Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Mục Lục

14/05/201107:52(Xem: 7686)
Mục Lục

Tấm lòng rộng mở
THUẦN HÓA TÂM HỒN
Nguyên tác: Taming the Monkey Mind
Tác giả: Thupten Chodron - Dịch giả: Thích Minh Thành

MỤC LỤC

Lời Nói Đầu
PHẦN 1. NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG TA
Chương I: Cha Mẹ Đối Với Con Cái
Hiểu biết cha mẹ của chúng ta
Chương II: Tình Bạn
Thương yêu và chấp thủ
Giúp đỡ bạn bè
Áp lực trang lứa
Giãi bày những giận hờn
Chương III: Đồng Nghiệp Và Khách Hàng
Sống một đời sống đạo đức
Cảm nhận sâu sắc những cố gắng của mọi người
Hóa giải những bất đồng
Chương IV: Cuộc Sống Vợ Chồng
Chương V: Tình Ái
Kế hoạch hóa gia đình
Chương VI: Vị Đạo Sư Tâm Linh
Chọn lựa đạo sư
Nghe theo lời dạy của thầy nhưng không mù quáng
Làm người thành thật
Thương mến không phải là chấp thủ đối với thầy
PHẦN 2. CÁI NHÌN BAO QUÁT THẾ GIAN
VÀ NẾP SỐNG THEO CHÁNH PHÁP
Chương VII: Tâm Ý Là Kẻ Tạo Tác Ra Cảm Nhận
Cái ý là kẻ tạo tác ra nghiệp
Nhận lấy tái sinh
Phải chăng có một khởi thủy?
Ý là kẻ lý giải về hoàn cảnh của chúng ta
Chương VIII: Bốn Sự Thật Cao Thượng
Sự thật thứ nhất: Nỗi khổ đang có mặt
Sự thật thứ hai: Nỗi khổ có những nguyên do
Sự thật thứ ba: Nỗi khổ có thể được diệt trừ
Sự thật thứ tư: Con đường chơn chánh
Pháp tu học cao thượng về đạo đức
Pháp tu học cao thượng về thiền định
Pháp tu học cao thượng về trí tuệ
Chương IX: Từ U Mê Đến Giác Ngộ
Đời của một người là quý báu
Ba chí nguyện khác nhau
a) Bước thứ nhất: Có tầm nhìn vượt lên trên
Niệm tưởng đến cái chết
Nguy cơ tái sanh vào cõi ác
Quy y Tam Bảo
Nghiệp: Nguyên tắc nhân quả
b) Bước thứ hai: Ước mong được giải thoát
c) Bước thứ ba: Tầm cầu, lợi lạc quần sinh
Chấp nhận rằng tất cả sinh linh từng là...
Hồi tưởng lại công ơn của cha mẹ đối với...
Mong được đáp đền ân nghĩa
Lòng thương
Tâm từ ái
Quyết tâm hay phát đại nguyện
Tâm xả thân bố thí hay tâm Bồ đề
d) Những tâm thái viễn hành: Lòng từ năng động
Bố thí
Đạo hạnh
Kiên nhẫn
Hỷ tấn
Thiền định
Trí tuệ
Chương X: Kim Chỉ Nam Cho Đời Sống
Lời khuyên về từng ngôi trong Tam Bảo
Lời khuyên chung về Tam Bảo
Chương XI: Giới Luật
Những giới điều đưa cá nhân đến bến bờ giải thoát
Giới điều của Bồ Tát
Giới điều của Mật Tông
Thọ giới
PHẦN 3. TRUYỀN THỪA LỜI PHẬT DẠY
Chương XII: Cuộc Đời Của Đức Phật
Chánh Đẳng Chánh Giác
Phật giáo tác động vào xã hội
Chương XIII: Những Truyền Thống Phật Giáo
Chương XIV: Phật Giáo Nguyên Thủy: Truyền Thống Của Những Vị Trưởng Lão
Phương pháp tu tập của Phật giáo nguyên thủy
Chương XV: Phật Giáo Đại Thừa: Phật Giáo Ở Viễn Đông
Tịnh Độ Tông
Thiền Tông
Chương XVI: Kết Hợp Giữa Kinh Giáo Và Mật Giáo
Lạt-ma, Geshe và Rinpoche
Kim Cang Thừa
Lãnh thọ pháp lực Mật Tông
Quán chiếu những linh ảnh Phật giáo
Chương XVII: Chùa Chiền Và Giảng Đường
Sinh hoạt ở những ngôi chùa
Chương XVIII: Lễ Hội Phật Giáo
Lễ thành hôn, sinh nhật, và lễ tang
PHẦN 4. PHẬT GIÁO NGÀY NAY
Chương XIX: Phật Giáo Là Gì, Mê Tín Là Gì?
Cầu nguyện cho thân nhân quá vãng
Lễ cúng cô hồn và lễ hội Vu Lan Bồn
Ma quỷ và thần thánh
Phong thủy và bói toán
Thiên nhãn
Chương XX: Hài Hòa Trong Tôn Giáo
Hài hòa giữa những truyền thống khác nhau
Hài hòa giữa Phật giáo và những tôn giáo khác
Đối thoại giữa các tôn giáo
Chú thích
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/08/2019(Xem: 9141)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.
22/08/2019(Xem: 6824)
Chư Tôn liên tông vãng sanh tịnh độ Cực Lạc lưu lại bằng chứng: - Đa số các ngài vãng sanh tự tại và biết trước ngày tháng ra đi - Một số lưu lại xá lợi (Sư Thích Thiền Tâm biết trước 6 tháng, ngày vãng sanh Cực Lạc, ra đi ngay trên bổn tọa trước đại chúng, lưu lại xá lợi răng ngũ sắc, và một bài kệ Bồ Tát Thích Quảng Đức an nhiên tự thiêu vì đạo pháp để lại xá lợi trái tim bất diệt)
18/08/2019(Xem: 5284)
Bài kết tập này sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu trực tiếp từ những bài kinh thuộc Nikàya (Pali tạng), và Hán tạng ngõ hầu giúp quý đạo hữu nhận biết tính tương đồng, nhất quán của hai hệ thống giáo điển trong việc ứng dụng lời Phât dạy trong đời sống thực tế hàng ngày, qua đó hành giả có thể đoạn ác tu thiện, tự lợi, lợi tha, lợi cho quần nhân, xã hội, lợi cho Tam Bảo; và sau khi mãn phần đối với hành giả Tịnh Độ, sẽ được thoát sanh về miền Cực Lạc.
05/08/2019(Xem: 5260)
Hành giả tùy niệm Như Lai khi tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối, được nghĩa tín thọ, pháp thọ, tâm hân hoan đến pháp do dựa vào Như Lai. Đây là cách niệm Phật mà Đức Thích Tôn đã chỉ dạy cho cư sỹ Mahànàma trong chương Sáu Pháp, Tăng Chi Bộ (Pali). Khi tâm không bị tham sân si chi phối do dựa vào Đức Phật, tức là hành giả xả bỏ tâm tự ngã (không tham, không sân, không si) khi Niệm Phật, Niệm ân đức Như Lai.
01/07/2019(Xem: 4687)
"Niệm Phật" nghĩa là xưng danh hiệu - hay nhớ tưởng đến hình tướng, bản nguyện hay công đức của một đức Phật - như Phật Thích-ca hay Phật A-di-đà. Nói chung, có ba cách niệm Phật sau đây:
14/04/2019(Xem: 8179)
Theo âm Hán Viêt, A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Tây Phương Phật. Trong kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca giảng là Phật A Di Đà, Giáo Chủ cõi Cực Lạc (Soukhavati (Scr.), ở phương Tây, cách cõi Ta Bà của chúng ta mười vạn ức cõi Phật. Đó là một cõi đầy đủ các công đức trang nghiêm. Lầu các, cây cối, đất đai toàn là châu báu. Nào là các loài chim bạch hạt, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tầng già v.v… ngày đêm sáu thời ca hát ra những lời pháp: năm căn, năm lực, bảy món bồ đề, bát chánh đạo… Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật. Ngài có đời sống dài vô hạn lượng nên còn có nghĩa là Vô Lượng Thọ Phật.
22/02/2019(Xem: 5453)
Một bài pháp được ban cho chư Tăng Ni ở International Mahayana Institute tại Boudhanath, Nepal, ngày 2 tháng 2, năm 1975. Nicholas Ribush hiệu đính. Xin xem bản Phụ Lục 1 Illuminating the Path to Enlightenment của Đức Đạt Lai Lạt Ma, hay www.lam-rim.org, để có bản dịch chánh văn. Lama Zopa Rinpoche dịch Tạng ngữ sang Anh ngữ. Bài pháp này đã được ấn tống năm 2005, trong tác phẩm Teachings from Tibet của nhà xuất bản LYWA. Quý vị có thể đọc thêm những bài pháp của Khunu Lama Rinpoche và các Lạt Ma Tây Tạng cao quý khác ở TeachingsFromTibet.com.
17/12/2018(Xem: 4979)
Ngày đăng tải: tháng 10, năm 2005 Rinpoche đã cho lời khuyên sau đây về ngũ lực để thực hành vào phút lâm chung. [Chú thích: Lời khuyên này đang hiện hành trong một quyển sách nhỏ ở FPMT Shop.] Có năm lực phải được thực hành khi gần kề cái chết. Chúng rất quan trọng. Hiện nay, đó là điều chúng ta cần phải tu tập. Phải nhớ chúng là những điều gì, ít nhất là tên gọi và ý nghĩa của chúng, rồi ta sẽ có khả năng để đưa chúng vào thực hành.
22/10/2018(Xem: 4928)
Nếu chúng ta bỏ chút thì giờ để tìm hiểu “Sở tri chướng” (所知障) là gì? thì trên mạng Internet cho chúng ta kiến giải hoặc của các bậc thầy đáng kính: Hòa thượng, Thiền sư … hay của các chùa, các trung tâm Phật học, trung tâm hoằng pháp. Chẳng hạn như: 1. Sở Tri Chướng [1] 2. Thế nào là sở tri chướng và phiền não chướng? [2]] 3. Sở tri chướng và phiền não chướng [3]
11/10/2018(Xem: 4460)
Mỗi sáng Sư thức dậy thật sớm, đánh chuông báo thức mọi người vào lúc bốn giờ sáng. Trong không gian tĩnh mịch của vùng núi, tiếng chuông nhỏ nhưng ngân dài, vang thật sâu trên dãy hành lang im lặng. Bên ngoài cửa sổ trời vẫn còn mịt tối. Tôi bước ra ngoài phòng, đi về phía thiền đường.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567