Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Cùng nhau nhìn lại bảng xếp hạng chư vị Tổ trong Tịnh Độ Tông và Liên Tông Tịnh độ qua bài pháp thoại của TT Thích Nguyên Tạng về “Hành trạng và Tư Tưởng của Thiện Đạo Tổ Sư”

16/03/202407:08(Xem: 1009)
Cùng nhau nhìn lại bảng xếp hạng chư vị Tổ trong Tịnh Độ Tông và Liên Tông Tịnh độ qua bài pháp thoại của TT Thích Nguyên Tạng về “Hành trạng và Tư Tưởng của Thiện Đạo Tổ Sư”


TT Nguyen Tang-6TT Nguyen Tang-7

Cùng nhau nhìn lại bảng xếp hạng chư vị Tổ trong Tịnh Độ Tông và Liên Tông Tịnh độ  qua bài pháp thoại của TT Thích Nguyên Tạng về  “Hành trạng và Tư Tưởng của Thiện Đạo Tổ Sư” 

 

Nam Mô Bổn  Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 

Kính bạch TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng, trụ trì Tu Viện Quảng Đức kiêm Tổng Thư Ký GHPGVNTN tại Hải ngoại Úc Châu và Tân Tây Lan đồng thời kiêm đảm nhiệm vai trò thành  viên mới trong ban hoằng pháp của Giáo Hội Tăng Già Thế Giới .

Kính bạch TT Thích Hạnh Tấn, chủ nhiệm ban truyền bá giáo lý Âu Châu, 

Kính thưa quý đạo hữu đang và sẽ thính pháp.với những buổi trực tuyến Zoom của ban truyền bá Giáo Lý Âu, Cháu.

 

Lời nói đầu, 

 

Trong suốt hai năm đại dịch hoành hành, con, Huệ Hương  có lẽ nhờ một túc duyên xưa nào đó, đã có cơ hội được làm quen qua  những bài trình pháp  của vị Thầy mà con luôn ngưỡng phục về tài đức ( TT Thích Nguyên Tạng)  với hơn 300 bài về Tổ Sư Thiền của Ấn Độ, Trung Hoa, và Việt Nam nhờ vậy đã giúp con  thu thập rất nhiều trải nghiệm và thể nghiệm được rằng: Trăm sông đều chảyvề biển cả, cũng như trăng mọc  hay  trăng lặn  cũng không thoát khỏi bầu trời bao la. 

Biển cả mênh mông hay bầu trời bao la chính là cái Tâm 

Phật cũng ở tâm, chúng sanh cũng ở tâm, tuy có sự khác biệt về thể tướng nhưng không có sự khác biệt về thể tánh.

Chính vì thế khi nhận  thông báo sẽ có buổi pháp thoại về Nhị Tổ Tịnh Độ Tông;,” Đại Sư Thiện Đạo “ lòng con có chút háo hức lạ kỳ và thầm nghĩ rằng mình sẽ  thấu hiểu thêm, nhận định thêm về các đại tông  phái, ngỏ hầu   hiểu thấu được sự thật của muôn pháp trên thế gian, không bị lầm mê cho giả là thật.

 Và nhất là con  từng được giảng dạy rằng:   “Niệm Phật là để trở về với tâm Phật thanh tịnh trong sáng nghĩa là khi  nói năng hành động suy nghĩ với tâm thanh tịnh trong sáng thì đó là tâm Phật đang hoạt dụng.” 

Thế nên con đã xem trước trên các mạng Phật  Giáo và có chút tư duy  thì hôm nay qua buổi pháp thoại này và nhờ vào những câu hỏi của MC Ngọc Sáng,và quý  đạo hữu như Quảng Thiệp, Thúy Nga, Trừng Chánh, Lâm Thuý, con mới hiểu rằng các bạn này đều đã xem qua tài liệu trước như con và hơn thế nữa đã tỏ tường hơn con rất nhiều và chỉ chờ lời giải đáp của Giảng Sư như một lời bảo đảm để bổ túc  cho cái biết về kiến thức Phật pháp  của mình,

Kính tán thán thay,

Và bây giờ mời quý Ngài cùng trở lại bài pháp thoại với sự ghi chép qua những gì con đã cảm nhận, 

Trân trọng kính chia sẻ ,

Mở đầu buổi pháp thoại hôm nay , có thể được chia khoảng thời gian 2 giờ 15 phút như sau ; 

MC Ngọc Sáng giới thiệu đôi nét về TT Giảng Sư Thích  Nguyên Tạng ( 10 phút) 

Bài giảng về Hành Trạng và Tư tưởng  của Thiện Đạo Nhị Tổ Tịnh Độ Tông (50 phút) và phần còn lại được tóm gọn với 9 câu hỏi mà chúng ta sẽ đi vào chi tiết sau :

Có thể nói hành trạng của Đại Sư Thiện Đạo rất đơn giản với những, giới thiệu được tóm tắt không được 1/2 trang A4 như sau: 

Thiện Đạo Đại Sư (613-681), người đời nhà Đường, xứ.An Huy giáp giới Vân Nam Trong niên hiệu Trịnh Quán, nhân thấy bài văn Tịnh độ Cửu Phẩm Đạo Tràng của Đạo Xước /Thiền Sư ở Tây Hà, giảng kinh Vô Lượng Thọ  ngài rất mừng bảo: “Đây mới thật là cửa mầu đi vào cảnh Phật. Tu các hạnh nghiệp khác xa vời quanh quất khó thành, duy pháp môn này mau thoát sanh tử!”.

Từ đó ngài siêng cần tinh khổ sớm hôm lễ tụng. Ít lâu sau lại đến kinh sư, khuyên tứ chúng niệm Phật. Mỗi khi ngài vào thất quỳ niệm Phật, nếu chưa đến lúc kiệt sức, quyết không chịu thôi nghỉ. Lúc ra thất, mà vì đại chúng diễn nói pháp môn Tịnh Độ. 

Hơn ba mươi năm, Đại sư vừa hóa đạo, vừa chuyên tu, chưa từng ngủ nghỉ. Hằng ngày thường nghiêm trì giới hạnh không để sai phạm một mảy may. Khi được cúng dường thức ăn ngon quý, ngài đem dâng cho đại chúng, còn phần mình chỉ dùng thứ thô dở mà thôi. 

Tài vật của dân tín cúng cho, ngài dùng chép hơn mười muôn quyển kinh A Di Đà, họa cảnh Tịnh độ được ba trăm bức. Ngoài ra, thì dùng vào việc sửa sang chùa tháp, thắp đèn nối sáng, không chứa để dư.

Kẻ đạo người tục quy hướng theo đức hóa của ngài, niệm Phật rất nhiều kể đến số hàng vạn Theo tục truyền vào những lúc cuối đời, mỗi câu ngài niệm Phật  đều có ánh sáng quang minh dài nối nhau khiến sáng rực cả chùa. Sự thần dị này truyền đến Đế kinh, vua Cao Tôn nghe được phụng tứ một tấm biển sắc tặng hiệu chùa là Quang Minh Tự.

Một hôm, Đại Sư bỗng bảo người rằng: “Thân này đáng chán, ta sắp về Tây!” Nói xong leo lên cây liễu trước chùa, chấp tay hướng về Tây chúc nguyện rằng: Xin Phật và Bồ Tát tiếp dẫn con, khiến cho không mất chánh niệm, được sanh về cực Lạc. Nguyện xong, gieo mình xuống nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, ngồi kiết già ngay thẳng trên mặt đất.

Đại chúng vội chạy đến xem thì ngài đã tắt hơi viên tịch.

Được biết ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, Sư còn tiến hành các thời khoá thiền quán tưởng Phật A Di Đà và Cực Lạc Quốc của ngài. 

Đại Sư Thiện Đạo còn viết 5 tác phẩm trong 9 cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Sư thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng, Chung Nam Đại sư

Trước khi vào  Tư Tưởng  Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo, Giảng Sư đã giải thích vì sao có khoảng cách quá xa giữa năm sinh của Sơ Tổ Huệ Viễn  và Nhị Tổ Thiện Đạo và ngài Thiện Đạo cũng không phải là đệ tử của Ngài Huệ Viễn.

Đây cũng là một  công án mà trước đây người viết đã thắc mắc “ Vì sao Thiện Đạo là đệ tử của ngài Đạo Xước mà Ngài Đạo Xước với Sư Phụ là Ngài Đàm Loan lại không được xếp hạng 2 của Liên Tông mà lại phải để Ngài Thiện Đạo làm Nhị Tổ ?

Nhưng tạm thời hãy nghe Giảng Sư giới thiệu 13 Tổ Sư của Liên Tông Tịnh Độ  tính đến Đại Sư Ấn Quang , nhưng Giảng Sư cũng cho biết vào  cuối đời Ngài Tịnh Không đã đề nghị thêm Tổ Hải Hiền làm người thứ 14 như sau : 

1- Sơ Tổ Huệ  Viễn (334-416)

2- Đại Sư Thiện Đạo (613-681) 

3- Đại Sư Thừa Viên

4-Đại Sư Pháp Chiếu

5-Đại Sư Thiếu Khang

6-Đại Sư Vĩnh Minh, Diên Thọ

7-Đại Sư Tinh Thường 

8 -Đại Sư Châu Hoằng- Liên Trì

 9-Đại Sư Tri Húc 

 10-Đại Sư Hành Sách

 11-Đại Sư Tĩnh Am, Thật Hiền  

 12-Tế Tỉnh Đại Sư ( còn gọi là Triệt Ngộ )

 13-Ân Quang Đại Sư ( 1862-1940) 

Chỉ vậy thôi chưa bắt đầu gì để tìm hiểu được mà cần phải rõ  hơn về Tư Tưởng  Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo trước

 


TT Nguyen Tang-002



Theo đó Tư tưởng Tịnh Độ của Nhị Tổ Thiện Đạo  được cấu thành trên ba quan điểm: Thuyết bản nguyện tha lực, luận về vãng sanh, luận về niệm Phật.

Thuyết bản nguyện tha lực là nền tảng lý luận của Đại sư Thiện Đạo về tông Tịnh Độ, luận về vãng sanh là tiêu chí và mục đích để trình bày tín ngưỡng Tịnh độ, luận về niệm Phật là trọng điểm và phương tiện nối liền hai vấn đề trên, nó cũng là bộ phận cốt yếu của lý luận về tông Tịnh Độ 


Đó là căn cứ trên lý luận phán giáo về Tịnh độ của các vị Đàm Loan, Đạo Xước, từ đó chia ra hai đường khó và dễ để tu hành thành Phật. Ngài Thiện Đạo cổ xúy đạo dễ hành, phủ định đạo khó hành, tìm pháp môn đơn giản cho chúng sanh thời mạt pháp dễ dàng tu tập theo. Lý luận chủ yếu của đạo khó hành và đạo dễ hành xuất phát từ tác phẩm Thập trụ tì-bà-sa luận của Long Thọ.

Hơn nữa điều khó lý giải nầy đã được Đại Sư Diễn Bồi ghi chép như sau “tại sao  không có tên hai ngài Đàm Loan và Đạo Xước trong chư Tổ Liên tông, điều này khiến cho mọi người rất khó lý giải. Căn cứ vào 13 vị Tổ Liên tông hiện tại mà xét, Trường An Quang Minh Thiện Đạo là vị Tổ thứ hai, nhưng tư tưởng của ngài hấp thụ trực tiếp truyền thừa từ hai ngài Đạo Xước và Đàm Loan chứ không phải bắt nguồn từ vị Tổ đầu tiên là ngài Huệ Viễn. 

Nhân vì thầy của Đại Sư Thiện Đạo là ngài Đạo Xước, thầy của Ngài Đạo Xước là ngài Đàm Loan, đến sự thọ pháp của ngài Đàm Loan lại từ ngài Bồ-đề-lưu-chi, đây mới chính là một mạch truyền thừa chơn chánh, nhưng chủ trương của ngài Thiện Đạo là do sức bổn nguyện của đức Phật mà được vãng sanh. 

Cõi Tịnh độ vãng sanh là Báo độ chứ không phải là Hoá độ, nhưng chủ thuyết của ngài Huệ Viễn là do nghiệp lực mỗi chúng sanh mà sanh về Hoá độ có tốt có xấu. Xét tư tưởng của hai Ngài thì thấy rất khác nhau. Hơn nữa pháp môn niệm Phật hoằng thông nhờ tha lực là do ngài Đàm Loan chủ trương ở Đông Ngụy mà Tịnh độ tông được thành tựu là do ngài Đạo Xước ở Bắc Tề! ( trích nguồn Từ viện Quảng Đức về Đàm Loan và Đạo Xước)

Cũng xin ghi lại thật rõ phần này vì hầu hết các câu hỏi đều tập trung vào Tư tưởng Tịnh Độ của Ngài Thiện Đạo và đó là lý do chính vì sao Ngài được xếp vào Nhị Tổ Liên Tông Tịnh Độ. 

 Và Giảng Sư đã giảng rộng Tư Tưởng của Ngài Thiện Đạo như sau : 

Nếu Ngài Bồ-tát Long Thọ nêu rõ hai con đường khó và dễ, ngài không chủ trương chúng sanh tu tập theo đạo dễ hành, mà chủ trương chúng sanh nên tự gắng sức để thành Phật. Tổ Sư Long Thọ cho rằng Đức Phật vì lòng từ bi, thương xót những người tâm địa kém cỏi nên mới đưa ra pháp môn phương tiện là đạo dễ hành.

Đại sư Thiện Đạo nhận định rằng, ngài Long Thọ không chủ trương đạo dễ hành vì thời đại của ngài chưa phải là thời mạt pháp, chúng sanh phần nhiều là lợi căn, nên đạo khó hành thích hợp với họ.

Còn hiện tại, thời Đại sư Thiện Đạo đang sống là thời mạt pháp, chúng sanh đều là hạng độn căn, không thể thực hành được pháp môn của bậc thượng căn, họ không đi nổi con đường nhọc nhằn. Chúng sanh trong thời mạt pháp, chỉ có một con đường họ có thể đi được, đó là đạo dễ hành.

Bằng không thì chúng sanh sẽ vĩnh viễn chìm trong dầu sôi lửa bỏng, không thể giải thoát. Đại sư Thiện Đạo cho rằng đặc trưng của tông Tịnh Độ là chấp trì danh hiệu Đức Phật A-di-đà, đây là con đường duy nhất để chúng sanh thời mạt pháp cầu giải thoát.

Ngài Long Thọ tuy cũng đề cập đạo dễ hành, nhưng không xác định là hạng người có tâm tánh kém cỏi như thế nào mới nên áp dụng đạo dễ hành để được cứu thoát.

Đại sư Thiện Đạo thì nhận thức minh bạch quan điểm này, Ngài trình bày và phát huy triệt để tư tưởng bản nguyện tha lực, dùng đạo dễ hành để giải quyết vấn đề là làm cách nào để cứu giúp chúng sanh khổ nạn.

Hơn thế nữa, theo Đại sư Thiện Đạo, do chúng sanh thời mạt pháp căn cơ hạ liệt, hơn nữa, sống trong thời ngũ trược ác thế Phật pháp hỗn loạn, chúng sanh không cách nào có thể giải thoát. May mắn gặp được Đức Thế Tôn với lòng từ bi vô lượng đã mở ra pháp môn chấp trì danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Chúng sanh nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà, đột phá sự hạn chế của bản thân, liền được vãng sanh về quốc độ của Ngài.

Đại sư Thiện Đạo còn cho rằng, nguyện lực của Đức Phật A Di Đà hiện hữu mọi nơi, tồn tại mọi lúc; bất cứ nơi đâu cũng đều khởi tác dụng, bất cứ thời nào cũng đều hiển nhiên tồn tại.

 Đây là nói đến sức ảnh hưởng của ngài, có thể tùy thời mà hiển hiện kỳ tích, can dự vào đời sống của người thế tục.

Cũng cần nói rõ “Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, lý luận về niết-bàn không phù hợp cho nhu cầu thiết yếu của chúng sanh thời mạt pháp” 

Niết-bàn Hữu dư dựa vào tự lực, còn niết-bàn Vô dư không những phải dựa vào tự lực, mà cảnh giới lại quá cao, đối với dân chúng thông thường trong hạ tầng xã hội thì không có ý nghĩa bao nhiêu, do đó ngài đề xuất lý luận vãng sanh.

Vãng sanh chính là xa lìa thế giới Ta-bà, tức là xa lìa thế giới thế tục, đến cõi Tịnh độ Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà, hóa sanh trong hoa sen.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng thế giới mà chúng sanh đang cư ngụ là Uế độ, thế giới Tây phương Cực Lạc là Tịnh độ, trong cõi Tịnh độ chỉ có hạnh phúc, không có đau khổ; chỉ có niềm vui, không có buồn phiền.

Do nguyện lực vĩ đại của Đức Phật A-di-đà nên tất cả chúng sanh, dù là chúng sanh tạo trọng tội cực ác, chỉ cần thành tâm xưng danh hiệu của Ngài thì đều được tiếp dẫn đến thế giới Tịnh độ
        

Nội dung học thuyết vãng sanh của Đại sư Thiện Đạo chủ yếu bao hàm trong hai phương diện phàm phu luận và Báo độ luận.

Và như vậy tư tưởng niệm Phật của Đại Sư Thiện Đạo chủ yếu thể hiện trên những quan điểm sau:

1. Thuyết Tam Tâm- Thuyết tam tâm mà Đại Sư Thiện Đạo đề cập, chính là vị trí của chủ thể niệm Phật.

2- Thuyết hành khởi , xưng danh 

3- Thuyết tác nghiệp 

Nói về thuyết Tam Tâm gồm có : Chí Thành Tâm , Thâm tín tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm

Ba tâm này gọi chung là an tâm, tức là đem tâm đặt vào nơi ba việc: Sở cầu Tịnh Độ, sở quy Đức Phật A Di Đà và sở hành niệm Phật

Trọng điểm của ba tâm là an tâm, do đó, Đại Sư Thiện Đạo nói: Ba tâm đầy đủ thì hạnh nào cũng được thành tựu, nếu người có đủ ba tâm này mà không được vãng sanh là

1- Tâm chí thành tức là tâm chân thật, Đại Sư Thiện Đạo nói: Chí là chân, thành là thật. Ngài cho rằng, chúng sanh phải lấy chân thật làm nền tảng để phát khởi tu hành trên cả ba phương diện thân, khẩu, ý. Không thể bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong ôm lòng giả dối cần phải tâm khẩu nhất như, nếu tu hành không chân thật thì không thể vãng sanh Tịnh Độ.

Đức Phật A Di Đà khi còn là Bồ Tát, nhất cử nhất động, cho đến bốn mươi tám nguyện của Ngài đều đặt nền tảng trên sự chân thật. Nay chúng sanh muốn nương vào Đức Phật A Di Đà để được vãng sanh thì nhất định phải lấy Phật A Di Đà làm gương để tu hành, nếu không thì không thể phù hợp với thệ nguyện của Ngài, hẳn nhiên sẽ không thể giải thoát.

Đại Sư Thiện Đạo cho rằng chân thật hàm ý trên hai phương diện, tức là chân thật tự lợi và chân thật lợi tha. Người chân thật tự lợi là trong mỗi niệm đều xả bỏ các việc ác, xả ly uế độ và niệm niệm siêng tu các điều thiện.

Nói về vấn đề siêng tu, Tông Tịnh Độ lại lý giải trên hai phương diện: Tu thiện tức là dừng ác, mà dừng ác cũng chính là tu thiện, nên tu thiện và dừng ác đều quan trọng như nhau, không thể thiếu một trong hai.

Chân thật lợi tha, tức là chúng ta lấy việc bỏ ác song song với siêng năng hành thiện để gây ảnh hưởng đến cộng đồng, khiến cho họ bỏ ác làm lành, cũng siêng tu Tịnh Độ giống như chúng ta.

Cũng có nghĩa là: Ta muốn làm nên thì giúp người làm nên, ta muốn thành đạt thì giúp người thành đạt. Đại Sư Thiện Đạo cho rằng, trong toàn bộ việc tu hành thì tâm chân thật rất quan trọng.

Người tu hành mà không có tâm chân thật là một thứ thiện tạp độc, là hành vi lừa gạt, một là lừa mình, hai là lừa người. Đức Phật A Di Đà là bậc toàn tri toàn năng, bất luận chúng sanh có hành vi giả dối ra sao đều không qua được pháp nhãn của Ngài.

Nếu chúng sanh dùng thiện tạp độc để cầu sanh Tịnh Độ, sẽ vĩnh viễn không đạt được mục đích. Người muốn vãng sanh Tịnh Độ là người đã thật sự cảm nhận được một cách sâu sắc cuộc sống nhân sanh đau khổ, là vì muốn giải thoát triệt để, là muốn thành toàn việc lớn của một đời người. Nếu ai tự lừa dối mình, mới chỉ xét trên mặt tự lợi, kết quả đã phải vĩnh viễn bị đọa trong biển khổ của kiếp người.

Nguy hại của việc tự lừa dối mình không chỉ giới hạn nơi tự thân kẻ đó, mà còn làm liên lụy đến người khác. Bởi vì trong lòng họ giả dối, nhưng bên ngoài lại hiện tướng siêng năng, mọi người nhìn thấy người nọ siêng năng như vậy mà còn không được vãng sanh, liền đâm ra nghi ngờ khả năng vãng sanh của mình.

Vô hình trung, người mà bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong ôm lòng giả dối kia đã làm ảnh hưởng tín tâm của mọi người đối với tín ngưỡng Tịnh Độ, rốt cuộc làm trở ngại bước chân của chúng sanh tiến lên con đường giải thoát, tội này chẳng phải nhỏ.







2-Riêng Thâm tín tâm , tức là tâm tin tưởng sâu sắc, là có tín tâm sâu dày đối với Phật Pháp

Tin tưởng rằng chính ta đang là một phàm phu sống trong thời mạt pháp, cần phải phủ định hoàn toàn khả năng của tự thân, không thể nương vào sức của mình để được vãng sanh thành .Phương diện thứ hai, Đại Sư Thiện Đạo lại từ phương diện khách quan xác lập tâm tin tưởng sâu sắc, nội dung có ba điểm: Phải tin tưởng tuyệt đối vào bốn mươi tám nguyện nhiếp thọ chúng sanh của Đức Phật A Di Đà, chúng sanh nương vào nguyện lực của Phật, chắc chắn được vãng sanh. Phải tin tưởng nhị thiện định tán, Cửu phẩm, Tam phước mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói trong Quán Kinh.

3-Thế nào là Tâm hồi hướng phát nguyện trong đó phải phân biệt được thế nào là vãng tướng và hoàn tướng.

Hồi hướng phát nguyện là một điểm rất đặc sắc của Phật Giáo. Hồi là hồi chuyển, hướng là thú hướng. Bất cứ ai thuộc tín đồ Phật Giáo, khi tạo tác điều gì hữu ích cho Phật Pháp đều nên hồi hướng phát nguyện, tức là hồi chuyển công đức mà ta đã tu hành được, hướng đến kỳ vọng vào bản thân.

Trong Tông Tịnh Độ có hai loại hồi hướng: Một là vãng tướng hồi hướng, tức là đem công đức mà ta đã tạo tác chuyển tặng cho tất cả chúng sanh, hi vọng tất cả cùng đồng được vãng sanh về quốc độ của Đức Phật A Di Đà.

Hai là hoàn tướng hồi hướng, là sau khi vãng sanh về Tịnh Độ, thành tựu tất cả công đức, vị Bồ Tát này sẵn lòng quay lại Thế Giới Ta Bà để giáo hóa chúng sanh, giúp họ quay về Tịnh Độ.

Đại Sư Thiện Đạo cho rằng thiện hạnh của vãng tướng hồi hướng có hai phương diện: Một là thiện hạnh mà bản thân người đó đã tu tập được, bao quát tất cả công đức thiện hạnh đã được tạo tác từ quá khứ, hiện tại và tất cả công đức thiện hạnh đã được tạo tác từ thân, khẩu, ý của họ.

 
2- Thuyết Hành Khởi còn gọi la Xưng Danh

Đại Sư Thiện Đạo đã y cứ theo Ngũ niệm môn của Đàm Loan, đem chánh hạnh phân thành năm loại:

1. Chánh hạnh đọc tụng: Nhất tâm chuyên đọc tụng Kinh Điển Tịnh Độ.

2. Chánh hạnh quán sát: Nhất tâm chuyên chú quán tưởng, ức niệm về cõi nước của Đức Phật A Di Đà.

3. Chánh hạnh lễ bái: Nhất tâm chuyên lễ bái Đức Phật A Di Đà.

4. Chánh hạnh tán thán: Nhất tâm chuyên cúng dường, tán thán Đức Phật A Di Đà.

5. Chánh hạnh xưng danh: Nhất tâm chuyên dùng miệng xưng danh Đức Phật A Di Đà.


Trong năm loại chánh hạnh, Đại Sư Thiện Đạo lại đem chánh hạnh xưng danh làm chánh định nghiệp. Ngài cho rằng xưng danh là bản nguyện của Đức Phật, hơn nữa mọi người đều có thể tu hành, vì vậy chúng ta nên bỏ tạp hạnh, tu chánh định nghiệp. Để , bên cạnh việc kiên trì xưng danh, còn phải có phương thức tu hành chính xác.


Đại Sư Thiện Đạo nêu lên bốn phương thức:


1. Cung kính tu: Khi chúng sanh lễ bái Đức Phật A Di Đà, nên có thái độ ân cần cung kính.

2. Vô dư tu: Tức là khi ba nghiệp thân, khẩu, ý khởi lên, hành vi của chúng ta không được xen tạp, miệng chỉ chuyên xưng danh hiệu Đức Phật A Di Đà, chuyên nhớ, quán tưởng, lễ bái, tán thán Đức Phật A Di Đà và Thánh Chúng ở Tịnh Độ.

3. Vô Gián tu: Tâm đặt vào nơi khởi hạnh không gián đoạn, đây là pháp tu không tạo nghiệp khác, không khởi vọng niệm phiền não. Nhưng chúng sanh là hạng phàm phu sanh tử, thường thì chánh hạnh sẽ bị gián đoạn. Đại Sư Thiện Đạo cho rằng đây là việc không thể nào tránh khỏi, chỉ nên tùy lúc sám hối là được.

4. Trường thời tu: Từ khi Phát Tâm cho đến lúc lâm chung, đều tin tưởng và hành trì liên tục, không dừng giữa chừng. Tóm lại, xét theo quan điểm của Đại Sư Thiện Đạo, chỉ cần chúng sanh phát khởi ba tâm, chuyên tu chánh định nghiệp là trì danh, không xen lẫn những hạnh khác, tu hành không gián đoạn, không lười biếng, thì nhất định nương vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, vãng sanh về Thế giới Báo Độ của Ngài.


Ảnh hưởng của Đại Sư Thiện Đạo đối với hậu thế và vị trí của Ngài trong lịch sử. Đại Sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng Tịnh Độ của Đàm Loan, Đạo Xước, Ngài đem tư tưởng xưng danh niệm Phật nâng lên một tầm cao mà trước đó chưa từng có, hơn nữa chính Ngài cũng nỗ lực thực hành, nêu lên một tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Từ đó về sau, xưng danh niệm Phật trong Tông Tịnh Độ nhanh chóng phát triển, đến độ mà Nhà nhà đều A Di Đà Phật. Về sau, khi Đường Vũ Tông diệt Phật, hầu hết các Tông Phái đều bị ảnh hưởng và suy vi trầm trọng không thể cứu vãn, chỉ có Tông Tịnh Độ và Thiền Tông vẫn thịnh hành như cũ.

Do xưng danh niệm Phật rất đơn giản, dễ thực hành, thấm sâu vào lòng người, nên sau này các tông phái khác cũng đều chú ý hấp thu tư tưởng Tịnh Độ, dần dần có cùng xu hướng với Tông Tịnh Độ và trở thành tông chung của các tông phái.

Ngược lại, nếu tất cả đều xuất phát từ tâm chân thật của chúng ta, thì ngay đó đã đem đến cho người khác tấm gương vãng sanh, gián tiếp dẫn dắt mọi người quay về nương tựa vào Tịnh Độ.

Theo một số sách ghi lại hành trạng của Đại Sư Thiện Đạo, thì Ngài đúng là một bậc mô phạm: Hơn ba mươi năm Ngài chưa từng đặt lưng xuống chiếu, rất ít ngủ nghỉ, trừ tắm rửa ra thì thân không rời Ca Sa. Tu hạnh Bát chu tam muội, lấy việc tụng Kinh lễ Phật làm hạnh nghiệp, giữ gìn giới hạnh một mảy may cũng không phạm. Ngài chưa từng liếc mắt nhìn nữ nhân, không móng tâm danh lợi, cũng không từng có một lời nói đùa.

Tinh thần của Đại Sư Thiện Đạo ảnh hưởng rộng đến mọi tầng lớp trong xã hội thời bấy giờ, đến nỗi: Tăng tục trong Kinh Thành và các Châu, có người tự gieo mình từ núi cao xuống vực, hoặc có người tự trầm mình vào dòng suối sâu, hoặc có người tự gieo mình từ trên cành cây cao xuống, hay là thiêu thân cúng dường, xa gần cũng khoảng hơn trăm người.

Họ tu các phạm hạnh, xả bỏ vợ con, đọc tụng Kinh A Di Đà từ mười vạn đến ba mươi vạn lần, niệm danh hiệu Phật một ngày được một vạn năm nghìn câu đến mười vạn câu, đắc niệm Phật tam muội, những người được vãng sanh Tịnh Độ nhiều không kể xiết. Xem đây thì đủ biết, Đại Sư Thiện Đạo có sức ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với quần chúng thời bấy giờ

 

Phần cuối  của Tư Tưởng Nhị Tổ Thiện Đạo là Thuyết chuyên tu và tạp tu tịnh nghiệp của Đại sư Thiên Đạo

Có người gạn hỏi: “Sao Hòa thượng không dạy người Quán tưởng Phật, mà chỉ bảo chuyên Trì danh?”.

 

Ngài đáp: “Chúng sinh đời này phần nhiều chướng nặng tâm thô, thức thần tán động, mà cảnh Tịnh độ rất tế diệu, nên Quán tưởng khó thành. Vì thế, đức Phật xót thương, khuyên thẳng nên xưng danh hiệu. Chính vì xưng danh là hạnh dễ làm, nếu cứ giữ mỗi niệm nối nhau tu như thế suốt đời, thì mười kẻ niệm mười kẻ được vãng sinh, trăm người tu trăm người về Tịnh độ. Tại sao thế? Vì không duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm. Vì cùng với bản nguyện của Phật hợp nhau. Vì không trái với kinh giáo. Vì thuận theo lời Phật”.

“Nếu bỏ chuyên niệm, tu xen tạp những hạnh khác, trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba bốn kẻ vãng sinh. Bởi tại sao? Vì duyên tạp loạn động khiến cho mất chánh niệm; vì không hợp với bản nguyện của Phật A-di-đà; vì trái với kinh giáo và không thuận lời Phật; vì sự hệ niệm không nối tiếp nhau; vì tâm không thường nhớ báo đáp ơn Phật; vì tuyhành đạo mà thường tương ưng với danh lợi; vì thích theo duyên tạp, làm chướng chánh hạnh vãng sinh của mình và người. Mong tất cả mọi người khéo tự tư duy, khi đi đứng nằm ngồi phải cố gắng nhiếp tâm ngày đêm chớ rời Thánh hiệu, thề quyết giữ đến hơi thở cuối cùng. Như thế tới lúc mãn phần, niệm trước vừa thọ chung, niệm sau liền sinh Cực Lạc. Từ đây, vĩnh viễn hưởng sự vui pháp lạc vô vi cho đến khi thành Phật, há chẳng đáng mừng ư?”

Sau đây là  các câu hỏi như đã trình bày ở trên,  theo nhận xét của người viết các câu hỏi này đều chỉ là trình bày cái hiểu của mình về  tư  tưởng tịnh độ của đại sư Thiện Đạo nên được  lời giải đáp của Giảng Sư đều nằm trong các phần chính đã giảng trong thuyết tam tâm, vãng tướng và hoàn tướng.


1- Câu hỏi của MC Ngọc Sáng

Tịnh Độ có phải là pháp tu dễ nhất không .? 

Đáp :Ngài Long Thọ trong  Thập trụ Tỳ-bà-sa, trong ấy có trình bày hai phương pháp dễ hành (dị hành) và khó hành (nan hành). 

Nói như thế này: “Phật pháp có vô lượng pháp môn, cũng như con đường thế gian, có dễ có khó, hành cước trên đường thì khổ nhưng ngồi thuyền đi trên nước thì dễ. Bồ-tát đạo cũng vậy, phải có sự siêng năng tinh tấn thực hành hoặc lấy niềm tin làm phương tiện thì dễ hành (dị hành)”. 

Siêng năng tinh tấn thực hành là phương pháp khó hành (nan hành) chẳng khác gì con đường bộ hành; thì phương tiện dị hành là phương pháp dễ cũng như đi thuyền trên nước. 


Theo Đại sư Đàm Loan  pháp môn Tịnh độ thì lấy kinh giáo Tịnh độ làm chỗ nương là dễ hành đạo (dị hành đạo). 

Nếu tuyên thuyết pháp môn khác, y vào những giáo pháp khác thì khó hành đạo (nan hành đạo). 

Do vậy pháp môn tu tập chỉ có pháp môn Tịnh độ là phương tiện trong phương tiện và trực tiếp trong cái trực tiếp, đơn giản trong cái đơn giản, dễ hành trong cái dễ hành, ai ai cũng làm được, cho đến niệm Phật xưng danh nhất niệm hồi hướng đều được vãng sanh. 

Vậy là trong Phật giáo Đại thừa đã khai sanh một tông phái đặc biệt. Nhưng tại Trung Quốc người đề xướng học thuyết này chính là ngài Đàm Loan chứ không phải ngài Huệ Viễn. Do vậy mà biết được, ngài Đàm Loan cống hiến cho Tịnh độ tông quả thật là lớn lao !

Pháp môn Tịnh độ mà ngài Đàm Loan chủ xướng cũng chính ngài tu tập, chiêm nghiệm và hành trì chứ không phải nói lý thuyết suông


Thật ra nói dễ mà không phải dễ vì mình đã hành trì đúng như lời dạy của Ngài Thiện Đạo chưa ? 

Nam Mô có nghĩa là Trở về 

A, nghĩa là: vô

Di Đà, nghĩa là: Lượng

Phật, nghĩa là Giác, tánh biết

Niệm danh hiệu: Nam Mô A Di Đà Phật, có nghĩa là “ trở về với tánh giác vô lượng của bản thân mình, đó là A Di Đà tánh, là ông Phật của chính mình”

Cứu cánh của Pháp môn Tịnh Độ là đạt tới điểm chung của Thiền cũng là khám phá ra ông chủ của mình .

Tịnh Độ là ông Phật của chính mình chứ không phải ở ông Phật Tây Phương Cực Lạc. 

 

2- câu hỏi của Thu Dương Quảng Trinh : Thiền và Tịnh sẽ bổ túc cho nhau ? . 

Đáp : Niệm Phật là áp dụng Thiền chỉ và Thiền Quán đấy mà thôi !

Nghiệp là nhiên liệu để dẫn người đi tái sanh . Điểm chung của tất cả pháp môn là Củi hết, lửa tắt , khi không còn nghiệp thì sẽ giải thoát .

Trong Thiền tông cần đạt đến Vô Niệm .

Trong Tịnh Độ Tông cần đạt nhất tâm bất loạn .

Cho nên Tịnh và Thiền cũng chỉ là một nếu hiểu được khi niệm Phật chính là để giúp tâm tịch tỉnh sẽ không tạo nghiệp

Theo HT Thiền Tâm trong Quê Hương Cưc Lạc cho rằng:  Hành động của Thiện Đạo đại sư, từ trên cây cao gieo mình xuống đất ngồi kiết già mà hóa, là biểu hiện sự sống chết tự tại, tùy niệm vãng sanh một cách tuyệt mức. Đại Sư muốn ngầm khai thị: "Niệm Phật được nhứt tâm chứng ngộ thì Tịnh tức là Thiền vậy.

3- Câu hỏi của Ngọc Sáng,: “  Ngài Thiện Đạo có phải nhờ  chép kinh  được vãng sanh tự tại, trong  thời đại này có ai vãng sanh  giống như Ngài không ? “ 

Đáp: Ngày nay với  phương tiện truyền bá Phật pháp quá nâng cấp , nên các học giả thường phổ biến qua YouTube, chia sẻ trên các trạng web Riêng các Phật tử thường ấn tống hoặc cúng dường đến các chùa nhiều bức tranh về cảnh tịnh độ.

Riêng về cao tăng đã vô ngại tự tại vãng sanh ngày nay có Hoà Thượng Thích Trí Tịnh , còn được gọi là  Tịnh độ tông thánh nhân đã để lại 14 chữ vàng cho hậu bối : “Ăn chay, niệm Phật,   thương vật,  thương người, tụng kinh , làm lành,  lánh dữ “

4- câu hỏi của đạo hữu Thuý Nga , hỏi về 7 vị tổ của Tịnh Độ Chân Tông và trong Chánh  Định Tu của Ngài Thân Loan.

Đáp : Chân tông Tịnh độ” có nghĩa là “tinh túy của giáo lý Tịnh độ”. Đây vốn không phải là tên của một tông phái, vì nguyên ý của Ngài Shinran (Thân Loan) không phải muốn sáng lập ra một tông phái mới. Mục đích của Ngài chỉ là muốn chỉ bày cho chúng ta nội dung quan trọng chủ yếu của nền giáo lý Tịnh độ do 7 vị cao tăng Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bổn truyền bá và phát triển.

 Bảy vị Cao Tăng là 7 vị Tổ của Tịnh độ tông Nhật Bổn: Tổ thứ nhất là Bồ tát Long Thọ (-250), Tổ thứ hai là Bồ tát Thế Thân (-400), Tổ thứ ba là Đại sư Đàm Loan (476-542), Tổ thứ tư là Đại sư Đạo Xước (562-645), Tổ thứ năm là Đại sư Thiện Đạo (613-681), Tổ thứ sáu là Hòa thượng Nguyên Tín (942-1017), Tổ thứ bảy là Thánh nhân Nguyên Không (Pháp Nhiên) (1133-1212) và có thể nói Ngài Thân Loan là vị Tổ thứ 8 

Tại Nhật Bản 2/3 người theo Tịnh Độ đều là Chân Tông Tịnh Độ, hiện nay các chùa không có Tu Sĩ và Ni  vì các người ấy có thể lập gia đình và chùa chiền chỉ là cha truyền con nối .

5- Câu hỏi của MC Ngọc Sáng: Thuyết Tam Tâm và Ngũ niệm môn có khác nhau không ? 

Đáp : Cũng gần giống vì cùng có lễ bái, tán tụng, phát nguyện , hồi hướng , 

Tu tịnh độ ngũ niệm môn.Chỉ cho 5 môn tu hành quán niệm cầu sinh về cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà được nói trong luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân. 

Đó là: 1. Lễ bái môn: Giữ cho thân nghiệp thanh tịnh, 1 lòng cung kính lễ bái đức A di đà Như lai, nguyện sinh về cõi nước của Ngài. 2. Tán thán môn: Giữ cho khẩu nghiệp thanh tịnh, xưng tán danh hiệu, công đức, trí tướng quang minh của đức A di đà Như lai, tu hành chân thực, cầu sinh về cõi nước của Ngài. 3. Tác nguyện môn: Tâm thường phát nguyện, tu pháp Xa ma tha (= Chỉ) dứt tâm tán loạn, cầu sinh về cõi nước của Ngài. 4. Quán sát môn: Dùng trí tuệ chính niệm  quán tưởng 3 thứ sau đây: a) Quán tưởng công đức trang nghiêm của cõi nước Tịnh độ cực lạc. b) Quán tưởng công đức trang nghiêm của Phật A di đà. c) Quán tưởng công đức trang nghiêm của các vị Bồ tát ở cõi nước ấy. 5. Hồi hướng môn: Đem những công đức thiện căn mà mình đã có hồi hướng đến khắp tất cả chúng sinh, nguyện cùng sinh về cõi Cực lạc, cùng chứng Phật đạo.

 Trong Vãng sinh lễ tán của Đại sư Thiện Đạo, thứ tự của Ngũ niệm môn có hơi thay đổi, tức là: 1. Thân nghiệp lễ bái môn. 2. Khẩu nghiệp tán thán môn. 3. Ý nghiệp ức niệm quán sát môn. 4. Tác nguyện môn. 5. Hồi hướng môn. Trong đó, 3 môn đầu là tu 3 nghiệp thân, khẩu, ý, còn 2 môn sau là phát nguyện, hồi hướng; nghĩa là 3 môn đầu là hành khởi.

Ngoài ra, tu theo 5 niệm môn trên đây, kết quả cũng có 5 môn, gọi là Ngũ công đức môn hoặc Ngũ quả môn. Đó là: 1. Cận môn: Thân không rơi lại vào cõi mê mà được gần gũi với cảnh giới ngộ của Phật.2. Đại hội chúng môn: Được dự vào hàng chúng hội của bậc Thánh. 3. Trạch môn: Thành tựu được pháp Chỉ4. Ốc môn: Thành tựu được pháp Quán. 5. Viên lâm du hí địa môn, cũng gọi Giáo hóa địa chi ích. Nghĩa là trở lại cõi mê, lấy việc cứu độ chúng sinh làm niềm vui.

Lại nữa, giữa Ngũ niệm môn (Ngũ nhân môn) và Ngũ công đức môn (Ngũ quả môn) trên đây, thì Lễ bái môn tương đối với Cận môn, các môn còn lại của 2 môn cũng theo thứ tự đều có quan hệ nhân quả đối nhau

Giảng Sư đọc bài thơ để chỉ sự giống nhau của Tịnh Độ Tông và Ngũ niệm Môn 

Bồ đề nhất bá bát

Diệt tội đẳng hà sa

Viễn ly tam đồ khổ

Xích sắc biến liên hoa

Nam Mô A Di Đà Phật.

 

Dịch nghĩa:

 

Bồ đề trăm tám hạt

Diệt tội số hà sa

Xa lìa ba đường khổ

Vòng sắc biến liên hoa

Nam Mô A Di Đà Phật

 

6- Câu hỏi của đạo hữu Quảng Thiệp hơi dài vì trích đoạn trong hành trạng của Thiện Đạo đại sư về việc trì danh 

 - Sao Hòa thượng không dạy người quán tưởng Phật, mà chỉ bảo chuyên trì danh?

- Chúng sanh đời này phần nhiều chướng nặng thâm thô, thức thần tán động, mà cảnhTịnh Độ thì rất tế diệu, nên quán tưởng khó thành. Vì thế đức Phật xót thương, khuyên thẳng nên xưng danh hiệu. Chính vì xưng danh là hạnh dễ làm, nếu cứ giữ mỗi niệm nối nhau tu như thế suốt đời thì mười kẻ niệm mười kẻ được vãng sanh, trăm người tu trăm người về Tịnh Độ. Tại sao thế? Vì không duyên tạp bên ngoài nên dễ được chánh niệm. Vì cùng với bản nguyện của Phật hợp nhau. Vì không trái với kinh giáo. Vì thuận theo lời Phật và chư Thánh chỉ dạy 

Đáp : Đây là lý do sự khác nhau của  thuyết tịnh độ Đàm Loan Đạo Xước rất cực đoan ( nan hành) trong khi của Nhị Tổ Thiện Đạo thì phàm phu có thể về cõi tịnh độ ( dị hành) và còn gọi là Báo độ 

7- Câu hỏi của đạo hữu Đức Trí Diệu Như : Thời nay có ai tự tại vãng sanh như Ngài Thiện Đạo không ? 

Đáp : đó là một cách thi triển thần thông, Và ngài nhắc lại hành trạng của HT Thích Trí Tịnh, một hành giả Tịnh Độ, suốt đời niệm Phật và viên tịch trong bình yên như một giấc ngủ trưa.

 

8- câu hỏi của Đạo hữu   Trừng Chánh : Dưới góc nhìn khách quan của TT Giảng Sư , xin cho biết ý kiến về pháp môn tịnh độ của Ngài Tịnh Không và Nhị Tổ Thiện Đạo 

Đáp : xét về hộ niệm và tư tưởng của Ngài Tịnh Không có vẻ quá khích và cuồng tín , trong khi Ngài Thiện Đạo chỉ căn cứ trên đại nguyện thứ 18 của Phật  A Di Đà , xác suất vãng sanh sẽ rất khó nếu không trường thời, vô gián và miên mật ngoài ra tạo tội cục ác không mong gì  có ngày được vãng sanh 

9- Câu hỏi của đạo hữu Lâm Thuý , một người Phật tử chỉ biết giữ 5 giới có thể thực hành pháp môn Tinh Độ của  Tổ Thiện Đạo không? 

Đáp : nên nhớ ý nghĩ của Ngài Thiện Đạo là tuỳ thuộc vào đại nguyện 18 của Đức Phật A Di Đà, và đây là lời dặn của ngài Thiện Đạo : Nếu bỏ chuyên niệm mà tu xen tạp những hạnh khác thì trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba, bốn kẻ vãng sanh. Bởi tại sao? Vì duyên tạp loạn động khiến cho mất chánh niệm. Vì không hợp với bản nguyện của Phật A Di Đà. Vì trái với kinh giáo và lời Phật, Thánh. Vì sự hệ niệm không nối tiếp nhau. Vì tâm không thường nhớ ơn Phật. Vì tuy hành đạo mà thường nhớ ơn Phật. Vì tuy hành đạo mà thường tương ưng với danh lợi. Vì thích theo duyên tạp, làm chướng chánh hạnh vãng sanh của mình và người.

Gần đây, hàng đạo tục kiến giải không đồng, kẻ thích chuyên tu, người ưa tạp hạnh. Xin khuyên nhắc: Nếu chuyên niệm Phật, tất mười người đều được vãng sanh. Như tạp tu mà không chí tâm thì trong ngàn người khó mong được một.

Đến đây đã đúng giờ để kết thúc buổi pháp thoại nên MC Ngọc Sáng đã tóm tắt vài câu kết và mời đạo hữu Minh Đạo tặng giảng sư bài thơ tán thán công đức Giảng Sư như thường lệ . 

 

Lời kết: 

 

Là Phật tử sơ cơ, mỗi khi học được hành trạng và tư tưởng của một Đại Sư thuộc hàng Tổ, bản thân người học Phật nhớ mãi  lời dạy của HT Nhất Hạnh : 

  "Một tâm niệm an lành được phát khởi có thể soi sáng cho cả thế giới ta bà. Sự an lạc của thế giới tùy thuộc vào sự an lạc của chúng ta trong giờ phút này". 

Thế thì người học Phật nên nhìn lại để quán chiếu và hiểu lời Phật dạy theo hướng biểu tượng.

Thể tánh của đức Phật A Di Đà là vô lượng thọ, vô lượng quang, là Phật Pháp thân. Giáo lý đại thừa đều chấp nhận rằng Pháp thân bao trùm tất cả thế giới. Thế giới Cực Lạc hiểu theo nghĩa Pháp thân Phật thì đó là cảnh giới thanh tịnh, thuộc về tâm.

Từ thể tánh thanh tịnh của Phật A Di Đà biểu hiện ra cảnh giới Cực Lạc (Tịnh độ) là hoàn toàn phù hợp với những lời dạy của Liên Tông Tịnh Độ mà trong đó tư tưởng Nhị Tổ Thiện Đạo rất phù hợp cho phàm phu “chúng ta không thể dựa vào tự lực để đến được Thế Giới Báo Độ cao diệu của Đức Phật A Di Đà, chỉ nhờ vào nguyện lực của Đức Phật mới có thể vào.” 

Cũng như một tác giả từng nghiên cứu Tịnh độ tông của Trung Quốc đã cho rằng Đại Sư Thiện Đạo là một nhân vật quan trọng đánh dấu một bước ngoặt trên lộ trình phát triển của lịch sử Phật Giáo Trung Quốc. Cần phải xác định đúng vị trí của Đại Sư Thiện Đạo bằng cách chú trọng tư tưởng của Ngài. Ngài là một vị Đại Sư Phật Học mà chúng ta cần phải nỗ lực nghiên cứu.

 

Kính tri ân Thượng Toạ Giảng Sư , thật là một bài pháp thoại tuyệt vời chỉ trong hai giờ đồng hồ đã trọn vẹn nói lên được  Thế giới Báo Độ của Đức Phật A Di Đà qua tư tưởng của Nhị Tổ Thiện Đạo về cõi tịnh độ của Phật tử ngày nay 

Kính chúc TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng và TT chủ nhiệm ban hoằng pháp giáo lý Âu Châu  Thích  Hạnh Tấn  sức khỏe dồi dào, phước trí mãi tròn đầy. Hoằng pháp độ chúng sanh, thấm đạo, tu giải thoát 

Có lẽ túc duyên xưa nhiều đời, nay học được

Tư tưởng Tịnh Độ từ Nhị Tổ Thiện Đạo Đại Sư

Chủ trương khác với Đạo Xước Sư Phụ, rằng như :

"Cõi Tịnh Độ vãng sanh là Báo Độ không phải Hóa Độ

Kính tri ân Giảng Sư :

Nghiệp là nhiên liệu  chung của Thiền,  Tịnh Độ

Khi củi tắt lửa hết, sẽ không còn chổ để đi

Ôn lại 14 chữ vàng được trao tặng bất tư nghì

Sẽ tự tại vãng sanh không cần thần thông biểu diễn !

Nhờ luận thuyết Ngài Long Thọ,

người học Phật chiêm nghiệm!

Đạo khi nào nan hành và khi nào dị hành ?

Chớ tranh cãi ! chỉ cần thuyết tam tâm và thuyết xưng danh

Luôn trường thời, vô gián , miên mật chỉ quán

Cũng không thể người thập ác khi mệnh số mãn

Làm sao  niệm mười danh hiệu Phật cách bất loạn  !

Khuyên người người cần tu dưỡng phước trí mỗi sát na

Chép kinh, trì tụng, quán niệm tự tánh Di Đà

Thiền , Tịnh pháp môn nào cũng tốt

vì trăm sông đều chảy về biển cả !

 

 

Úc Châu, 15/3/2024 

Phật Tử Huệ Hương, Trang nhà Quảng Đức

 




TT Nguyen Tang-7




 

HẠNH TRẠNG VÀ TƯ TƯỞNG
TỔ SƯ THIỆN ĐẠO
Kính tặng Thượng tọa
Giảng sư Thích Nguyên Tạng


Ngài sinh ở xứ An Huy
Đại sư Thiện Đạo quy y với Thầy
Là ngài Đạo Xước giảng bày
Kinh Vô Lượng Thọ Phương Tây Di Đà
Truyền thừa tịnh độ Trung Hoa
Xếp hàng Nhị tổ giác tha đại từ
Học về Thiện Đạo Tổ sư
Pháp môn Tịnh độ Niệm tu chí thành
Quang minh, hảo tướng, hồng danh
A Di Đà Phật nguyện hành tinh chuyên
Niệm công đức huệ diệu huyền
Phụng hành bản nguyện Phật truyền hạnh tu
Đàm Loan, Đạo Xước Tổ sư
Dung thông Pháp niệm tiêu trừ ác căn
.......

(PT Minh Đạo)
****

Thiện Đạo Nhị Tổ Liên Tông
Cảm tác khi nghe bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng


Thiện Đạo Nhị Tổ Liên Tông
Sư Phụ, Đạo Xước hữu công lưu truyền
Pháp môn niệm Phật tu chuyên
Nhưng mà quả đắc nan duyên hành trì
Đến thời Thiện Đạo phát huy
Trì danh niệm Phật thực thi dị hành
Niệm chuyên với nguyện chí thành
Sau khi xả báo vãng sanh Liên trì
Có khi với dạ từ bi
Ta Bà tái hiện độ trì hữu duyên
Thập tam thế kỷ lưu truyền
Pháp môn niệm Phật diệu huyền gởi trao
Niệm Phật chẳng thể lãng xao
Nhất tâm bất loạn khác nào định tâm
.....
(PT Thanh Phi)

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

https://quangduc.com/a76624/hanh-trang-va-tu-tuong-cua-to-su-thien-dao-613-681-nhi-to-tinh-do-tong-trung-hoa





 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2023(Xem: 4211)
Hôm nay là ngày 21/11/2020, là một ngày đáng để kỷ niệm. Từ hôm nay trở đi tôi bắt đầu phúc giảng kinh Vô Lượng Thọ lần thứ hai, nguyện đem công đức này hồi hướng cho lão pháp sư thượng Tịnh hạ Không. Báo đáp ân sư ơn tri ngộ, Y giáo phụng hành an lòng Thầy. Ân pháp nhũ thật khó báo đáp, Toàn tâm toàn lực hoằng đại kinh. Thỉnh cầu ân sư thương xót chúng sanh khổ mà trụ thế độ quần manh! Chúng ta đều làm học trò ngoan biết nghe lời. Hôm nay là ngày 21/11/2020, là ngày kỷ niệm Bồ-tát Lưu Tố Thanh vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc tròn 8 năm, chúng tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ lần thứ hai, lấy việc này biểu đạt sự tưởng nhớ và cảm ân sâu sắc của chúng ta dành cho Bồ-tát Lưu Tố Thanh.
14/03/2023(Xem: 5403)
Trong xã hội bận rộn ngày nay, con người phải đối mặt với nhiều vấn đề tâm lý làm ảnh hưởng đến chất lượng sống, và đã đến lúc chúng ta cùng thư giãn, chú trọng đến sức khỏe tinh thần nhiều hơn. Cách thực hành dễ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất là cùng Headspace, 10 phút thiền định mỗi ngày để thay đổi cuộc sống. Với những kiến thức mới về thiền trong bộ sách 3 cuốn rất mỏng và dễ đọc để ứng dụng này, chúng ta chắc chắn có lối sống tích cực, vui vẻ hơn và bình an hơn. Bộ sách gồm 3 cuốn mang đến những lợi ích khác nhau, từ quản lý sự căng thẳng đến trân trọng và biết ơn cuộc sống. Hướng dẫn những kỹ thuật căn bản nhất về thực hành thiền là mấu chốt để thay đổi cuộc sống của bất cứ ai may mắn đọc sách này.
02/12/2021(Xem: 16247)
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức, Kính thưa quý đồng hương Phật tử thân mến, Kể từ ngày 12/04/2020, nước Úc của chúng ta cũng như các nước khác trên toàn thế giới đã bắt đầu bị đại dịch Covid hoành hành và lây lan một cách nhanh chóng. Hai năm qua toàn thế giới đã phải chịu ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thương trường. Ngay cả đời sống tinh thần của mọi người dân cũng bị ảnh hưởng không ít, nhất là đối với những gia đình đã phải nhìn thấy người thân ra đi trong sự cô đơn lạnh lẽo, không người đưa tiễn. Biết bao hoàn cảnh đau thương... Tính đến hôm nay nước Úc của chúng ta đã được ổn định phần nào, trên 80% người dân đã được tiêm ngừa theo quy định của chính phủ, cũng như việc không còn phải lockdown, người dân được đi lại tự do giữa các tiểu bang cũng như được hội họp, sinh hoạt hội đoàn và tôn giáo. Trong đại dịch, 2 năm qua nước Úc số người bị nhiễm Covid lên đến 113,411 người và số người không may mắn đã ra đi vĩnh viễn là 1,346 người.
03/09/2021(Xem: 30838)
(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm) 1. TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN: Án, lam xóa ha. (3 lần) 2. TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN: Tu rị, Tu rị, Ma ha tu rị, Tu tu rị, Ta bà ha. (3 lần) 3. TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN Án, Ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần) 4. PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN: Án, Nga nga nẵng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần) 5. AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN: Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, Án, độ rô độ rô, địa vỷ ta bà ha (3 lần) Hộ pháp, Vĩ Đà thị chứng minh Thân trụ Phật tiền Tâm Tư nguyện Tưởng bằng bí chú đắc oan linh Hà chơn bất thức trì niệm Luật Thiên kinh vạn quyển vô nhất tự Nẳng mô tô tất đế, đa rị, đa rị, mạn đà, mạn đà, ta bà ha (3 lần)
03/09/2021(Xem: 8855)
Pháp hành Trì để vượt thoát Đại Nạn Covid-19
03/09/2021(Xem: 8407)
5.1). Đệ tử tên là: Một lòng quy kính Đức Phật A Di Đà, Thế giới Cực Lạc, Nguyện lấy hào quang, Trong sạch soi cho, Lấy thệ từ bi, Mà nhiếp thọ cho, Con nay chánh niệm, Niệm hiệu Như Lai, Vì đạo Bồ Đề, Cầu sanh Tịnh Độ. Phật xưa có thệ: “Nếu có chúng sinh, Muốn sinh về nước ta, Hết lòng tín nguyện, Cho đến mười niệm, Nếu chẳng đặng sinh, Chẳng thành Chánh Giác”. Do vì nhân duyên, Niệm hiệu Phật nầy, Được vào trong bể, Đại thệ Như Lai, Nhờ sức Từ Bi, Các tội tiêu diệt, Căn lành tăng trưởng, Khi mạng gần chung, Biết trước giờ chết, Thân không bệnh khổ, Tâm không tham luyến, Ý không điên đảo, Như vào Thiền định. Phật và Thánh Chúng, Tay nâng kim đài, Cùng đến tiếp dẫn, Trong khoảng một niệm, Sinh về Cực Lạc, Sen nở thấy Phật, Liền nghe Phật thừa, Chóng mở Phật tuệ, Khắp độ chúng sanh, Trọn Bồ Đề nguyện.
21/06/2020(Xem: 8451)
Do một thiện niệm vừa phát sinh sau khi TT Thích Nguyên Tạng chấm dứt 48 bài pháp thoại liên tục được livestream trên Facebook của trangnhaquangduc trong mùa cách giản xã hội vì đại dịch Corona vào mỗi sáng sau thời công phu khuya ( với kinh Lăng Nghiêm, Đại Bi và thập chú ) mà người viết mới có dịp ôn lại những gì trong “ PHÁP NGỮ CỦA HT TỊNH KHÔNG” đã được TT Thích Nguyên Tạng Việt dịch và được xuất bản từ 2004. Thời gian trôi qua nhanh quá , thấm thoát đã 16 năm mà đến bây giờ đây là lần thứ ba tôi mới đọc lại , phải nói là rất ân hận cho sự vô minh của mình trong nhiều năm và đã uổng phí thời gian để có thể tu tập đúng hơn nữa .
17/06/2018(Xem: 3989)
(A) "Niệm Phật" nghĩa là xưng danh hiệu - hay nhớ tưởng đến hình tướng, bản nguyện hay công đức của một đức Phật - như Phật Thích-ca hay Phật A-di-đà. Nói chung,có ba cách niệm Phật sau đây: 1) Xưng danh niệm Phật: miệng thường xưng danh hiệu của một đức Phật, thí dụ như xưng Nam-mô A-di-đà Phật. 2) Quán tưởng niệm Phật: ngồi yên lặng một chỗ mà tưởng nhớ công đức, bản nguyện hay các tướng hảo của đức Phật (32 tướng chánh và 80 tướng phụ). 3) Thật tướng niệm Phật (hay Tham cứu niệm Phật: ngồi yên lặng mà quán tưởng lý Trung đạo, quán Pháp thân của Phật cho đến lúc nhập diệu, đắc Chơn như chẳng sanh chẳng diệt. Đây là cách niệm Phật rất cao và khó nhứt, ít người làm được.
12/11/2017(Xem: 18057)
Có tu có học có hành Đêm ngày tự có phước lành phát sanh Không tu không học không thành Dù trăm tài sản cũng đành bỏ đi .
15/01/2017(Xem: 4144)
Pháp môn Niệm Phật (Buddhanussati) là một pháp môn Thiền quán, quán chiếu nội tại (Phật tâm) và ngoại tại (Phật tướng), đã được Đức Phật trình bày vào những năm 528-479 trước Tây lịch sau khi Ngài thành đạo và thuyết pháp tại Ấn Độ.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567