặc nói Phật giáo là dạy mê tín, thậm chí hủy báng tam bảo. Tin Phật mà không chịu học Phật tu hành, sợ tu hành thì phú quý, vinh hoa, ham muốn vui, hưởng vui không thành được. Muốn tu hành mà ở trong thế giới muôn màu, một khi nghe tu hành cần phải giữ gìn tịnh giới, ăn trường chay, cuộc sống đạm bạc giản dị thô sơ, thì sợ co lại không dám tiến về trước, quay đầu ra sau mà chạy. Hoặc gấp rút ra công cho mau gần tới cái lợi, học Phật tu hành chỉ tu tự lực, tu pháp môn: khai ngộ. Khó tin tịnh độ, chẳng chịu niệm Phật.

Nay đây thân người đã được, lại sanh ở Ðài Loan có Phật pháp thịnh hành, có may mắn được nghe Phật pháp, lại biết học Phật: Phương pháp trì danh niệm Phật. Sợ khó ư! Không học Phật niệm Phật tu hành, một khi mất thân người, không biết đời nào kiếp nào lại có thể được nghe Phật pháp! Ðèn trước gió - ngày cuối năm sắp hết, bóng dương quang đâu còn được là bao, một khi dụ dự lầm lỗi, chỉ hơi tin Phật mà mê đắm những dục lạc hưởng thụ ở thế giới này, đến lúc mất thân nguời thì khổ thay khổ thay!

Phật tử là chúng tại gia hạ căn, chỉ lược hiểu về Phật pháp, duy có lòng cung kính chí thành, một lòng nguyện sanh thế giới Cực Lạc, y cứ nơi sự dạy dỗ như pháp tín thọ phụng hành, tin sâu thiết tha nguyện trì danh niệm Phật.

Bảy mươi tám năm đơn thân bước vào cửa sen (hạ thủ công phu tu hành), tự che nhà nhỏ, đóng cửa lại, tạ từ dứt mọi ngoại duyên, không có việc không ra khỏi cửa, không xem ti vi báo chí, chẳng nghe âm nhạc, chỉ nghe chơi tân văn rộng rãi, quá ngọ không ăn, chuyên tu trì danh niệm Phật, thời gian từng ngày qua đi được vui vẻ lắm!

Cảm nhận sâu xa kinh điển Phật giáo, sách quyển rất nhiều (ước gần vạn tập). Lúc kinh Phật từ Phạn văn dịch ra Trung văn, người lúc đó dùng văn nói văn viết, nghĩa giáo rộng rãi, lý nghĩa nói ra lúc đó từ ý rất là sâu, danh tướng rất là nhiều, khó đọc khó hiểu - Văn người đời nay đọc là văn bạch thoại, nếu chưa từng đọc qua văn nói, văn rất khó xem, hiểu được Phật pháp, càng không thể nói rõ nghĩa được. Chỗ nói rằng hiểu rõ về Phật pháp, cũng là phần nhiều nương nơi kinh mà giải nghĩa thôi, cũng có nhiều người nghiên cứu đọc tám năm, mười năm cao lắm chỉ hiểu phân nửa. Người đời nay nếu chẳng tu trì trong sạch, qua loa không dễ gì hiểu sâu được nghĩa. Tuy phát tâm nghiên cứu đọc tụng, thường khó nhập môn. Ðược tinh thông nghĩa, nhiều đời Tổ sư đại đức viết ra cũng chẳng phải là ít. Hiện tại trong hoàn cảnh này, người đời vì viết để làm kế sinh sống, cuộc sống càng thêm bận rộn, từ đó làm sao tìm ra thời gian để nghiên cứu đọc tụng ư? Nói gì đến hiểu rõ Phật pháp. Cũng nhân nơi cái biết không sâu, tín lại không kiên cố, nguyện càng không thiết tha, tu hành bất lực, tâm địa thô tháo, trong quá trình tu hành gặp hoàn cảnh bất lợi, hoặc là bị sự công kích của ma oán nghiệp xưa, không thể hiểu được duyên cớ.

Cảm một cách sâu xa rất nhiều đối với những bạn học Phật, chỉ biết làm thiện, cầu tài, cầu thọ, cầu bình yên... Không biết học Phật để tu hành, ra khỏi ba cõi, lìa khổ được vui, cho đến thành Phật!

Người có chí học Phật tu hành, chẳng biết Phật pháp trong đó tối trọng yếu là bộ kinh điển nào để mà đọc đây? Pháp môn tu hành lại nhiều như thế, tu pháp môn nào được? Chỉ thích tin tin Phật, tụng tụng kinh, lạy một vài lạy Phật, niệm một vài tiếng Phật qua loa. Hoặc người học về thiền tông, ngồi ngồi rồi đi, được chút ít hiểu biết lạ, linh cảm giống giống hoặc thấy ánh sáng, thấy hình ảnh... các cảnh giới biểu hiện thì cho là khai ngộ rồi. Hoặc là người học Tịnh dộ cho là niệm một vài tiếng Phật là niệm Phật, thì có thể mệnh chung về thế giới Cực Lạc rồi. Chẳng cố gắng thật sự niệm Phật, chẳng chịu niệm Phật nhiều, không có tập quán niệm Phật, trong tâm không có Phật không thể cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Ðông đảo chúng sinh, người có thể niệm Phật, có được bao nhiêu người ư? Rất ít. Người có khả năng biết phương pháp trì danh niệm Phật tu hành, lại có được bao nhiêu người ư? Càng ít!Người giàu có lại bị mê muội ở nơi giàu có, người thông minh bị mê muội ở thông minh, người ngu si bị mê muội ở ngu si.

Nếu có một quyển sách hệ thống lược đủ cho người tại gia học Phật trì danh niệm Phật tu hành, mọi người sẽ thấy được rõ ràng. Vả lại, một quyển sách dễ học dễ hành, khiến cho người có chí trì danh niệm Phật tu hành, thì cũng có khả năng vãng sanh thế giới Cực Lạc rất nhiều!

Vì cảm nhận đối với vấn đề này, đem chỗ biết viết thành: “Trì danh niệm Phật vãng sanh Cực Lạc pháp” mà đơn giản giới thiệu, để cung cấp cho người có chí học Phật niệm Phật tu hành, để giúp tham khảo và gắng kết thiện duyên.

ÐỜI NGƯỜI MONG CẦU

Giàu có, sống lâu, khỏe mạnh, vui vẻ... người người đều muốn có để hưởng, nhưng người đạt như nguyện ít lại càng ít. Có người nghèo khổ, có người nhiều bệnh hoặc tàn phế, có người đoản mạng chết sớm. Chỉ có sự vui vẻ, người người đều có thể hưởng thụ được, nhưng thật đáng tiếc, có một số người tóm lại không nhìn rõ, lệch lạc tự tìm khổ não, từ bỏ vui vẻ, lui trốn trong ba nhà, trốn lánh vui tươi thường sống lỗi lầm trong khổ não.

Vui vẻ không chỉ là sản phẩm có lợi chỉ chuyên của những người giàu có còn người nghèo khổ thì không có phần. Vui vẻ, việc đó không phân là người giàu có hay nghèo hèn, già trẻ nam nữ đều được bình đẳng, mọi người đều có thể hưởng thụ vui vẻ. Hằng ngày sự vui vẻ thường có, xem ra vì sao chỉ đối với chính mình thôi. Nhận thức chân thật mà nói thì việc tìm cầu của một đời người chính là: vui vẻ!

Vui vẻ, mà phải “thiểu dục tri túc” thì mới đầy đủ. Tiếp nhận tất cả, trong tâm tự được, tự đầy, tự đủ, ở địa ngục cũng như thiên đường, có bệnh ở nơi thân hoặc tàn phế, biết nhân quả, không oán trời trách người, có bệnh mà hay lấy vô bệänh quán sát, lại bất giác khổ, đoản mạng chết sớm cũng có thể mỉm cười mà đi.

Một người trọn đời mong cầu là cái gì? Vàng bạc, danh vị, quyền thế hoặc học vị đều là thứ yếu, vì những cái này chỉ là cái bề mặt, cái mà thấy được, chỉ là một loại cảm thọ đầy đủ tạm thời ngắn ngủi, mà chẳng phải là cái vui vẻ lâu dài; có thể lâu dài vui vẻ mới là nhân chính. Vui vẻ là một loại tâm cảnh, một loại cảm giác nội tại thần túy, cũng chẳng phải hoàn toàn nương gá vật bên ngoài có hình thể, cũng chẳng phải là hoàn toàn xa lìa ra ngoài vật bên ngoài có hình thể. Vui vẻ là một sự cảm thọ vô hình của tâm linh sâu xa, nó được chứa nhóm từ chỗ sâu thẳm của tâm linh, ngay lúc chúng ta muốn dùng nó, tâm chúng ta lại có thể cảm giác sâu sắc, vượt lên trên cái tâm, mai một đi cái chẳng vui sở hữu, cái đó chúng ta gọi là vui vẻ, một vài lúc lại biến khắp toàn thân chúng ta, thậm chí không khí chung quanh sung mãn lâng lâng cảm giác vui sướng.

Người giàu nếu không biết đủ (tri túc) thì không đầy đủ, có rồi càng muốn càng nhiều, tốt rồi càng muốùn càng tốt, được rồi lại sợ mất đi, lại sợ tai họa tới mình, lại sợ sanh bệnh, lại sợ chết mất, cả ngày tổn thương gân não, bàng hoàng không an, buồn bực lo sầu sợ sệt lúc nào mới hết? Ở thiên đường cũng như là ở địa ngục.

Chỉ cần có một khoảnh khắc vui vẻ thì những việc tham, sân, si, nghi, mạn, đấu tranh, tư riêng, sợ sệt, khẩn trương, giận, buồn phiền, lo nghĩ, tính toán... sẽ mất thôi, tâm tình có thể mở mang thoải mái trở lại! Ðâu phải có tiền, có danh, có thế lực, ăn ngon, mặc đẹp, ở cao sang, mà không có tâm tình thoải mái để hưởng thụ, thì đâu phải là vui vẻ!

Người nghèo mà biết thiểu dục tri túc thì là đầy đủ, biết nhân quảø, rõ thị phi, không bạo ngược, không tự ti, không thèm muốn của người, không tham, không sân, không oán, không tranh, không ghét, không sợ thẹn, không so sánh nhà người, tự mình buôn bán bao nhiêu ăn bấy nhiêu, không tủi hổ hình vóc xấu, lại không vì không có tiền mà buồn rầu làm tổn thương gân não, mặc áo vải, ăn cơm hẩm, ở nhà tranh, đầy đủ với hiện thực, không kêu ca khuất phục, lại còn mừng vui hạnh phúc, không có lạnh lẽo đói rét thì tự mình được cái vui.

Ðời người lạc quan, biết sống vui, tâm não rộng rãi, quán xem các pháp, ít ham muốn và biết đủ thì sẽ đầy đủ. Giàu từ người khác mà giàu, nghèo từ người khác mà nghèo, là vật ngoài thân, thuận với tự nhiên, không cưỡng cầu, tốt hoại, đắc thất, khổ vui, chê khen, vinh nhục, không so tính, phàm việc gì chỉ hỏi tâm không hổ thẹn, tùy gặp cảnh mà an, tâm an thì lý được, không bị hai cảnh thuận nghịch chi phối. Bình thường đời sống bất hạnh bị nghèo thiếu vây quanh, cũng có thể an bần lạc đạo, không oán trời trách người, chẳng vì nghèo khổ mà tự ti, thản nhiên mà tiếp nhận những ngằn mé bất hạnh, quên đi cái khổ nghèo thiếu, mạnh khỏe, mẻ sứt hoặc tàn phế, cũng có thể vui sống hằng ngày, chẳng thể nhân nơi bệnh khổ mà lẩn quẩn rên la, trên tâm linh là: an tường, tự tại và vui sướng.

Thật sự mà nói, vui vẻ do sự kích thích của vật bên ngoài sản sinh phần nhiều thuộc về khoái lạc cảm quan; sự vui vẻ xuất phát từ nội tâm thì là khoái lạc của tâm linh. Nguồn gốc của hai sự khoái lạc ấy không đồng, thứ lớp cũng có sai khác. Ðứng một phía mà nói, sự vui vẻ của cảm quan - đến vui đi cũng vui, như ngày mùa hạ mây tụ, lại vẹt tan ngay mà qua đi; sự vui vẻ của tâm linh thì sanh lần hồi rồi chậm chạp đầy lên, giống như nước suối của núi mùa xuân nhởn nhơ chẳng khô. Ngài Trí Giả nói: “ Biết đủ có thể đem niềm vui chất chồng thành núi, càng chứa càng dày; không biết đủ, thì sẽ đem niềm vui đục khoét thành vực, càng khoét càng sâu”.

Con người, cuối cùng một đời, tìm tìm kiếm kiếm, tranh tranh nghiệp nghiệp, tóm lại chỗ truy cầu thoát ly không được sự hào hoa nơi vật chất và sự rõ ràng nơi danh lợi, chỉ tất cả cần thấu rõ lương tâm, đạo đức, nhân nghĩa, tâm mới an, tâm an! Ðể được vui vẻ, nếu chỉ vì thỏa mãn đầy đủ lòng ham muốn của mình, tha hồ làm điều trái lẽ, thì có cái gì mà chẳng thể làm; chẳng phải chờ đợi báo ứng đời sau mà thọ khổ, đời này cũng có thể hiển hiện tai họa trùng trùng, như thế có thể vui vẻ được chăng!

Rất nhiều người không được vui vẻ là bởi do từ lòng ham muốn ngóc ngách sâu xa. Nếu hay xem phú quý như mây nổi, danh lợi như khói sương, được mất không vinh ở nơi tâm, tự nhiên, gió mưa buồn rầu cũng chẳng xâm phạm ở trong lòng, huống gì, tiếng buồn khí thảm không giúp được đối với công việc. Sao chẳng lấy riêng một món tâm tình xem cho tất cả.

Người học Phật tu hành chuyên nhất chí thành ở nơi chân tâm, tin thọ vưng làm, chẳng cầu điều kiện hư vinh trước mắt, mà cầu ở nơi chỗ sâu xa của nội tâm, dứt bỏ dục vọng chính mình và chấp trước, giữ gìn tâm thanh tịnh. Từ việc hành trì không gián đoạn, tự nhiên được an ninh, đầy đủ và vui vẻ trong tâm linh. Nhân người tu hành có chánh kiến, chánh tư duy, tâm từ bi, làm việc thiện, không làm ác, thiểu dục tri túc, ít phiền não, có sự ký thác trên tinh thần là: Tin Phật. Có lý tưởng: Thành Phật, tự nhiên cuộc sống được vui vẻ nhiều.

Ðương nhiên chẳng phải ngay khi mới bắt đầu tu thì có thể được sự vui vẻ trên tâm linh, quyết cần phải thanh trừ tập khí vô minh chính mình: tham, sân, si... Cải chánh hành vi hư hoại, sự vui vẻ mới có thể hưởng thọ được.

ÐỜI NGƯỜI VUI VẺ

Vui vẻ là hạnh phúc có thể đánh giá là vô giá.

Cuộc sống của đời người là tìm cầu sự vui vẻ.

Con người có quyền tìm cầu sự vui vẻ, nhưng vị tất có may mắn tìm được nó.

Cuộc sống của con người có hai việc: Một là cuộc sống vật chất, hai là cuộc sống tinh thần. Cuộc sống vật chất càng tìm cầu thì càng đau khổ, vĩnh viễn không thể đầy đủ. Nhưng nếu hướng về phương diện cuộc sống tinh thần để tìm cầu, thì tâm tình có thể thoải mái, tâm lý an ổn, thì sẽ được cuộc sống vui vẻ.

Vui vẻ là thứ cảm thọ vô hình, sâu sắc của tâm linh. Nó là một món cảm thọ kì diệu sâu sắc trong lòng của nhân loại. Nó là một đồ vật mà ta nhìn không thấy, nghe không được, sờ không đụng. Nó là một món tâm cảnh bất định tùy theo thời gian ảnh hưởng chúng ta mà hiện khởi hay ẩn mất. Kỳ thật, sự vui vẻ không chỉ đầy đủ ở trên cảm quan, nó là sự vui sướng không dứt đến từ nguồn nội tâm, đầy đủ có thật và yên bình; Song có một vài người trên xã hội, ý đồ của họ đem những cuồng vui gợi tình làm tê mê, đem những sự huyên náo xướng lên những điều trái lẽ để làm cho trống vắng nội tâm. Con người, duy có lúc thanh bần, muốn cầu giàu có, cho là sau khi giàu đủ nhất định vui vẻ; Lúc thấp hèn, muốn cầu vinh hiển quyền quý, cho là sau khi được quyền quý vinh hiển thì nhất định vui vẻ. Chỉ ngay sau khi có đủ tiền bạc, giàu co,ù danh lợi, địa vị thì ban đầu sẽ có cảm giác cuồng vui hưng phấn, nhưng không lâu cái đầy đủ tốt đẹp này cũng rất tiêu mau mất không hình không dấu.

Có một câu chuyện Nhi Ðồøng kể rằng: “Có một người giàu có sau khi có đủ tất cả những gì anh ta muốn, ngược lại phát hiện chính mình chẳng có sự vui vẻ; mà một người dân bình thường không giàu có, ngược lại hay bình thản đạm bạc vui vẻ một đời. Người dân đó so với người giàu có vui vẻ hơn, đó là vì anh ta hiểu được tìm kiếm sự vui vẻ như thế nào, như thế nào khiến cho đời người chính mình giữ gìn được sự thoải mái; Người giàu có thì ngược lại cho là sự vui vẻ quyết cần phải tiêu hao tinh thần và sức lực mới có thể được, do đó phung phí hết tâm tư nhào vào danh lợi, vật chất mà hưởng thụ cho là sự vui vẻ, nên là như vậy!

Người hiện tại mỗi việc lấy nhẹ - nặng của lợi ích làm việc đong đo tiêu chuẩn nguyên tắc trong sinh hoạt, do đó, tuy là hưởng dụng không thiếu, trong tâm cũng khó khỏi sự mất mát. Ðây cũng chính là chỗ khổ thân chẳng do mình.

Cái hoạn của con người, cho là tất cả đều là cái lý đương nhiên như vậy, mà không yêu tiếc tất cả đã có. Có rồi lại muốn thêm nhiều, tốt rồi lại muốn càng tốt, lại cố trèo lên, cố nhiên là tốt, nhưng nếu không thể lãnh hội được cảnh giới bình ổn chắc thật, có lẽ toàn thế giới vẫn vậy, không thể vui vẻ!

Bản chất của cuộc sống, kỳ thật rất đơn giản. Con người, sở dĩ không vui vẻ là do dục vọng, tham niệm quá nhiều. Con người ở trong cuộc sống vật chất càng tốt càng nhiều cũng chẳng đủ cho lòng dục vọng, dục vọng không đủ tâm sẽ không yên tịnh, tâm không yên tịnh thì không tự tại, dẫu rằng danh lợi đã được, vật chất không thiếu, cũng chưa chắc có tâm cảnh vui vẻ.

Con người cần phải đơn thuần trong cuộc sống vật chất, cần phải giản dị, mộc mạc, càng đơn thuần giản dị càng tốt, sự vui vẻ tự nhiên đến. Sự vui vẻ là tự mình tìm lấy, không thể nói trong hoàn cảnh ác liệt chịu đựng như thế nào, chỉ cần nhìn trên phương diện tốt, nghĩ rằng, có thể tri túc, thỏa mãn với hiện thực, tùy cảnh ngộ mà an, vui vẻ sẽ đến ngay. Như thế nào cuộc sống được vui vẻ? Ðó hoàn toàn nắm trong tay chính mình.

Cuộc sống con người thoải mái đều chẳng khó, song anh phải cần: thiểu dục tri túc thì sẽ đầy đủ. Cuộc sống đạm bạc giản đơn, có tấm lòng bao dung rộng lớn, thái độ thành ý khiêm nhường, lại cần giả điếc làm câm, không tham, không sân, hay nhẫn nhượng, hay ăn thiếu, vô ngã, không riêng tư, đối việc không ngã chấp, đối người không so tính, phàm sự việc nghịch đến thì thuận chịu, việc không ở nơi ý vả phải coi cho rõ, hết lòng giảng giải giáo hóa phương pháp thấy được đối với vật, việc, người gặp xung quanh, gánh vác giảm nhẹ đi áp lực tâm lý, có thể yên ổn đối với tình trạng hiện tại, tiếp nạp tất cả, nội tâm tự được đầy đủ. Duy có như vậy, cuộc sống mới có thể đầy đủ thật sự, cuộc sống dạt dào, lý do: cảnh từ tâm sanh. Con người vui vẻ hay không ở nơi cảnh chẳng phải là chỉ một điều kiện, gặp cảnh tâm cảnh phản ứng, mới là mấu chốt quyết định vui vẻ hay không. Tiếp nạp tất cả một cách đầy đủ: ăn cho khỏe mạnh, mặc cho thỏa mãn, ở cho thoải mái. Người tri túc nằm ở địa ngục cũng như ở thiên đàng; người không tri túc, ở thiên đàng cũng như ở địa ngục. Ðồ đạc đồng dạng với nhau, do con người không giống nhau ăn vào sẽ có mùi vị không đồng, nhà thì giống nhau, do tâm tình của con người không đồng, ở vào thì sẽ có sự khác nhau thiên đường và địa ngục. Người tri túc, một bữa một hai món đồ ăn, thì bữa bữa đều có đồ để ăn; Người không tri túc, mỗi bữa đồ ăn bày đầy bàn, mà không phải là những món kiểu này thì sẽ thấy không ngon, tóm lại là những món đó không thích thì cho là không có đồ ăn. Con người có thể yên ổn ở nơi tình trạng hiện tại, tiếp nạp tất cả, nội tâm tự đầy đủ, chỉ có như vậy cuộc sống mới có thể sung túc thật sự, cuộc đời mới dạt dào niềm vui.

Giàu và nghèo, vui vẻ hay thống khổ cũng chẳng qua là trong một niệm, tư tưởng thông rồi, rất là tự nhiên đều đem làm cái sở hữu của ta, vật ở ngoài thân, lại tranh chấp có được gì! Sanh mệnh như hoa Ðàm một lần hiện ở trong vũ trụ, bực bội có được gì!

Ðời người ở thế gian nên tự cầu phước nhiều; Phần nhiều hay muốn tự mình hưởng có tất cả những điều không buồn lo, không ai oán.

VÌ SAO CẦN HỌC PHẬT?

Mục đích học Phật là như thế nào? Nói một cách đơn giản: tức là “chuyển mê thành ngộ”. Nhưng MÊ là mê cái gì? NGỘ là ngộ cái gì?

Mê, tức là mờ mịt đối với chân lí nhân sinh vũ trụ, không rõ được chân tướng bản nhiên của nhân sinh, cũng không rõ được sự tướng duyên khởi của vũ trụ. Chân tướng của nhân sinh vũ trụ là:Thế gian vô thường, cõi nước nguy hiểm (nguy hiểm mỏng manh, dễ vỡ), bốn đại khổ - không, năm uẩn không tướng.

Mà chúng ta ngược lại có thói quen đối với vọng tưởng chấp trước trên chủ quan, mờ mắt liều mạng tìm theo tất cả những sự vật huyễn diệt, lầm nhận muôn pháp hư huyễn là thường trụ bất hại, và thân tâm do năm uẩn hòa hợp làm chân ngã, cho đến chấp ngã, chấp pháp, khởi hoặc, tạo nghiệp, rốt cuộc trôi chảy trong sinh tử, chìm đắm nơi biển khổ.

Ngộ, tức là đối với chân như lí tánh của nhân sinh, sự tướng duyên khởi của vũ trụ, có sự lí giải thấu triệt, biết là duyên sinh tánh không, duyên khởi vô ngã (duyên sinh, là do các duyên hòa hợp mà sinh - duyên khởi, là nói các pháp do các duyên hợp thành, tánh đó vốn không, không có tự tánh chân thật). Do đó không thể chấp trước, tự tìm phiền não, lại tạo nghiệp, để chuốc lấy quả khổ.

Nói một cách khác: Mê, tức là không rõ chân tướng của nhân sinh, một người ở trong cuộc sống vài mươi năm, nói gần, không hiểu được chính mình sinh ra như thế nào, mỗi khi lộn xộn rối rắm, giống như bịt mắt đi đường; đến già, lại không hiểu rõ lúc chết; Chết rồi, đến chỗ nào? Cho đến tất cả vạn vật bên ngoài con người là làm sao mà đến, chỗ có tất cả đây, đều là chẳng rõ sự kì diệu. Nói xa hơn, tất cả vạn hữu trong vũ trụ tại sao lại tồn tại? Phàm là không rõ được những đạo lí này, gọi là mê.

Ngộ, là rõ ràng chơn tướng sự thật, hiểu được thân thể của nó chỉ là giả tướng hòa hiệp của bốn đại: đất, nước, lửa, gió (tức là tám đại hệ thống của thân thể con người giải phẫu ra, nhục thể tổ hợp mà thành). Nhục thể giả tướng này, trải qua: trẻ nhỏ, thiếu niên, trung niên, già, có một ngày bốn đại không đều hòa thì bệnh, bệnh nặng mà chết, sau khi chết từ từ dần về tiêu diệt. Chỉ có còn trong nơi nhục thể, thật tướng con mắt kia nhìn không thấy, lại gọi là chân như (tục gọi là linh hồn) hoặc gọi là Phật tánh là vĩnh viễn tồn tại, là không sinh, không diệt. Một người như thế này, vạn vật cũng là thế này, người nếu hiểu được đạo lí này gọi là Ngộ. Học Phật tức là đem cảnh Mê của ngươi chuyển đổi đi, mà mở ra một con đường khiến ngươi đi vào cảnh Ngộ.

Nhưng mục đích của học Phật còn chưa sáng sủa là vì chưa giải thoát đau khổ cho chính mình. Càng phải vì tất cả chúng sinh mà bài trừ khổ nạn, được vui vẻ mà nỗ lực.

VÌ SAO CẦN TU HÀNH?

Vì sao cần phải tu hành? Tu hành là thế nào? Rõ được đạo lí này thì tốt rồi, tu được rồi.

Vì sao cần tu hành ư? Là vì cần: Lìa khổ được vui. Thế giới ta bà là biển khổ, người đời là kẻ khổ, khổ nhiều vui ít, người nghèo khổ, người giàu cũng khổ, lúc bận rộn khổ, lúc nhàn rỗi cũng khổ. Khổ mỗi dạng mỗi việc, mỗi loại rất nhiều rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày thường thường gặp đến, tóm lại: không hợp với lòng không yên, không tự tại, không vui thì là khổ! Anh cho là sinh hoạt hiện tại được rất xứng tâm như ý, rất vui; Vậy anh có thể giữ đời này kiếp này đều xứng tâm như ý và vui vẻ không? Muốn lìa khổ được vui, chỉ một niềm tin là tin Phật, một việc làm là làm thiện, mà chẳng chịu học Phật tu hành thì không ra khỏi luân hồi sáu đường, lìa không được khổ, chẳng được chơn lạc.

Tu hành là thế nào? Là phải ra khỏi ba cõi luân hồi sáu đường, lìa khổ được vui thành Phật. Thành Phật, đầu tiên cần phải biết TIN nhân quả, dứt ác tu thiện, tu thân dưỡng tánh, rõ sanh tử, chuyển mê khai ngộ. Thế gian là cuộc vô thường, không có sự vật hằng thường bất biến, đại địa và thân tâm chúng ta, mỗi một phút, mỗi một giây đều ở nơi biến thiên, ở trong thân tâm bất định biến thiên ảo huyễn này, anh có thể tìm được một cái CHƠN NGÃ bất biến hằng thường không? Thế giới ta bà là các hành (pháp) vô thường, tất cả hiện tượng đều là dời đổi biến hóa, sinh diệt từng sát na, mọi sự mọi vật thiên biến vạn hóa, dơ nhuốc khổ đau, khổ não lớp lớp, gọi là: uế độ (cõi dơ nhớp).

Ðời người là khổ, khổ của sinh, lão, bệnh, tử trên nhục thể, trên tinh thần từng loại từng món, khổ nhiều vui ít; lấy khổ làm vui thành thói quen, cho là bình thường. Người đời phần nhiều lấy dục lạc của năm căn làm vui, khổ vui do nơi cái nhìn về nhân sinh không đồng ở mỗi người, đối với sự nhận biết và thứ lớp của bản chất khổ vui, mỗi việc cũng khác nhau, khổ vui vốn là do sự hỗ tương đối đãi mà an lập. Người đời nhân đó mà truy cầu sự vui vẻ, nhân vui vẻ mà duyên đến khổ đau; người đời, tóm lại là một cái vòng trong dòng chảy sinh tử, khổ đau và vui vẻ xen nhau mà thành. Khổ, là chỗ nhàm bỏ của người đời, nhưng người đời rốt cuộc không khỏi khổ đau rất nhiều; Vui, là chỗ tìm cầu của người đời, nhưng cái vui mà mọi người tìm cầu, ngược lại là ít ỏi mà ngắn ngủi tạm bợ như thế, ai chẳng muốn lìa khổ được vui! Hầu hết con người trên đời cái khổ thì muốn rời xa, cái vui thì muốn được, Phật dạy chúng ta, rốt ráo có gì chẳng đồng ư? Ðây là nguyên ở cái nhìn của nhân sinh có chỗ không đồng, là cạn cợt và sâu sắc. Người đời cảm thọ khổ và vui chẳng qua là y cứ trên sự thuận và nghịch của thân tâm, tổn hại hay ích lợi mà nói thôi. Y cứ theo Phật Ðà mà nhìn, khổ mà người đời nói, đổi lại là cái khổ chân chánh; Nói là vui, ngược lại chưa chắc là thật vui. Thường nghe mọi người nói “Tôi muốn tìm vui”. Rồi tìm cầu cả một đời, được chăng cũng chỉ bất quá là dục lạc của năm căn, nhưng ngược lại chút ít ở trong chút ít. Ðức Phật đã khẳng định rằng đời người là khổ, có khổ đương nhiên cần phải xuất ly, lìa khổ thế gian, cầu vui giải thoát, xa lìa luân hồi ở ba cõi sáu đường, đây là sự nỗ lực và nhận thức nên có của nhân sinh, cũng là mục đích của Ðức Phật xuất hiện ở thế gian, ở đây lấy việc lìa khổ được vui làm tiền đề của Phật pháp. Chúng ta chỉ hiểu rằng: Khổ – chơn thật là khổ, Vui – chơn thật là vui, mới có thể sanh khởi yêu thích và qui hướng chân chánh đối với Phật pháp. Phật pháp là phương pháp đứng trên căn bản khiến chúng ta có thể dẹp trừ khổ đau, mà thu được khoái lạc chân thật. Chỉ có tu trì Phật pháp, tin thọ phụng hành, hành trì không gián đoạn, tự nhiên sẽ đạt được sự đầy đủ và vui vẻ của tâm cảnh.

Ðời người không có sự nhẹ nhàng và thoải mái tuyệt đối, cũng không có sự thống khổ và phiền não vĩnh hằng, có lúc “lạc cực sanh bi, khổ tận cam lai”; người đời nhân nơi khổ mà tìm cầu vui, ngược lại nhân nơi vui mà duyên đến khổ đau. Ðời người gặp gỡ thường xuyên là vui vẻ ít mà buồn đau thì nhiều, lý do khổ não của đời người cũng vô cùng, vô tận.

Ðời người có mấy cái khổ ư? Bao gồm có: Khổ của việc sanh ra (sanh khổ), khổ của già suy (lão khổ), khổ lúc gặp chết mất (tử khổ), khổ lúc gặp người mình oán hận (oán tắng hội khổ), khổ lúc cùng người yêu thương chia rời (ái biệt ly khổ), khổ vì sự vật muốn được ngược lại không thể đến tay (cầu bất đắc khổ)... Tóm lại, khổ về các loại, các dạng rất nhiều, chẳng an, chẳng vui vẻ cũng là khổ!

Người đời ở trên con đường đời người thoạt muôn biến đổi này, khổ bị gặp thật là khó mà tính toán hết. Ðây giống như ăn một con gà kim loại lăn áo đường ở bên ngoài, bên ngoài thì ngọt, bên trong thì đắng chẳng giống sao? Mà Phật pháp chỉ ra mấy cái khổ này, đều chẳng phải ai đó đem đến cho chúng ta, mà là tự mình không rõ thị phi, mờ mắt tìm cầu, gom lấy tham ái thì quả khổ đến.

Người có trí tuệ, trước khi làm một việc, tóm lại, phải hiểu rõ trước, vì sao nên làm thế này? Sau khi hiểu rõ, mới khẳng định sự việc nên làm, tự nhiên ý nghĩ sẽ không ngược lại, bắt tay vào việc mà không có một chút e dè lo sợ. Ðối với mọi người, công việc cứ y trên đạo đức mà làm, y cứ trên trí tuệ mà xử lý tất cả công việc, tức là HỌC PHẬT.

Thái độ này cũng là chỗ chú trọng củaPhật giáo. Phật giáo yêu cầu tín đồ là: TRÍ TÍN, tức là tín ngưỡng trên lý trí, không phải là mờ mắt dùng cảm tình mà tín ngưỡng. Lý do, trước khi giảng nói đạo ly ùcần phải tu hành, cần phải hiểu rõ trước: Vì sao cần phải tu hành?

Con người, vì sao cần phải tu hành? Phật giáo lấy “đời người là khổ” ra nói rõ, ắt cần phải tu hành. Vì sao nhân sinh là khổ ư? Trong “bốn thánh đế” Phật dạy có sự giải thoát khái lược cần thiết, tức là đời người có: sanh khổ, bệnh khổ, lão khổ, tử khổ, cầu bất đắc khổ... Tóm lại, trong một đời người đầy đủ các loại dạng khổ!

Hoặc có người sẽ phản đối, hiện tại ta đang cảm thọ được rất vui vẻ, sự vui vẻ này vì sao có thể là khổ ư? Kỳ thật kiến giải của người đời phần nhiều có sai lệch, thậm chí điên đảo; đối với chúng ta cho là vui, nhưng trong con mắt người có trí tuệ nhìn, tức chính là khổ! Sau khi vui vẻ qua đi, khổ sẽ đến. Vì vui và khổ nối nhau mà đến, cũng như ban ngày và ban đêm, sau khi ngày qua đi đêm tối sẽ đến, do dó, đời người là khổ, xác thật là không thể phủ nhận. Vậy thì như thế nào mà thoát ly được khổ, đó chính là việc gấp rút trước tiên con người phải làm.

Khổ cần phải như thế nào mới thoát ly ư? Ðức Phật ở trong bốn thánh đế, dạy rằng KHỔ do TẬP mà có. Tập chính là ý tứ các món phiền não, hoặc và nghiệp; do nơi nghiệp con người mới có khổ. Nghiệp tuy là vô hình, nhìn không thấy, rờ không được, ngược lại là chủ tể của nhân sinh. Sở dĩ cần lìa khổ, quyết cần phải đoạn TẬP. Muốn đoạn tập lại cần phải không tạo nghiệp, không có nghiệp bèn không có tập.

Như thế Nghiệp là thế nào? Nghiệp là hành vi của chúng ta, làm nên một cá nhân, thân tâm không thể không có hoạt động, có hoạt động rồi thì có hành vi, có hành vi rồi thì có nghiệp. Sở dĩ không tạo nghiệp là không làm ác nghiệp, và chẳng liên quan đến thiện nghiệp thì không làm. Vì không tạo ác nghiệp, hành thiện là điều tất yếu. Chúng ta hy vọng hành vi chính mình là hành vi thiện. Tiến đến có thể làm được điều không tạo ác nghiệp, đối với thiện nghiệp cũng không chấp trước. Như vậy thì có thể lần lượt thoát ly khổ. Y cứ Phật pháp mà nói: Giải thoát phiền não, trong tâm thanh tịnh, an tường, tự tại, tinh thần thoải mái, tương lai khả năng thoát khỏi sinh tử.

Phật pháp dạy con người cần phải dùng nhãn quan đạm bạc mà xem tình đời, thì phú quý như khói mây qua nơi mắt, dùng tâm tri túc để lấy và bỏ muôn vật, tâm thanh tịnh này không bị sự trói buộc của vật bên ngoài. Ðây là dùng tâm tuỳ duyên hành xử với nghịch cảnh. Tâm địa tự bình ổn thì không bị lụy đối với vật bên ngoài. Lại tiến một bước chí thành tu hành, thì có thể đạt được niềm vui lớn Niết bàn.

Vậy quyết cần phải tu hành! Chỉ cần nương nơi Phật pháp tu hành, sửa đổi hành vi không tốt đẹp của chúng ta. Trong hành vi của chúng ta không tạo nhân khổ (ác nghiệp), mà đối với việc thiện lại không chấp trước, hơn nữa thịên - ác không lập, trong tâm không có nghiệp, tự tánh hiện tiền, khổ tức thì tiêu mất. Như vậy mới là cứu cánh. Tu hành là mỗi một người quyết cần theo sự việc mà khởi tưởng lìa khổ được vui. Ðây cũng là chỗ Phật pháp khác thế pháp. Tín ngưỡng Phật giáo, như chẳng tu hành, chỉ trồng nhân thiện, không phải là pháp được lợi ích cho Phật pháp.

Lời Phật dạy và sự tu hành là không phân chia ra được, tu hành là cơ sở của tín ngưỡng, có tín ngưỡng cơ sở mới giữ gìn được lâu, nếu bỏ đi vấn đề tu hành thì Phật pháp trở thành là bàn suông thôi.

TU HÀNH LÀ THẾ NÀO?

Xác định tính trọng yếu của vấn đề tu hành, tiếp theo, thì cần phải xét nét ý nghĩa tu hành, cũng tức là nói: Tu hành là thế nào?

Trước khi xét nét tu hành, trước tiên đối với mặt trái của tu hành, đời người là khổ, làm một phen giải thoát, tin tưởng đối với ý nghĩa của tu hành sẽ có sự hiểu rõ càng lớn, liên đới, cũng sẽ dễ hiểu rõ thế nào là tu hành rồi.

Khổ ở nơi nhân sinh, đều chẳng phải hoàn toàn do trời sinh mới có, mà là sau khi tạo nghiệp mà thành, rồi lớn lên, do nghiệp cảm báo mà có. Ðã vậy, khổ là do chính mình tạo nghiệp bị cảm báo mà có. Vì sao loài người lệch lạc cần thiết đi tạo các nhân ác, nhóm các nghiệp ác đến nỗi cảm thọ quả khổ ư? Mỗi cá nhân đều không thích khổ, đã không thích vì sao lại lệch lạc đi tìm? Mười hai nhân duyên phần lớn dùng để nói nguyên rõ do và hình thành sinh mệnh của loài người, nhưng cũng có thể dùng để mà giải thích làm sao biết nguyên nhân tạo nghiệp của con người.

Mười hai nhân duyên là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử. Trong mười hai chi này lấy “vô minh” làm đầu, nhân vô minh mà vọng có: sanh mạng của chúng sanh và thế giới vũ trụ, nhân tạo các nghiệp ác, theo nghiệp trôi chảy mà chịu báo, mới có sáu nẻo luân hồi _ sanh tử tử sanh, trôi nổi nơi ba cõi, vĩnh viễn không có kỳ hạn.

Vô minh, tức là ý nghĩ không hiểu rõ, ngằn mé chân chánh của đời người cũng không hiểu rõ, không biết tin nhân quả, không biết rằng tạo nghiệp ác nhóm gom lại có thể sanh khổ... Nhân nơi vô minh mà sinh vọng động, cái vọng động này tức là “hành”, kết quả, sau một bước đi sai, theo nơi tập quán tánh (cũng gọi là “tập khí”) thì từng bước sai lầm. Cho nên từ “hành”, “thức” cho đến “lão tử”, không món nào chẳng sai lầm. Xưa nay ở nơi chân tánh, trong đó có “hành”, “thức” vốn không có “sinh”, trong đó có “lão tử” không?

Nhân đây, trong mười hai chi không có món nào chẳng phải là vọng, hành vọng, thức vọng, cho đến lão tử là những món hư vọng không thật; nhưng con người ngược lại chấp lấy những cái hư vọng lưu chuyển làm NGÃ, quên mất “chơn ngã”, thật tướng, bất sinh, bất diệt, thường tự như; Do đây mà có khổ: trong khổ tạo nhân khổ, lấy khổ làm vui, giữ chặt khổ không bỏ. Ðây là nguyên nhân khổ đầy đủ của đời người.

Truy cứu nguồn cội của khổ là “vô minh”; vô minh là đầu của họa, cho nên cần phải dứt khổ, thoát khổ, quyết cần phải đem vô minh mà chặt đứt hoàn toàn, chuyển vô minh làm “linh minh” mới được.

Như thế phải như thế nào chuyển “vô minh” làm “linh minh” được? Kỳ thật, vô minh cũng là món hư vọng. Ðứng trên bản thể mà nhìn, cội gốc của vô minh không tồn tại, nhưng đối với chúng sinh mới hiểu và chưa hiểu mà nói, do ở chỗ chưa lìa khỏi hư vọng, cũng sẽ có sự tồn tại của vô minh; cũng như trong hư không vốn không có bông hoa, mà cái hoạn do có người bệnh nhãn hoa, ngược lại, thấy trong hư không đầy tràn bông hoa; ở trước mắt anh ta, bệnh hoạn hoa chưa tiêu trừ, nói với anh ta trong hư không không có bông hoa, thì không thể khiến anh ta tin được. Trước tiên cần phải trị bệnh cho con mắt của anh ta, nhiên hậu bệnh tiêu thì tướng huyễn mới được trừ. Cũng giống vậy, tất cần phải có phương pháp có khả năng khiến chúng sinh thoát ly hư vọng, trong tâm không có vọng niệm làm chướng ngại, lại như mây tiêu sương tan, ánh sáng mặt trời sẽ hiện ra. Linh minh là chơn tâm, từ trước về sau, mới có thể thấy được gốc của vô minh không tồn tại. Như đây chính là chuyển “vô minh” làm “linh minh”, hoàn toàn thoát ly khổ.

Vậy thì chúng sinh cần phải như thế nào mới có thể thoát ly hư vọng?

Hư vọng từ tâm sinh, tâm vì sao phải hư vọng? Do ở nơi tâm vô chủ, mất đi sự khống chế, cho nên vọng tưởng lăng xăng. Xưa nay sản sinh ra vọng tưởng là tác dụng của tâm thể, thì chẳng phải là việc xấu, vấn đề ở nơi trong tâm vô chủ, không có khả năng tác dụng khống chế, làm được việc đáng nên dùng thì dùng, đáng nên dừng thì dừng. Ở nơi vọng tưởng hỗn loạn không thể đình chỉ được, không những chướng ngại mà chúng ta nhận thức đối với chính mình, mà còn khiến cho tâm mất đi công năng chánh thường. Cũng như một món đồ chơi điện tử, nó từ trước đến nay lúc đáng nên động thì động, lúc đáng phát sinh sóng điện từ thì phát sinh sóng điện từ, để chỉ huy thao tác máy móc của nó; bỗng nhiên khoảng thời gian bị thất thường, chuyển động không dừng, luôn luôn phát sinh ra sóng điện, không những ảnh hưởng thao tác bình thường máy móc của anh ta, mà còn khiến cho người làm không hiểu nó là cái gì. Do đó chẳng thể làm cho nó hoàn toàn đình chỉ được. Ngay lúc hư vọng tiêu trừ, tác dụng của tâm sau khi đình chỉ, tâm thể lại không bị chướng ngại, lúc đó chúng ta mới có thể nhận biết nơi tâm.

Tâm, là chủ của con người cho đến tất cả, nhận thức rõ tâm là đời người có chủ. Từ sự nhận thức về tâm, cũng biết được nguyên nhân tâm mất đi sự mẫu mực ở chỗ nào, ở đó, sau khi đem chỗ mất mẫu mực điều chỉnh sửa đổi, tâm vẫn vậy, ắt cần phải hồi phục hoạt động và công tác từ trước. Chỉ là tâm lúc này và từ trước tuy là đồng một cái tâm, ngược lại cùng với từ trước không đồng; Thiền tông nói: Người khai ngộ không khác người ngày cũ, nhưng khác hành vi ngày cũ. Tâm lúc này là tâm chánh thường, việc đáng nên dùng thì dùng, đáng nên dừng thì dừng, hoàn toàn có thể làm chủ. Ðối ở việc tiếp xúc được tất cả, nó đều rõ ràng trong sáng, tuyệt không thể bị dối lừa; nó biết thế nào nên làm, làm việc đáng làm, hành việc đáng hành, không thể làm sai lầm, cho nên có thể không khổ, biết sâu xa qua các hoạt động tự chủ.

Do đó tiêu trừ tưởng niệm hư vọng trong tâm, bèn là chuyển “vô minh” làm “linh minh”, giai đoạn lìa khổ được vui chắc chắc trải qua.

Như thế, vọng niệm trong tâm có phương pháp gì tiêu trừ? Thế này cần phải dùng phương pháp tu trì rồi, tức là trì tụng một pháp ở trong tâm không gián đoạn, thí như: kinh giáo, tham thiền, chỉ quán, quán tưởng, trì chú, niệm Phật,... Lấy nhất niệm thống suất vạn niệm, khiến cho số đông vọng niệm quy về ở nơi “nhất vọng niệm”, nhiên hậu, đem một vọng niệm này cũng xả đi, như vậy, trong tâm lại hoàn toàn thoát ly hư vọng. Chỉ là ý nghĩ và việc làm thuần lương, thiện căn sâu dày, ý chí kiên cường có thể không khó; nhưng đối với con người đại đa số mà nói thì không phải là dễ như thế đâu.

Xưa nay hư vọng tức là chẳng thật có, vì sao sẽ trừ không được? Ðây lại là vấn đề của tập khí. Nhiều năm cho đến nhiều đời trở lại, đều là tập quán đối với tâm mà sinh ra niệm tưởng hư vọng; chính như một con chó hoang lưu lạc, một lúc nào đó bắt về nuôi dưỡng ở trong nhà, nó làm sao có được thói quen? Trừ phi chủ nhân là người có năng lực thuần phục cực lớn, có thể chế phục tánh hoang của con chó. Tu hành cũng là như vậy, đầu mối ở tại phách lực của hành giả, có thể nhất thời khắc phục được tập khí, lại có thể đốn ngộ thành tựu, chẳng vậy thì duy có tu lần hồi (tiệm tu) thôi. Tất cần phải biết phối hợp giữa sinh hoạt thường ngày và công tác tu hành, hết một thời gian dài, từng bước từng bước bỏ đi tập khí cải chánh lỗi lầm, đợi gồm các hành vi được thuần nhất, tu trì mới dễ thành tựu. Ðem tính toán nhất thời không thể thành tựu; nhưng đối với việc không tái tạo nghiệp, lại không tái cảm thọ quả khổ, đời người cũng sẽ an lạc rất nhiều rồi.

Như thế tu hành là thế nào? Tu thế nào? Ðem hai chữ tu hành chẻ ra mà nói: Tu tức là ý nghĩ sửa đổi. Hành tức là hành vi của chúng ta. Hành vi này bao quát có: hữu hình và vô hình; cũng tức là ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Tu hành lại là tu chánh lại hành vi hư hoại của thân, khẩu, ý chúng ta.

Hành vi của thân, khẩu, ý sao cần cải chánh? Vì hành vi của con người, có vài lúc làm tổn thương và hại người khác hoặc sinh linh khác, trong vô hình cũng tổn hại chính mình, khiến tự mình và người khác đều cảm thọ thống khổ. Những hành vi này tức là ác nghiệp.

Ngay trong hành vi của thân, khẩu, ý con người, những cái đó thuộc ở nơi ác ư?

Phương diện thân nghiệp có: giết, đánh, tịch thu, ăn cắp và tà dâm.

Phương diện khẩu nghiệp có: nói láo, nói hai chiều, nói ác, nói chiều uốn...

Phương diện ý nghiệp: tóm lại nhiều rồi. Duy thức học phân tích tâm niệm của chúng ta đem ra đại để chính yếu quy nạp làm ba mươi bảy món, trong khi đó THIỆN chỉ có mười một món; ngược lại ÁC có tới hai mươi sáu món, cũng tức là đem: tham, sân, si làm đầu; sau đó là mạn, nghi, ác kiến, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri, vô tàm, vô quý, phẫn nộ, oán hận, phú tàng, ác nghiệp, não loạn, tật đố, gian lận, hư cuống, siểm mị, hại, kiêu. Như nếu lại đem chẻ chiết nhỏ nhặt ra nữa, thì lại càng nhiều. Tóm lại nói đó, phàm là hành vi làm tổn thương hại đến chúng sinh thì là ác, quyết cần phải hơn thế nữa để tu chánh.

Có thể tu được thân, khẩu, ý nghiệp đều không ác, tự nhiên thân tâm thanh tiïnh an lạc, tình huống ở thân tâm yên ổn rồi, vọng niệm lại ít hơn. Nếu như có thể tiến đến mà niệm niệm ở nơi thiện, thân hành ở nơi thiện, miệng nói ở nơi thiện, ý tưởng ở nơi thiện, thì là từ “tu hành” tiến đến “tu trì” rồi. Do đã đem các món tập khí bất lương cải chánh lỗi lầm rồi, tâm đã thuần nhất, chướng ngại cũng đã giảm thiểu hoặc tiêu trừ, lại thêm niệm chẳng gián đoạn danh hiệu “Nam mô A Di Ðà Phật”, vọng tưởng tạp niệm giảm thiểu hoặc tiêu trừ, tình đời xem đã rõ, muôn duyên thế tục buông đi, việc vãng sanh thế giơÙi Cực lạc ở Tây Phương thì nắm chắc.

CHỖ TỐT ÐẸP CỦA PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Thứ nhất, rõ được sanh tử, ra khỏi luân hồi sáu nẻo, vãng sinh Cực Lạc thế giới, lìa khổ được vui - chơn lạc - thành Phật.

Thứ hai, lúc người đời chết, chết bị đau đớn khổ sở, hay chết không đau đớn khổ sở, muôn nghìn người khó được một người, càng không thể nói đứng hoặc ngồi chết được, có thể đến lúc mệnh chung biết trước giờ chết càng không thể được.

Niệm Phật tu hành đến lúc mệnh chung, thân không bệnh khổ, biết trước giờ chết, chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, đang đứng hoặc đang ngồi mà niệm Phật vãng sinh về thế giới Cực lạc; nếu công phu niệm Phật sâu, thì ở hiện đời được nhất tâm bất lọan, căn lành sâu dày, lại có thể thân chứng niệm Phật tam muội (chứng ngộ).

Thứ ba, trên sinh hoạt tinh thần có chỗ ký thác: “tin Phật”; có lý tuởng: “thành Phật”. Sống đuơc vui vẻ, tự tại.

Thứ tư, biết tin nhân quả (thiện có thiện báo, ác có ác báo), rõ thị phi, dừng ác tu thiện, thiểu dục tri túc, cuộc sống yên ổn đạm bạc giản dị, tâm cảnh khai mở, nhìn rõ tình đời, muôn duyên thế tục buông đi, công tác hiểu rõ nợ nần mà dốt hết bổn phận, không ưa cao chạy xa, công việc được thì thoải mái, trân trọng nghề, vui với tập thể, giữ bổn phận, giao tế với người quan hệ hài hòa, ngước lên không thẹn với trời, cuối xuống không tủi với đất, phần lớn giảm nhẹ đi những việc nhọc sức trên xã hội, gia đình và công việc, tự nhiên được yên ổn, tốt đẹp, tự tại, vui sướng, nhìn các việc đều thoải mái thích hợp thuận mắt.

Thứ năm, nương giáo lý của Ðức Phật mà chiếu xét tư tưởng và hành vi của chính mình, như có cái gì bất chánh thì đưa vào chỗ chánh, không nề nếp thì đưa vào nề nếp, tu dưỡng ở nơi thân tâm chính mình, rất có bổ ích, là triết học nhu yếu của xử thế; đối với chân tướng của nhân sinh có chỗ nhận thức, có nhận thức ắt có chỗ chứa nuôi, có chứa nuôi ắt không gấp rút ồn ào, không biến động giận dữ, tâm tình tốt; khi gặp vấn đề khó khăn ngay trước mặt, như không mỹ mãn về cuộc sống, khổ rầu về hoàn cảnh, thiếu sót hạn chế của xã hội hiện thực, việc con người phiền não xấu xa, các việc đều có thể mở dắt từ “thánh trí”, điều chỉnh tâm cảnh bất bình chính mình, trong tâm bình hòa, bình thuận, bình tĩnh, bình đạm. Tình tự không thể theo sự vui giận mà chìm nổi, xem phú quý như khói mây qua mắt, lấy tâm tri túc để thủ xả muôn vật. Không vọng cầu, không vọng lấy, không vọng dùng, không bị sự trói buộc của vật bên ngoài, tâm an lý được, tùy duyên qua ngày, cuộc sống sẽ được hạnh phúc vui vẻ.

GIẢI THÍCH NGHI NGỜ

A. PHẬT GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ MÊ TÍN

Nói “mê tín” là tự mình chưa xét qua hiểu rõ ràng thì đã chạy theo và nói pháp cho người khác, tin một cách mù quáng. Bất kỳ giáo pháp nào, không có chỗ gọi là mê tín hay chẳng mê tín. Mê tín hay không là thái độ tín ngưỡng của anh. Nếu như anh đã thâm nhập và hiểu rõ, trải qua sự quan sát và suy nghĩ, cho là giáo pháp đó không có sai lầm và quan niệm của anh ăn khớp nhau, mà sản sinh tín ngưỡng, đó lại là tín ngưỡng của lý trí. Nếu như chưa rõ hiểu, chỉ nghe người khác nói là rất tốt, hoặc giả nương nơi truyền thống của gia tộc mà tín ngưỡng theo, sau khi tín ngưỡng còn chưa thâm nhập hiểu rõ, chỉ thuần túy ngay trên việc làm là “tín ngưỡng”, như thế tức là giáo pháp bị tín ngưỡng khiến anh có nhiều tốt đẹp, bản thân của anh cũng là mê tín. Nếu như anh không hiểu rõ Phật giáo, chỉ nghe người khác nói Phật giáo là mê tín, hoặc nhìn thấy một vài nghi thức biểu tượng của Phật giáo, mà chưa trải qua sự thâm nhập rõ hiểu ở nghĩa lý, thì đã bình đoán Phật giáo là mê tín, như thế thật anh mới là mê tín, rồi nói pháp mê tín cho người khác, thành kiến chấp mê tín chính mình.

Phật giáo từ chỗ không thể đồng với người mê tín, trái lại, khuyến khích con người hoài nghi, đều đem việc hoài nghi đề xuất ra để mà thảo luận. Duy có biết hoài nghi, mới có thể nhận chân để bàn xét mà có được đáp án, như đây mới có thể sản sinh ra tín tâm chân chính. Trên sự thật, không có bất kỳ tôn giáo nào như là Phật giáo chịu cho con người hoài nghi kiểu này, khai phóng kiểu này và không mê tín kiểu này.

B. PHẬT GIÁO KHÔNG ÐỒNG VỚI SỰ THẦN KỲ CỦA TRỜI ÐẤT

Kẻ sĩ trong xã hội đối với Phật giáo hiểu lầm rất là sâu nặng, chẳng qua ở nơi hai chữ “mê tín”, phần nhiều con người chịu ảnh hưởng qua “tân giáo dục” mà đối với Phật giáo không có chỗ hiểu rõ; lúc bàn đến vấn đề tín ngưỡng, quan niệm thứ nhất nhận xét là: “đây là cử động mê tín”. Trên sự thật, đều chẳng phải là Phật giáo mê tín, mà là bị kẻ sĩ có ý và người truyền đạo ngoại đạo, vì sự tiến bộ và khoa học của tôn giáo mình, vì là tự thân đánh giá, chẳng tiếc lời cố ý vu báng miệt thị, điên đảo trắng đen, đối với Phật giáo thêm lên cái mũ: lạc bầy, tiêu cực, mê tín... và một bộ phận tín đồ ngoại giáo, cho rằng “mặt trăng là vòng tròn của nước ngoài”, đã vậy, Mục sư và Thần phụ đều nói Phật giáo lạc bầy mê tín, nghĩ rằng Phật giáo đại khái là tôn giáo lạc bầy mê tín, rồi đem bao nhiêu là sự tình mê tín thêm vào ở mặt trong của Phật giáo, mới khiến cho Phật giáo bị trùm lên một lớp sắc thái mê tín. Riêng Phật giáo là một tôn giáo lấy từ bi làm gốc, nhẫn nhục làm hành động, mặc dù giới bên ngoài nói như thế nào, tín đồ Phật giáo đã không biện bác, cũng không giải thích. Ðây cũng khiến cho trên xã hội hiểu lầm đối với Phật giáo càng lúc càng sâu.

Vấn đề rất dễ cùng với Phật giáo lộn xộn không trong sáng đó là “thần kỳ”. Thần kỳ trong dân tộc ở các nước trên thế giới đều có lịch sử sâu xa, nước chúng ta cũng không ngoại lệ. Nguyên lai nhân loại cổ đại, hiểu biết chưa mở mang, đối với các món hiện tượng của cõi tự nhiên, cảm được thần kỳ chẳng trắc trở. Cho là ắt phải có một loại Thần oai lực không thể so sánh hiện đang thao túng khống chế, nhơn đó thì do sợ sệt mà cầu đảo lạy lục. Họ cho là sự sống, chết, thọ, yểu của con người, họa phước tai hoạn, chẳng việc gì chẳng do Thần kỳ nắm lấy. Những Thần kỳ này, cung kính cầu đảo đó thì được phước, nghịch lại hay xúc phạm đó thì bị họa; người đời vì cầu phước diệt họa, do đó lấy lễ “tam sanh” mà cúng tế Thần kỳ, hiến thì dùng giấy tiền vàng bạc, để rộng lấy được tâm vui của Thần kỳ. Xuống đến đời sau, thần càng lúc càng nhiều. Một nhà trong nông dân Thần kỳ được kính phụng có: hoàng thiên, thổ địa, môn thần, táo thần,... đều ở trên nhà chiếm chỗ một ghế. Kiểu này trở xuống khiến trong đời người bao nhiêu trong thiên hạ thành Thần kỳ.

Mục đích của việc kính phụng Thần kỳ, mặt tiêu cực là cầu khỏi họa, mặt tích cực là cầu ban phước... trở xuống, người mê của thì cầu bằng chứng khen ngợi trong sự bảo hộ giúp đỡ của thần, như phát hoạnh tài, không nhọc sức mà được; người mê quan chức cầu giúp đỡ của thần được thăng liền ba cấp, lại có phần tử chẳng có phép tắc cầu sự giúp đỡ của thần để được bình an không xảy ra sự cố. Những người này chẳng trồng nhân thiện, mà vọng cầu quả thiện, thần nếu có linh, lại có thể nào theo chỗ ham muốn của con người cho lấy cho cầu ư?

Cần biết muôn hình tượng trong vũ trụ, mỗi cái đều có nhân quả của nó. Muốn cầu ngũ cốc được mùa, cần phải ra công canh tác. Muốn cầu nhân khẩu bình an không bệnh hoạn, cần phải cẩn thận ăn uống vệ sinh. Trong những bằng chứng khen ngợi của thần linh thì “hoặc nhiên” có thể trúng, mà chẳng phải “quyết nhiên” phải trúng; cầu thăng quan cần phải lấy trung. Cầu làm nhân, để đợi duyên cơ gặp gỡ; kẻ chẳng có phép tắc, hễ làm là việc phạm pháp, thì làm sao chẳng có việc phát ra ở cửa đông. Chẳng phải cầu thần là có thể đạt được mục đích.

Luận ngữ nói rằng: “Thông minh chánh trực chi vị thần”. Người thông minh chánh trực hãy còn không chấp nhận đối với kẻ tiểu nhân dối trá siểm mị giả dùng sắc thái, huống đâu có thần nào có thể tham đồ tam sanh tế phẩm mà làm cho nhân gian điên đảo thị phi ư? Người đời không rõ lý nhân quả mà vọng cầu không nhân mà được quả, thật là ngu si tột cùng. hành động ngu si này tức là mê tín. Bất hạnh cho kẻ sĩ trên xã hội lầm đem ngòi bút này đoán tính đến Phật giáo, thậm chí có người đem đồng cốt, tướng sao, xem phong thủy, lựa ngày tốt, những việc làm này hoàn toàn cùng với Phật giáo phải được kéo rời ra; Ðây chính là giải thích sự gặp gỡ lầm lạc không trong sáng.

Phật giáo không đồng với thần đạo, chỗ tin và phụng thờ của Phật giáo là: PHẬT. Phật nghĩa là người giác ngộ; người mà tự mình giác ngộ và giác ngộ cho người khác, giác hạnh tròn đầy gọi là Phật. Thứ đến quả vị của Phật là Bồ tát; Bồ tát nghĩa là “giác hữu tình”, là giác ngộ cho tất cả chúng sinh hữu tình. B�� tát là trên cầu pháp Ðại giác, dưới độ tất cả hữu tình. Bồ tát tu thành công đức tròn đầy, cũng tức là Phật. Trong chùa viện hoặc ở gia đình ở nước ta chỗ kính thờ là Phật, có: Ðức Phật là giáo chủ Thích Ca Mâu Ni, có Ðức Phật là Ðức A Di Ðà ở tây phương Cực Lạc thế giới... Bồ tát kính thờ có: Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Ðại Thế Chí, Bồ tát Ðịa tạng... Ngoài ra đây, cung nào, cảnh nào mà chỗ kính thờ là: thiên đế, đại đế, thiên hậu, nương nương cho đến tiên cô, chân nhân... có thể nói cùng với Phật giáo hoàn toàn tách rời không có quan hệ.

Hơn hai ngàn rưỡi năm trước, Ðức thế tôn Thích Ca đã bảo rằng đệ tử không được mê tín. Trong kinh Bát Nhã tam muội nói rằng: “không được làm việc các đạo khác, không được lạy trời, không được cúng tế quỷ thần, không đuợc xem ngày tốt”. Lại nói rằng: “không được bói hỏi thỉnh thờ, phù chú yểm quái, tế tự giải tấu”.

Người đời cúng tế thần kỳ, tuy thuộc về mê tín, nhưng trong mắt trong tâm của họ rốt cuộc còn có quan niệm thần quỷ và nhân quả báo ứng. Sở dĩ người mê tín, là không gặp được thiện tri thức cửa Phật để khai mở chánh tín cho họ. Kẻ mà rất đáng thương xót, là những người căn bản họ không có quan niệm thần quỷ, họ không tin nhân quả, không sợ quỷ thần, làm việc hồ đồ vọng tưởng, chẳng sợ báo ứng. Bọn người này sau khi chết đọa lạc, không biết kiếp nào mới ra khỏi ba đường!

C. PHẬT GIÁO CHẲNG PHẢI LÀ TIÊU CỰC - TRỐN ÐỜI

Tín đồ Phật giáo lấy từ bi làm gốc, nhẫn nhục làm hành động. Ðối với sắc - thanh món lợi, năm dục sáu trần, rất xa tránh. Không giống như tâm người đời không có nhàm đủ, càng nhiều càng tốt. Ðây là một hạng người tự cho là tích cực tiền tiến, cho thêm lên cái mũ tiêu cực, nhận xét rằng Phật giáo không thích hợp đối với hiện tại loại cạnh tranh xã hội, trời thì lựa chọn, vật thì giành giựt này. Nhưng Phật giáo là tôn giáo tiêu cực trốn đời thật không? Không, chỉ cần con người đối với Phật pháp có chút ít hiểu rõ thì có thể biết được tinh thần tích cực nhập thế của Phật giáo. So sánh phương diện đồng nhất cách nhìn đối với sinh lão bệnh tử, bèn có sự “thanh tịnh vô vi” của Huỳnh lão ở Trung Quốc, sự “buông trôi hình hài” của các danh sĩ đời Ngụy Tấn; Mà ở nơi Phật giáo, ngược lại từ bi dũng mãnh, tinh tấn không giãi đãi. Ðây là chỗ vĩ đại của Phật giáo, cũng biểu thị tánh tích cực của Phật giáo.

Cũng cho rằng có người sẽ hỏi: “tôi thường nhìn thấy hòa thượng hoặc người tin Phật, chỉ ở trong núi thẳm hoặc trong tự viện tụng kinh niệm Phật, cuộc sống này sao có thể nói là tích cực ư?”. Ðây cũng là chỉ biết một mà không biết hai. Tinh thần của đại thừa Phật pháp là khắp độ chúng sinh, nếu độ chúng sinh thì cần phải học tập phương pháp độ sinh. Thí dụ như có người bị chìm trong nước, anh dẫu có lòng cứu người, nhưng do không biết bơi lội, chỉ đứng yên trên bờ hô hoán. Có người ngoài khác tuy biết bơi lội, nhưng ngược lại không muốn quản ngại nhiều đến việc nhàn nhã, anh ta chỉ đứng khoanh tay, bàng quan. Lúc này nếu có một người đã có tâm cứu người lại biết kỹ thuật bơi lội, nhảy vào trong nước thì có thể cứu được người chìm trong nước lên. Ðệ tử của Phật, không câu nệ là tỳ kheo xuất gia hoặc tín chúng tại gia, những người tụng kinh niệm Phật đó, đều là người phát nguyện rộng cứu người, đang luyện tập kỹ thuật bơi lội. Không có kỹ thuật làm sao cứu người? Rất không phải là đem những lời này ra làm lời biện hộ cho đệ tử cửa Phật, trên sự thật, tinh thần của Phật giáo xưa nay như vậy.

Phật giáo không phải là chủ nghĩa chán mặt tự càn, pháp lục độ của đại thừa tuy trọng về nhẫn nhục, nhưng xả thân vì pháp, cũng là giáo nghĩa Phật giáo. Vì khiến bạo lực xâm lăng, chánh pháp có cái lo sắp diệt, lúc giáo lý ví như cảm hóa không hiệu quả, Phật tử cũng sẽ phấn khởi đại lực dõng mãnh, đứng dậy chống đối với bạo lực. Như trong kinh “Nhân duyên tăng hộ” chép rằng: “Vì hộ sinh mệnh của Phật pháp, thà bỏ tiền tài; vì cứu hộ một nhà, thà bỏ một người; vì cứu hộ một thôn thà bỏ một nhà; vì cứu hộ một nước thà bỏ một thôn”. Rắn độc cắn tay thì tráng sĩ chặt đứt cổ tay. Ðoạn kinh văn ở trên, là những gì mạnh mẽ và quả cảm.

Tích cực tiến thủ của người đời nói, chẳng ngoài sự tranh đuổi trên danh lợi, say đắm trên thinh sắc. Ai đã từng nghĩ đến hy sinh chính ta, phổ độ chúng sinh, trên thì cầu Ðại giác, tinh tấn không biếng nhác mới gọi là tích cực đó vậy!

D. PHẬT GIÁO LÀ TRÍ TÍN KHÔNG PHẢI MÊ TÍN

Phật pháp là pháp lớn cần con người chuyển mê khai ngộ, chuyển si sanh huệ, chuyển phàm thành thánh; nếu có người đối với Phật pháp một điều cũng không biết, hoặc chỉ hạn chế ở nơi nghe đạo nói lại, hiểu biết phân nửa, tức nhận định Phật giáo là mê tín, đây không khác nào như người mù rờ voi, ngồi dưới giếng dòm trời.

Trên sự thật, thế gian cũng có tôn giáo mê tín _ là những tín ngưỡng ngoại lực đó, đem tất cả chính mình giao phó cho tôn giáo, cho thần ở bên ngoài. Mà chẳng tín ngưỡng tự lực _ Phật giáo tin tưởng tất cả chúng sinh đều đủ Phật tánh, chúng sinh đều có thể tu trì thành Phật. Tôn giáo tín ngưỡng ngoại lực là tin thần ở ngoài loài người, đang là chủ tể tất cả nhân loại. Các việc cát, hung, họa, phước của người có thể xin cầu sức lực của thần, cầu bảo hộ cải tạo. Loại tôn giáo này có thể phân làm hai loại nguyên thỉ và tiến bộ.

Nhân loại nguyên thỉ, trí thức chưa mở mang, đối với hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ như: trời lấy gì lập, đất lấy gì chở, oai lực của điển chớp, lúc tai hại của nước lửa, đều cảm thấy sợ sệt. Ở trong sự khốn đốn mê mờ sợ sệt, huyễn tưởng đến chắc có một loại thần đủ có oai lực không thể so sánh, kẻ thao túng đang khống chế tất cả vũ trụ. Những thần này đụng đến hay nghịch đến thì chịu tai hại họa ương, thuận đó theo đó thì được tha thứ giúp đỡ. Ðối với việc cúng tế thần kỳ thì thành một việc đại sự trong cuộc sống loài người, mà đa thần giáo cũng sản sinh việc này.

Nhất thần tôn giáo tiến bộ hơn so với tôn giáo đa thần. Do ở nơi kết quả sự tăng tiến trí huệ của loài người khiến cho bộ phận kẻ sĩ cảm thấy tôn giáo đa thần với sự bất hợp lý của nó. Những bí mật sâu xa của vũ trụ như: sự sanh diệt của muôn vật, đầu mối thời gian dời trôi và chân đế của nhân sinh; như sinh già bệnh chết; cùng tột sự yểu và thọ, xem ra giống biến huyễn chẳng so tính, trên thực tế lại giống như lần lượt phép tắc vận hành nhất định. Ở đó khiến người cho là trên vũ trụ, trong cái mờ mịt ấy có một cái chủ tể vạn năng là “thượng đế”. Kẻ chi phối là chủ tể của tất cả thế gian; gồm lại thì vũ trụ vạn hữu, đều là chỗ sáng tạo của thượng đế. Ðây cũng là do nơi đa thần mà biến đến nhất thần. Bà la môn giáo cuả Ấn Ðộ, cũng như thiên chúa giáo của người Do Thái, Gia tô giáo cho đến Hồi giáo của Ả Rập đều thuộc một loại này. Xem hết giáo nghĩa của những tôn giáo này, hình thái và nghi thức có chỗ không đồng, chỉ lấy một món đối tượng làm việc sùng bái thì là một. Chẳng qua do ở nơi nhân loại tư tưởng tiến bộ, khoa học xương minh, vạn vật là chẳng phải do thượng đế tạo, thế giới là chẳng phải do thượng đế chủ tể; ở trong tâm mục của những người có lý trí có tư tưởng này đã chẳng có bất cứ giá trị nào có thể nói được.

Trừ ngoài tôn giáo tín ngưỡng về tha lực, hãy còn có tôn giáo tín ngưỡng về tự lực, đó chính là Phật giáo. Phật giáo chẳng cho là vũ trụ là do thần sáng tạo hoặc chủ tể. Ðối với vũ trụ vạn hữu, hiện tượng sanh diệt đổi khác, Ðức Thế tôn Thích Ca thường nói: “Pháp nhĩ như thị”; ý nghĩa là những hiện tượng này, ở nơi phép tắc tự nhiên thì xưa nay cũng đều là như đây. Phép tắc tự nhiên là cái gì? Tức là luật nhân quả của vạn hữu. Muôn pháp từ nhân duyên mà sinh, muôn pháp cũng từ nhân duyên mà diệt. Ðây sinh, đây diệt, đều là quả của nhân duyên sinh. Tinh thể vận hành, đầu mối thời gian dời trôi trong đó có nhân quả; sinh lão bệnh tử, cùng tột được yểu _ thọ, trong đó cũng có nhân quả. Nhân như vậy, quả như vậy, mảy tơ sợi lông chẳng chịu mượn nhờ. Nhân đây, hiện tượng tự nhiên chắc chắn không có đủ Thần chưởng quản, nhân sinh gặp gỡ cũng chẳng phải do Thượng đế chủ tể. Tục ngữ xưa nói rằng: “họa phước không cửa, chỉ người tự chuốc”. Tự mình cũng là chủ tể chính mình, không có thần nào, có thể lấy làm chủ tể con người, cũng không có thần nào có thể đối với con người mà ban phước giáng họa.

Hơn hai nghìn năm trăm năm trước, lúc Ðức Thế tôn Thích Ca ở dưới cội bồ đề mắt thấy sao sáng ngộ đạo, câu nói thứ nhất mà ngài mở miệng để nói: “Kỳ thay kỳ thay, tất cả chúng sinh đều đủ đức tướng Như Lai trí huệ, nhưng nhân vì vọng tưởng chấp trước, không thể chứng được, nếu lìa vọng tưởng thì nhất thiết trí, tự nhiên trí tức được hiện tiền”. Ðức tướng Như Lai trí huệ là cái gì? Tức là Phật tánh, là người người đều có; tánh này ở nơi thánh không tăng, ở nơi phàm không giảm. Người người nương nơi pháp tu trì, chuyển mê khai ngộ, đều có thể thành Phật. Nhưng nương nơi pháp tu trì chuyển mê khai ngộ hoàn toàn cần dựa vào lực hành thật tiễn chính mình, không phải là dựa vào sự ban phát của Thần. Phật tánh _ người người đều đủ, do vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng được. Ðây được so sánh trên cái guơng phủ bụi, quyết cần tự mình nương phương pháp tu trì, lau chùi đi bụi bặm, khôi phục lại tánh gốc _ ánh sáng nguyên có. Ðây hoàn toàn dựa vào sự tu trì của chính mình, chẳng đồng với Gia tô mong nhờ tha lực nói là: “tin chúa được cứu rỗi”. Người đời không hiểu lý này, lấy tôn giáo mong nhờ thần lực giúp cứu, cho là khoa học; đem tôn giáo nhờ dựa vào sự tu trì chính mình cho là mê tín; đây há chẳng phải là điên đảo đen trắng, không rõ thị phi sao? Cái nào là trí tín? Cái nào là mê tín? Người mắt sáng đủ có chỗ lựa chọn rồi.

E. PHẬT PHÁP VÀ KHOA HỌC

Khoa học hiện đại rất là thích hợp với nhân loại; vì nó có thể đem cái học vấn trên sách vở, thực dụng vào việc hưởng thụ vật chất được cải tiến trên cuộc sống nhân loại. Trong quan niệm ở nơi con người, cho rằng khoa học là một điều mới mẻ, tiến bộ, thiết thực. Cho nên lời nói về khoa học của các nhà khoa học, và những lời khác ở trong các sách là không có giống nhau. Ðiểm cần yếu của nhà khoa học có ba:

Một là luật NHÂN QUẢ, là kết luận từ lý luận đến thực tại, sự tương truyền cùng giống nòi – trồng đậu được đậu.

Hai là KINH NGHIỆM THỰC TẾ, là sau khi thu nhập tài liệu, nghiên cứu chín chắn, mới viết ra lý luận để giải thích, chẳng thêm bất kỳ “không tưởng” nào.

Ba là PHÂN TÍCH, là dùng thực tế kinh nghiệm qua nhiều ngày tháng để phân tích và quan sát sự biến hóa từng cái cá thể; hoặc mổ xẻ từng cái cá thể mà xem xét cái tổ hợp đó.

Khoa học dùng ba phương pháp này để nghiên cứu vạn vật, nhiên hậu biết được sự tồn tại của vật, vì hai món: sự liên tục của thời gian và sự hòa hợp của không gian, giả tướng cấu thành, đây cùng với Phật học rất giống nhau.

Sự tổ chức của Kinh Phật chia làm ba phần lớn: Phần tựa - phần chánh tông - phần lưu thông; mỗi đại đoạn lại phân ra làm bao nhiêu tiểu đoạn, thứ lớp, sự phân chia nghiêm cẩn này cũng hợp với tinh thần khoa học.

Mỗi một bộ Kinh Phật bắt đầu đều có sáu món chứng tín đầu mối: TÍN, VĂN, THỜI, CHỦ, XỨ, CHÚNG, lại nói rõ điểm trọng yếu về thời gian, địa điểm, thính chúng... mà Phật nói kinh đó, đây họp với “lục hà” (sáu việc được hỏi) trên tân văn học ngày nay: - hà nhơn (người nào?) - hà sự (việc gì?) - hà thời (lúc nào?) - hà địa (chỗ nào?) - vi hà (làm gì?) - như hà tương tự (giống cái gì?). Lại tương đồng với người làm công tác khoa học viết về báo cáo thực nghiệm. Báo cáo thực nghiệm bắt đầu cần phải viết: Người chủ trì, những người cộng đồng thực nghiệm, thời gian, điạ điểm, mục tiêu thực nghiệm, phương tiện sử dụng (đồ vật sử dụng).

Quá trình của con người học Phật, có bốn phương pháp hợp với khoa học: 1. - tin, 2. - hiểu, 3. - thực hành, 4. - chứng.

TIN, là tin phương pháp Ðức Phật dạy cho con người là CHƠN CHÁNH. Ðức Phật nói con người có Phật tánh, nhưng bị phiền não ngăn che, cho nên ở nơi cảnh mê. Con người nếu dọn trừ mê vọng, thì sanh khởi giác ngộ, tương lai cũng được thành Phật. Nếu anh đối với những lời nói của Ðức Phật mà không hoài nghi, thì anh tức là có chánh tín đối với Phật giáo rồi.

HIỂU, là anh tuy tin những lời nói của Ðức Phật đúng, nhưng anh cần xác định thực tế có thể hiểu rõ ý nghĩa bao hàm trong một câu nói đó hay không. Không có được hồ đồ không có chỗ rõ ràng, không có thể hiểu một nửa hoặc không hiểu, hoặc là có chỗ hiểu lầm.

THỰC HÀNH, là đối với câu nói của Phật “ngươi sẽ thành Phật” này, anh đã tin sâu sắc rồi; anh lại hiểu được làm thế nào mới có thể thành Phật; như thế hiện tại là anh cần phải đem phương pháp thành Phật của Ðức Phật dạy, từng bước từng bước luyện tập một cách thiết tha và chắc thật. Nhưng có nhiều đệ tử là tri thức cửa Phật, tin pháp của Phật giảng, lại có thể hiểu rõ chân nghĩa của nó, song vì Phật pháp không dễ không theo việc làm thế tục hoặc gấp rút công sức để mau gần cái lợi, thực hành được một thời gian thấy không công hiệu thì chẳng làm nữa; kiểu này tuy là có tin có hiểu, nhưng rốt cục là ngang bằng với sự chẳng tin chẳng hiểu; bởi vì học Phật đối với TIN và HIỂU, thì HÀNH càng trọng yếu hơn.

CHỨNG, là phương pháp lúc Ðức Phật còn tại thế dạy người thành Phật có tám vạn bốn nghìn pháp môn, bất kỳ một pháp nào, hễ có hằng tâm mà chí thành tu trì, có như vậy tức thân có thể thành A La Hán, thành Bồ tát, thành Phật. Chỉ riêng đem nước Trung Quốc ra nói, caÙc bậc cao tăng, đại đức, nhiều đời thành đạo (đắc đạo thành Bồ tát hoặc thành Phật), như ở trong “Cao tăng truyện” hay “Hiền thánh lục” đã nói đến, trải qua rất nhiều trong đây không nói lại.

Nói một điểm thực tế hơn, ngày nay bao nhiêu sự phát hiện trên khoa học, kinh Phật hơn hai nghìn năm trăm năm trước đã sớm có ghi chép rồi.

Quá khứ, thế giới trong quan niệm của người đời, chẳng ra khỏi phạm vi địa cầu, như bình thường được gọi là “đi vòng quanh thế giới”, chẳng qua là nhiễu một vòng xung quanh địa cầu; gọi là “đại chiến của thế giới”, cũng chẳng qua là chiến tranh quốc tế đại quy mô trên địa cầu. Mà Ðức Phật đã từng nói trong kinh: “tam thiên đại thiên thế giới”. Tam thiên đại thiên thế giới, thật chẳng phải là ba nghìn cái thế giới, mà là tập hợp một nghìn thế giới làm một tiểu thế giới, tập hợp một nghìn tiểu thế giới làm một trung thế giới, tập hợp một nghìn trung thế giới làm một đại thế giới. Do trong đó bao hàm bội số có ba cái nghìn, cho nên gọi là tam thiên đại thiên thế giới”. Trong kinh nói rằng: “Hư không vô tận, thế giới vô lượng, quốc độ chúng sanh vô lượng”, cho nên tam thiên đại thiên thế giới cũng rất vô lượng. Ðịa cầu chỗ ở của chúng ta, chẳng qua là một hạt bụi trong không gian to lớn. Lời nói của pháp này ở lúc trước khi khoa học chưa phát đạt, thật khó được con người tiếp nhận. Nhưng do nơi sự phát triển của thiên văn học, đã chứng minh tinh cầu trong hệ ngân hà nhiều đến nỗi không thể đếm hết, cự ly rộng của khoảng cách tinh cầu cũng tính không hết. Ví dụ như địa cầu khoảng cách với thái dương là tám phút rưỡi năm ánh sáng (cự ly của một năm ánh sáng, mỗi giây là ba mươi vạn dặm, nhân lên số giây của một năm). Mà cự ly giữa sao Ngưu Lang và Chức nữ đến mười hai ngàn năm ánh sáng. Lại có những tinh cầu cách địa cầu tới khoảng vài chục năm ánh sáng... Do đây có thể biết so với khoa học, Phật pháp càng khoa học.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn