Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phần 3 - THẾ ĐẠO - chương 2 - ĐẠO ĐỐI VỚI NGƯỜI

10/12/201821:18(Xem: 56)
Phần 3 - THẾ ĐẠO - chương 2 - ĐẠO ĐỐI VỚI NGƯỜI

Phật Giáo Thánh Điển Linh Sơn

THÍCH HUYỀN VI

~~0~~

 

 

Phần Thứ Ba  -   THẾ ĐẠO

Chương Hai

ĐẠO ĐỐI VỚI NGƯỜI

 

TIẾT THỨ NHỨT  -  GIA TỘC

 

 

 

Mục  I  -  Phụ Tử :

  1. Năm việc kính Cha Mẹ, năm việc lo cho con:

            Luận về người con phải dùng năm việc kính thuận cha mẹ.  Những gì là năm ?  một là cung phụng món ngon vật lạ, để cha mẹ sai khiến, không thiếu bổn phận; hai là phàm khi làm việc gì, trước phải thưa với cha mẹ; ba là cha mẹ có làm việc chi, nên kính thuận không nghịch; bốn là cha mẹ có sai bảo, không được trái mạng và năm là đừng cắt đứt chánh nghiệp mà cha mẹ đã làm.  Thiện sinh !  Bổn phận làm con phải áp dụng năm việc nầy để kính thuận mẹ cha.

            Cha mẹ cũng có năm việc đối xử với con.  Những gì là năm ?  một là ngăn con không cho làm việc ác; hai là chỉ dạy cho con các việc lành; ba là dạy lời từ ái thấm vào tâm khảm của con; bốn là vì con mà tìm các hôn thú thiện mỹ và năm là theo thời cung cấp các đồ cần dung cho con.  Thiện sinh ! con đối với cha mẹ, kính thuận cung phụng; thì mỗi phương được yên ổn, không chổ nào đáng lo sợ.

(Trích kinh Trường A Hàm, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 59, bên mặt).

  1. Tình nghĩa mẹ con thời gian ngắn mà thôi :

            Sự ơn nghĩa và yêu mến của mẹ cùng con, chỉ như ý trong thời gian ngắn mà thôi; một mai mệnh chung, không khéo bị đọa vào trong ba đường ác, tình nghĩa phải bị chia lìa; mờ mờ mịt mịt, mẹ không biết con mà cũng không nhận ra mẹ…

(Trích kinh Vị Tằng Hữu Nhân Duyên, quyển thượng, tờ 53, bên mặt).

  1. Ơn cha mẹ như non biển :

                        Phàm phu thế gian không huệ nhãn,

                        Mê nơi ân ái mất diệu quả.

                        Các chúng sanh đời dữ năm trược,

                        Không ngộ ân sâu hằng trái đức,

                        Ta vì khai thị nơi bốn ơn,

                        Khiến vào chánh kiến đạo bồ đề.

                                    Cha lành mẹ mến ơn trưởng duỡng,

                                    Tất cả nam nữ đều an lạc;

                                    Cha lành ơn cao như núi lớn,             

                                    Mẹ thương nghĩa nặng như bể sâu.

 

                                    Nơi ơn từ mẫu không thể hết.

(Trích kinh Tâm Địa Quán, quyển thứ ba, phẩm Báo Ân, vũ 2, tờ 55, bên trái.)

  1. Ơn từ mẫu nặng hơn quả địa cầu:

                        Mẹ hiền thế gian mang đứa con,

                        Mười tháng trong thai chịu khổ dài,

                        Đổi vui ngũ dục lòng không đắm

                        Tùy thời uống ăn cũng đồng cam !

                        Ngày đêm thường ôm lòng thương xót,

                        Đi đứng nằm ngồi chịu khổ đau.

                                    Nếu con chánh đáng thai tạng yên,

                                    Ngược lại đau lói từng chi tiết,

                                    Mê mang không biết rõ đông tây.

                                    Khắp thân đau nhức không xiết kể.

                                    Hoặc nhơn nạn nầy mà mạng chung,

                                    Lục thân quyến thuộc đều thương xót;

                        Các khổ như thế đều do con,

                        Lo buồn thống thiết không tả hết.

                        Nếu đặng bình phục thân an lạc,

                        Như nghèo đặng báu mừng khó tả;

                        Nhìn xem dung mạo không nhàm đủ,

                        Tấm long thương xót không tạm xa.

                                    Mẹ con ân tình thương như thế,

                                    Ra vào không lìa trước nhớ thương,

                                    Sửa mẹ cũng như suối cam lồ,

                                    Nuôi lớn kịp thời từng không hết.

                                    Ơn của cha mẹ thật khó sánh,

                                    Đức của cúc dục cũng khó lường;

                        Đại địa thế gian xưng là trọng,

                        Ơn của từ mẫu lại nặng hơn.

                        Thế gian tu di cho là cao,                                                                               

                        Ơn của bi mẩu lại cao hơn.

                        Thế gian nhanh chóng chỉ gió mạnh,

                        Một niệm lòng mẹ nhanh hơn kia…

(Trích kinh Tâm Địa Quán. phẩm báo ân thứ III, vũ 2, tờ 55, bên trái)

  1. Mười ân đức của mẹ hiền :

                        Xét xem từ mẫu có mười đức,

                        Tùy theo nghĩa lợi lập tên kia.

                        Một tên đại địa, hai năng sanh,

                        Ba hay chánh xót, bốn dưỡng dục

                                    Năm cùng trí giả, sáu trang nghiêm,

                                    Bảy gọi an ổn, tám giáo thọ;

                                    Chín dạy răng, mười cùng nghiệp tạo,

                                    Ơn khác không gì hơn ơn mẹ.                                              

                        Pháp nào thế gian cho giàu có ?

                        Pháp gì thế gian cho nghèo cùng ?

                        Mẹ khi còn sống là giàu có,

                        Mẹ đã qua đời là nghèo cùng !

                                    Khi mẹ còn như mặt trời trưa,

                                    Lúc mẹ mất như mặt trời lặn !

                                    Mẹ mà sống con đều đầy đủ,

                                    Khi mẹ qua đời thiếu tất cả !!!

(Trích kinh Tâm Địa Quán, phẩm Báo Ân thứ 3, vũ 2, tờ 55, 56, cả hai bên).

  1. Năng lực của mẹ :

            Những gì năng lực của mẹ ?  Nghĩa là thọ thân thể từ cha mẹ, công ơn bú mớm dưỡng dục; hoặc từ địa phương chứa nhóm của quí báu, trên đến 28 tầng trời, đều do người giúp đở, nhưng không bằng sự cung cấp nuôi dưỡng của cha mẹ.  Ấy là năng lực của cha mẹ…

(Trích kinh Mạc La Vương, túc 7, tờ 9, bên mặt).

  1. Con ác như cỏ xấu :

            Ví như trong lúa có cỏ, cỏ hư hoại lúa mới tốt.  Người nhà trong thiên hạ có những đứa con ác, một đứa con hư bại hoại cả gia đình.

(Trích kinh Phật Bát Nê Hoàn, quyển thượng, trắc 10, tờ 15, bên trái).

  1. Con hiếu trừ bờ pháp ác :

            Một thuở nọ, đức Phật ở nước Xá Vệ, bảo các vị tỳ-kheo rằng : “Nếu có người nào muốn được Phạm Thiên Vương ở trong nhà nên thường hay hiếu dưỡng cha mẹ thì Phạm Thiên sẽ đến ở trong nhà.  Ai muốn vị Đế Thích ở trong nhà phải hay hiếu dưỡng cha mẹ, sẽ có Đế Thích ở trong nhà.  Ai muốn tất cả Thiên Thần ở trong nhà, thì cung dưỡng cha mẹ, phải biết tất cả thiên thần sẽ đến ở trong nhà.  Người nào muốn được Hòa Thượng ở trong nhà nên thường hay cúng dường cha mẹ, sẽ được Hòa Thượng đến ở trong nhà.  Ai muốn được vị A Xà Lê đến ở trong nhà, nên hay cung dưỡng cha mẹ, sẽ có A Xà Lê đến ở trong nhà.  Nếu muốn cúng dường các vị hiền thánh và chư Phật, nên thường lo cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ thì các vị hiền thánh và Phật sẽ đến ngự trong nhà”.

            Các vị tỳ-kheo bạch : “Như Lai Thế Tôn rất là hy hữu cung kính cha mẹ, mà đời quá khứ cũng từng hy hữu cung kính cha mẹ”.  Vị tỳ-kheo hỏi rằng : “Quá khứ cung kính, việc ấy như thế nào ?”.

            Đức Phật nói : “Xưa kia tại nước Ba La Nại có một người nghèo, chỉ có độc nhất một đứa con.  Những đứa con nầy có sinh nhiều con trẻ; gia đình kia lại nghèo đói, gặp lúc bị đói khát hiểm nạn; chàng ta đem cha mẹ chôn dấu dưới đất, để mà nuôi sống các con trẻ.  Người lân cận hỏi : “Cha mẹ ông được sinh sống nơi nào ?” – Chàng kia đáp : “Cha mẹ tôi tuổi già, chắc chắn sẽ phải chết, tôi tự tiện chôn dấu đó, hầu dùng đồ ăn của cha mẹ, nuôi dưỡng các con thơ, cho chúng khôn lớn”.  Nhà người thứ hai nghe, cho là việc ấy có lý.  Như thế mới đồn ra khắp nước Ba La Nại, và trở thành luật pháp.”.

            Lại có một vị trưởng giả cũng sinh được một đứa con.  Người con nầy nghe qua câu chuyện trên, cho là phi lý, liền nghĩ rằng : “Ta phải làm phương tiện gì để đẩy lui phương pháp ấy ?  Bèn thưa với thân phụ của ông : “Cha nay có thể đi xa học đọc, để biết thêm nhiều kinh luận”.  Ông cha liền theo lời khuyên ra đi, học đọc được một ít kinh sách, liền trở về nhà, tuổi càng già thêm; người con đào dưới đất, xây dựng nhà cửa tốt đẹp, mời thân phụ ở trong đó cung phụng đồ ăn, thức uống rất đầy đủ.  Ông suy nghĩ : “Ai sẽ cùng với ta trừ bỏ việc phi pháp trước”.  Lúc ấy có một vị thiên thần hiện thân rồi nói như vầy : “Ta nay cùng nhà ngươi, đồng làm bạn lữ”.  Vị thiên thần lấy giấy viết một tờ sớ, hỏi nhà vua bốn việc  : “Nếu giải thích hay các đìểm trong tờ sớ nầy, ta sẽ vì ông ủng hộ, trái lại, chỉ sáu bảy ngày sẽ đập vở đầu nhà vua ra thành bảy phần.  Bốn câu hỏi ấy là:

  1. Vật gì là của thứ nhất ?

 

  1. Vật gì vui thứ nhất ?
  2. Vật gì là vị tối thắng ?
  3. Vật gì là vị sống lâu thứ nhất ?

            Bảng sớ nầy được treo trên cửa tam quan của nhà vua.  Quốc vương nhận được tờ sớ nầy rồi, ra lệnh hỏi: “Trong nước ai giải đáp được các điều nầy ?   Nếu người nào giải được, muốn cầu việc gì đều được toại nguyên”.  Con của vị Trưởng giả lầy văn thơ nầy, trả lời 4 điểm chính trong tờ sớ, nghĩa là :

                        “Lòng tin chân chánh là của thứ nhất.

                        Hiểu được chánh pháp là vui thứ nhất.

                        Lời nói thành thật là vị tối thắng.

                        Trí huệ là vị sống lâu thứ nhất”.

            Giải thích nghĩa lý thông suốt rồi, chỉ xin một điều là nhà vua bố thí cho pháp vô úy : “Cha tôi quá già, tôi đã làm trái phép nước, xây nhà đẹp, nuôi cha ở dưới đất, xin ngài nghe tôi tâu : “Tâu Đại Vương ! ơn sâu nặng của cha mẹ, cũng như trời đất, mang thai mười tháng, chỗ khô con nằm, mẹ nằm nơi ướt, bú sú nuôi lớn, thành đuợc thân nầy, đều do công ơn cha mẹ.  Ta thấy được mặt trời mặt trăng, sinh sống trong cuộc đời nhờ ơn lực của cha mẹ.  Giả sử vai trái cõng cha, vai mặt cõng mẹ, đi đến trăm năm, sắm sửa nhiều món ngon vật lạ, y phụ, cung cấp nuôi dưỡng.  Làm như thế còn chưa chắc gì có thể trả ơn đức cho cha mẹ”.  Lúc ấy vị vua hỏi rằng : “Nhà ngươi muốn cầu những việc chi  ?” – Tâu Đại Vương : “Tôi không cầu việc chi khác, chỉ khẩn thỉnh Đại Vương một điều, xóa bỏ ác pháp bất hiếu trước đây”.  Vua hứa khả lời cầu xin và sắc chỉ ban bố trong toàn quốc : “Nếu có ai bất hiếu với cha mẹ, sẽ bị tội rất nặng, từ đây”.

            Muốn biết con của vị trưởng giả lúc ấy là ai thì hãy nhìn thẳng trong pháp hội nầy.  Đó là tiền thân của ta vậy.  Ta lúc ấy vì nhân dân trong nước kia trừ bỏ được ác pháp bất hiếu, hoàn thành được phương pháp hiếu thuận; nhờ nhân duyên đặc biệt ấy cho đến ngày ta thành Phật.  Vì thế, cho nên ngày nay cũng lại khen ngợi phương pháp hiếu thuận vậy.

(Trích kinh Tạp Bảo Tạng, quyển thứ 2, túc 10, tờ 7 và 8, cả hai bên).

 

Mục II  -  Hiếu Đạo :

  1. Hiếu phước vô lượng :

            Ở chỗ cha mẹ ít làm việc thiện, bị khổ báo lớn; gắng làm việc cung cấp nuôi dưỡng, đặng phước vô lượng.  Phải cố gắng học việc nầy, phải siêng năng tận tâm phụng dưỡng cha mẹ…

(Trích kinh Tạp Bảo Tạng, quyển thứ nhất, túc 10, tờ 4, bên trái).

  1. Người có hiếu, trời giúp :

            Luận về cùng cực các điều thiện không có việc nào lớn hơn hiếu đạo.  Việc đại ác nhất là việc làm hại song thân (cha mẹ).  Dù lớn dù nhỏ làm tròn hiếu đạo, không những cha mẹ giúp mà thôi mà trời sẽ giúp sức cho !

(Trích kinh Vị Sanh Oán, túc 7, tờ 14, bên mặt).

  1. Cha mẹ là vị tối thần:

            Người đời nhờ trời đất quỉ thần, không bằng hiếu thuận với cha mẹ.  Cha mẹ là bậc thần linh tối thượng.

(Trích kinh Tứ Thập Nhị Chương, tạng 5, tờ 1, bên trái).

  1. Phước hiếu dưỡng cùng cúng Phật v.v..:

                        Tất cả nam nữ trong thế gian !

                        Ơn nặng cha mẹ như núi lớn,

                        Cần phải hiếu kính giữ trong tâm.

                        Biết ơn trả ơn là đường Thánh.

                                    Nếu ai chí tâm cúng dường Phật,

                                    Lại có siêng năng tu hiếu dưỡng;

                                    Như thế hai người phước không khác,

                                    Ba đời hưởng phước cũng không cùng.

(Trích kinh Tâm Địa Quán, phẩm Báo Ân thứ 3, vũ 2, tờ 56, bên mặt).

  1. Hiếu từ cùng học đạo :

            Người có cha mẹ, không thể bất hiếu, đạo không thể không học.  Giúp thân lìa sự khổ, sau sẽ đặng vô vi, đều do hiếu từ và học đạo thành tựu.

(Trích kinh Bồ Tát Đạm Tứ, trụ 5, tờ 96, bên mặt).

  1. Không thể khai hóa cha mẹ cũng là bất hiếu :

            Đức Phật bảo các vị Sa Môn : “Nhìn thế gian không hiếu đạo, chỉ có hiếu thông thường mà thôi.  Ai hay khiến cha mẹ bỏ ác làm lành, phụng trì năm giới, gìn giữ ba tự qui y, sáng cung phụng nhưng chiều mệnh chung; ơn nặng đối với cha mẹ, là ơn dưỡng dục nhủ bộ, ơn huệ nhiều vô lượng.  Nếu không thể dung đến Tam Tôn để giáo hóa cho cha mẹ, dù là hiếu dưỡng, cũng là bất hiếu vậy.”

(Trích kinh Hiếu Tử, túc 8, tờ 5, bên mặt).

  1. Khai hóa cha mẹ ấy là chơn hiếu:

            Đức Phật hỏi các vị Sa Môn : “Cha mẹ sinh con, mười tháng mang thai, thân như bịnh nặng; những ngày gần sinh, cha nguy mẹ sợ, sự tình kia khó nói cho hết.  Sau khi sinh sản, nhường con chổ khô mẹ nằm nơi ướt, đến chỗ tinh thành, huyết hóa thành sữa.  Săn sóc tắm gội,  ý thức dạy dỗ, lễ cách thầy bạn, phụng cống quân trưởng, sắc mặt của con vui cười, cha mẹ mới yên lòng; thân con đau ốm, lòng cha mẹ héo mòn !  Khi con ra đi, cha mẹ lo nghĩ, sợ không biết có việc gì xảy ra trên đường, khi về an toàn, cha mẹ mới hết lo, lòng thương của cha mẹ như thế, biết lấy gì để báo đền ?”.  Các Sa Môn thưa rằng : “Chỉ hết lòng thủ lễ, hết lòng cung cấp nuôi dưỡng, thì trả được công ơn cha mẹ”.

            Thế Tôn lại nói : “Con phụng dưỡng cha mẹ, cam lỗ trăm vị, để vừa miệng mẹ cha; các tiếng nhạc trời để làm vui tai cha mẹ; y phục thượng hạng để chu cấp thân thể; hai vai đồng cõng đi khắp trong thiên hạ, cho đến lúc tuổi con đã già vẫn lo vật chất để trả ơn sinh dưỡng, như thế có thể gọi là trả hiếu được không ?”.  Các vị Sa Môn thưa : “Làm các việc trả hiếu hết lòng hết dạ như trên, tưởng không có chi hơn được”. -  Đức Thế Tôn bảo rằng: “Chưa phải là hiếu; nếu cha mẹ con ngoan ám, chưa rõ tội phước, không biết trở về tam tôn; hung ngược tàn lệ, hành sự các điều phi lý, dăm dật ngoại sắc, ngụy biện các lời phi đạo lý, rượu thịt hoang loạn, trải bỏ các điều chân chánh, tạo tác như thế làm người con phải tìm đủ cách cản ngăn để khai ngộ cho mẹ cha…

            Nếu còn mờ mịt chưa giác ngộ, bổn phận làm con phải khai hóa.  Tìm đủ cách để chuyển hóa lòng cha mẹ cải ác tùng thiện, phản tà qui chánh; nếu thấy không hiệu nghiệm, con phải khóc lóc kêu than; đến đường cùng cận phải tuyệt thực.  Cha mẹ tuy chưa hối cải, nhưng vì đau thương của tình nghĩa mến yêu, sợ con chết mất, thế nào cũng tùy thuận, phục tâm sùng đạo.  Nếu cha mẹ đổi chí hoàn toàn, phụng Phật giữ gìn năm giới, lòng nhân không sát hại; lòng thanh bạch không trộm cấp, trinh khiết không tà dâm; giữ thành tín không nói dối; hiếu thuận không say sưa.  Trong tông môn, tức là cha lành thì con thảo, chồng chánh thì vợ trinh, chin tộc hòa mục, kẻ giúp việc trong nhà cũng thuận theo.  Toàn gia tộc thấm nhuần đạo đức, mọi người đưọc nhờ ơn”.

(Trích kinh Hiếu Tử, túc 8, tờ 5, bên mặt).

  1. Làm cha mẹ được yên ổn để trả nghĩa thân:

            Cha mẹ đối với con là một công ơn lớn, bú sú nuôi dưỡng, theo thời giáo dục, thân tứ đại được thành nhân.  Vai mặt cõng cha, vai trái mang mẹ, trải qua nghìn năm, dù cho có đại tiện tiểu lợi trên lưng; nhưng không bao giờ có tâm oán trách cha mẹ.  Như thế đó, chưa chắc đủ để trả ơn cha mẹ.  Nếu cha mẹ không tin chánh lý, tìm đủ cách để cha mẹ tin, được ở chỗ yên ổn ! không giới đem giới dạy trao, được tâm hồn yên ổn ! không nghe, dùng giáo lý giảng cho cha mẹ nghe, được chú tâm yên ổn !  Xan tham, khiến cha mẹ làm việc bố thí, chỉ dẫn lợi ích bố thí, đăng ở chỗ yên ổn ! không đủ trí huệ, làm cha mẹ phát sinh trí huệ, khuyên lớn hướng dẫn đến nơi yên ổn tâm hồn.

(Trích kinh Phụ Mẫu Ân Nan Báo, túc 8, tờ 41, bên trái).

  1. Con đường chân thật trả ơn cha mẹ :

            Giả sử có người một vai cõng cha, một vai cõng mẹ; trọn cuộc đời từng không quên bỏ cung cấp y thực, thuốc thang khi bị bịnh, cũng như các đồ cần dùng khác, hãy còn chưa có thể trả ơn sâu cho cha mẹ.  Vì sao ?  Bởi lẽ cha mẹ đối với con, ơn nghĩ quá sâu nặng :  như là lúc sinh sản, tự tâm nuôi dưỡng giặt giũ tắm rửa v.v…. mong con chóng lớn khôn, cung cấp các thứ đồ dùng cho con, chỉ dạy các thế thức thế gian, tâm hồn luôn muốn cho con lìa khổ được an vui, không bao giờ bỏ con, như bóng theo hình.  Cha mẹ đối với con đã có các ơn sâu nặng như thế.  Phải làm sao để trả ơn ? - Nếu cha mẹ đối với Phật Pháp Tăng không có lòng thành thanh tịnh; người con phải tìm đủ mọi phương tiện, thị hiện khuyến khích, khen ngợi an ủi, khiến cho cha mẹ sanh lòng tịnh tín.  Nếu cha mẹ không có giới thanh tịnh; con phải tìm đủ các phương tiện khuyến hóa an ủi, khen ngợi khiến cho cha mẹ thọ trì giới cấm thanh tịnh.  Nếu cha mẹ không có đa văn, con phải làm thế nào để cha mẹ chú tâm nghe hiểu chánh pháp của chư Phật.  Nếu cha mẹ con có tính tham lam bỏn sẻn, không ưa bố thí; người con phải tìm đủ cách giải thích, khuyên hóa, khen ngợi an ủi, khiến cha mẹ thật hành thắng phước.  Những người con như thế mới gọi là chân thật trả ơn cha mẹ”.

(Trích kinh Bổn Sự, quyển thứ tư, thời 6, tờ 36, bên mặt).

  1. Tỳ kheo phải hết lòng cúng dường cha mẹ :

            Lúc bấy giớ Tỳ-kheo Tất Lăng Bà Ta (1), có cha mẹ bị nghèo cùng, muốn dùng y phục cung cấp mà không dám.  Đem việc ấy bạch đức Phật.  Đức Phật đưa việc ấy nhóm các vị tỳ-kheo và bảo các tỳ-kheo rằng : “Nếu người nào ở trong 100 năm vai mặt gánh cha, vai trái gánh mẹ, ở trên đó đại tiện tiểu tiện, dùng các đồ trân kỷ y thực, cung cấp nuôi dưỡng, cũng không thể trả ơn cha mẹ.  Từ nay cho các tỳ kheo, hết lòng trọn đời cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ.  Nếu không sẽ đắc tội rất nặng.

(Trích kinh Luật Ngũ Phần, quyển thứ 20, trương 2, tờ 27, bên mặt).

LƯỢC GIẢI :

  1. Tất Lăng Già Bà Ta  :  Pilinda-vatsa dịch là Dư Tập.  Đoạn nầy là đức Thích Tôn cho phép các tỳ kheo hiếu dưỡng cha mẹ.
  2. Thích Tôn thành đạo nhờ nền tảng hiếu đức :

            Một thuở nọ, đức Phật ở tại La Duyệt Kỳ (1), Trúc Viên Tịnh Xá.  Lúc bấy giờ đức Thế Tôn cùng ngài A-Nan, đấp y mang bình bát, vào trong thành khất thực.  Khi đó có ông bà lão, hai mắt đã mù, nghèo cùng cô độc, rất là khốn khổ, không có chổ cư trú, chỉ ngủ dưới cửa thành.  Hai ông bà có một đức con tuổi vừa lên bảy; thường đi xin ăn, để phụng dưỡng cha mẹ.  Khi xin được các rau trái tốt hoặc các thực phẩm ngon thì dành để cung cấp, nuôi dưỡng cha mẽ; còn lại các đồ hư hao hoặc thừa thải, người con mới dùng.  Lúc bấy giờ ngài A Nan thấy đức bé nầy, mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng đã có tâm cung kính hiếu thuận, tâm lại thường niệm Phật.  Đức Phật đi khất thực rồi, về lại tịnh xá.

            Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, vì các đại chúng, diễn nói kinh pháp.  A Nan lúc ấy, quì gối vòng tay, thưa trước Phật rằng : “Trước đây, con cùng Thế Tôn vào thành Phân Vệ (2), thấy một cậu bé, có lòng hiếu thuận; cha mẹ bị mù ở dưới cửa thành, đi xin ăn từ đông sang tây, những vật xin được, đồ ăn đồ uống rau trái, loại nào tươi tốt, trước hết dâng cho cha mẹ già, còn lại các đồ xấu hư thì cậu ta ăn dùng; ngày ngày như thế, thật đáng thương kính”.

            Đức Phật bảo A Nan : “Hàng xuất gia hay tại gia, phải có đủ từ tâm hiếu thuận, cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ; cho đến xác thân, cứu giúp cha mẹ trong lúc nguy cấp.  Nhờ công đức nầy, trên làm Thiên Đế, dưới làm Thánh Chúa, cho đến lúc thành Phật; ba cõi đặc biệt tôn thờ, đều do phước ấy….

(Trích kinh Hiền Ngu, quyển thứ nhất, phẩm Tu Xà Đề, túc 9, tờ chin, bên trái).

LƯỢC GIẢI :

  1. La Duyệt Kỳ :  Ràjagrha, dịch là Vương Xá Thành.
  2. Phân Vệ :  Pindapàta dịch âm, dịch nghĩa là khất thực.
  3.  Do nhận hiếu được thành tam giới tôn :

            Đức Phật bảo A Nan :  “Ta đời trước làm người con nhân hiếu, làm vua được từ bi dưỡng dục, làm dân được phụng sự cung kính.  Từ đó cho đến khi thành được tam giới Thế Tôn…”

(Trích kinh Đạm Tử, trụ 5, tờ 101, bên mặt).

  1.  Thế Tôn thành Phật là ơn cha mẹ :

            Cha mẹ mỗi đời phóng xả, khiến ta học đạo.  Nhiều kiếp tinh tấn, nay được thành Phật, đều là nhờ ơn đức của cha mẹ.  Người muốn học đạo, không thể không tinh tấn về phần hiếu thuận.

(Trích kinh Phân Biệt, túc 8, tờ 46, bên mặt).

  1. Phật mẫu Đại Ái Đạo diệt độ :

            Lúc  bấy giờ bà Đại Ái Đạo (1), truớc bạch Phật rằng; “Tôi nghe Thế Tôn , không bao lâu nữa sẽ vào Niết Bàn, chỉ sau không quá ba tháng, tại Câu Thi Na (2), trong rừng Sa La song thọ.  Tôi nay không muốn thấy Thế Tôn và A Nan (3) chứng kiến cảnh diệt độ.  Cúi mong đức Thế Tôn  cho phép tôi diệt độ trước”.  Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, mặc nhiên hứa khả điều đó.

            Khi ấy đức Thế Tôn đem các tỳ kheo tăng, trước sau đi nhiễu chung quanh, rồi đi đến trong chùa tỳ kheo ni của bà Đại Ái Đạo.  Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo A Nan, Nan Đà (4), La Vân (5) : “Các ông mang xác thân bà Đại Ái Đạo, ta sẽ cúc cung, đích thân cúng dường”.

            Lúc ấy, ông Thích Đế Hoàn Nhơn (6) cùng Tỳ-Sa Môn thiên vương (7), trước bạch Phật rằng : “Cúi mong Thế Tôn, chớ tự nhọc thân, chúng con tự làm việc cúng dường ấy”.  Ngài Xá Lợi Phất  bảo chư thiên : “Thôi ! Thôi ! các đức Như Lai sẽ tự biết thời; ấy là sở trường tu hành của Như Lai, không phải là việc của trời rồng quỉ thần biết đến được.  Vì lý do ấy, cha mẹ sinh con, phần nhiều được lợi ích; trưởng dưỡng là ơn nặng, bú mớm ôm giữ, phải biết để mà trả ơn, không thể không trả ơn.  Song chư thiên ! phải biết các đức Phật Thế Tôn đời quá khứ được mẹ sinh, trước phải diệt độ; rồi sau các đức Phật Thế Tôn, đều tự cúng dường tha tuần (8) xá lợi; chính khiến tương lai, mẹ sinh ra các đức Phật Thế Tôn, trước phải nhập diệt, để rồi các đức Phật tự cúng dường.  Do phương tiện nầy ! biết rằng Như Lai ta phải tự cúng dường, không phải để cho trời rồng, quỉ thần ta làm việc ấy”.

            Khi ấy, Thế Tôn cung kính đở một bên quan tài, ngài A Nan đở một bên; bay lên hư không, đưa đến một nơi trống sạch.  Đức Thế Tôn lại dung gỗ chiên đàn, chất chung quanh thân bà Đại Ái Đạo, rồi đức Thế Tôn đọc bài kệ:

                        “Tất cả sự vật đều vô thường (9),

                           Người sinh ra tất nhiên có chết,

                           Không sinh thì không bao giờ tử,

                        Tịch diệt nầy rất là an vui”.

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm, phẩm Đại Ái Đạo Bát Niết thứ 50, trắc 3, tờ 61, 62, cả hai bên).

LƯỢC GIẢI :

  1. Đại Ái Đạo   :   Mahàprajapati là dịch ý.  Lại dịch là sanh chủ tức là di mẩu của Phật vậy.
  2. Câu Thi Na   :   Kusinagàra, tên thành phố
  3. Anan             :   Ănanda.
  4. Nan Đà         :    Nanda.
  5. La Vân          :    Ràhula.
  6. Thích Đề Hoàn Nhơn  :   Selera devanam Indra, trời Đế Thích vậy.
  7. Tỳ-Sa Môn   :    Vaisravana.
  8. Tha tuần       :     Lại cũng gọi là gia Duy, hay trà tỳ dịch âm từ chữ Jhapita có nghĩa là hỏa tang.
  9. Tất cả sự vật vô thường :  Từ chữ chư hạnh vô thường, riêng dịch một trong bốn câu kệ.
  10. Như Lai trả ơn mẹ :

            Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dùng sức đại oai thần, khiến cho nấp kim quan tự khai triển, liền từ trong kim quan chấp tay đứng dậy, như Sư Tử vương, khi mới xuất hiện từ hang, thế lực rât là mạnh mẽ.  Trong thân các lỗ chân lông, phóng ra nghìn ánh sáng, trong mỗi ánh sáng, có hóa hiện nghìn đức Phật; thảy đều chấp tay, hướng về ba Ma Ha Ma Gia (1), dùng tiếng Phạn dịu dàng, hỏi chào thân mẫu rằng : “Thân mẫu ở xa xuôi Châu Nam Diêm Phù Đề (2) nầy, các hạnh (3) pháp nhĩ, xin chớ buồn khóc :  đức Phật liền vì mẩu thân, nói ra bài kệ sau đây:

                        “Tất cả trong các thứ phước điền (4),

                        Phước điền của Phật là tối thắng.

                        Trong tất cả các bậc nữ nhơn,

                        Hàng ngọc nữ rất là tối thắng .

                                    Nay tôi đã được mẫu sinh ra,

                                    Siêu vượt thù thắng không ai sánh;

                                    Hay sinh ở trong ba cảnh đời,

                                    Ba ngôi quí báu Phật Pháp Tăng.

                        Thế nên ta từ kim quan đây,

                        Chấp tay hoan hỷ khen ngợi mẹ;

                        Để trả ơn nặng đã sinh ra,

                        Biểu thị lòng từ ta quyến luyến.

                                    Các đức Phật tuy đã diệt độ,

                                    Pháp bảo, tăng bảo thường trú luôn;

                                    Cầu xin thân mẫu chớ lo rầu !

                                    Quán sát chân thật hạnh vô thượng…”

            Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ, bà Ma Ha Ma Gia, lòng tự an ủi, nhan sắc vui vẻ, như hoa sen nở tròn.

(Trích kinh Ma Ha Ma Gia, quyển hạ, dinh 10, tờ 33, bên mặt).

LƯỢC GIẢI :

  1. Ma Ha Ma Gia   :   Mahàmaya, dịch là đại huyễn, tên của thân mẫu đức Phật.
  2. Diêm Phù Đề     :    Jambudvipa, một trong bốn châu của núi Tu Di, tức là bốn phương núi Tu Di, thế giới của phuơng nam vậy.
  3. Các hạnh pháp nhĩ   :   Các hạnh vô thường đều là sinh diệt, đều là ý nói pháp nhĩ vậy.
  4. Phước điền         :   Cũng như ruộng lúa thu hoạch về mùa thu, thí dụ nhờ cúng dường để thọ lãnh phước báo.  Ấy gọi là phước điền vậy.
  5. Làm lễ Vu Lan trả ơn mẹ :

            Các thiên nam !  nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, quốc vương, thái tử, đại thần, tể tướng, tam công, trăm quan, muôn dân, thứ nhơn, ai muốn làm hạnh hiếu tử, đều nên vì cha mẹ hiện tại sinh trưởng mình, hoặc cha mẹ bảy đời quá khứ, đến ngày rằm tháng bảy mỗi năm, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày chư tăng tự tứ (1); nên sắm sửa trăm món uống ăn, thiết lập trong đàn Vu (2) Lan Bồn cúng dường chư Tăng trong 10 phương tự tứ, để nguyện cầu cho cha mẹ hiện tại, thọ mạng trăm năm, không đau ốm, không họa hoạn khổ não; cho đến cha mẹ bảy đời, lìa khổ nơi loài quỉ đói, đặng sanh trong các cõi trời, cõi người, phước lạc không cùng tận.

        Đức Phật bảo các thiện nam cùng thiện nữ, là đệ tử của Phật những ai muốn thật hành hiếu thuận; ở trong mỗi lần suy nghĩ, thường nhớ ơn cha mẹ hiện tại, cho đến cha mẹ bảy đời; mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, phải dung long hiếu từ, nhớ đến công ơn cha mẹ đã sinh, cho đến cha mẹ bảy đời vì các ngài mà làm lễ Vu Lan Bồn, cúng dường Phật cùng chúng Tăng để đền đáp công ơn từ ái trưởng dưỡng của cha mẹ…

(Trích kinh Vu Lan Bồn, trụ 6, tờ 58, bên mặt).

LƯỢC GIẢI:

  1. Ngày tự tứ  :   Pravarana dịch là tự tứ, hay là tùy ý.  Ba tháng an cư kiết hạ xong, đến 15 tháng 7, các vị tỳ kheo tùy ý, nói lên các tội của vị khác, hoặc đã thấy, hoặc đã nghe, hoặc đã nghỉ để tự sám hối, hoặc chỉ cho vị khác sám hối.  Đây là tinh thần tu tập của giáo đoàn Phật giáo thể hiện nơi đây.
  2. Vu Lan Bồn  :   dịch âm từ chữ Ullambana, dịch nghĩa là đảo huyền tức là khổ hoan của vong giả.  Do thân mẩu của Mục Liên Tôn Gỉa, đọa trong đường quỉ đói, nhân duyên chịu khổ đó mà phát khởi có Vu Lan Bồn.

 

Mục III  -  Phu Phụ :

  1. Vợ chồng kính trọng nhau có năm việc :

            Vợ chồng kính mến có năm việc.  Những gì là năm ?  1. Đối đãi nhau dùng lễ nghĩa.  2. Oai nghi, nghiêm cách không thể thiếu.  3.  Ăn mặc phải theo thời.  4.  Giữ một lòng đối với vợ.  5.  Là phải giao phó việc nội trợ cho vợ trông coi.  Thiện sinh !  Chồng phải dùng năm việc nầy, kính đối với vợ.

            Vợ lại dùng năm việc, cung kính đối với chồng.  Những gì là năm ?   1. Là thức dậy trước chồng.  2.  Là ngồi sau chồng.  3.   Là lời nói phải ôn hoa nhã nhận.   4.  Là luôn luôn kính thuận chồng và  5. Là giữ trinh tiết với chồng.  Thiên sinh !  Đây là các điều mà người vợ đối xử với chồng.  Như thế thì mọi phương diện yên ổn, không có chi lo sợ !.

(Trích kinh Trường A Hàm, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 59, bên mặt).

  1. Nhân duyên chồng vợ :

            Đôi vợ chồng ở đời ví như chim bay; chiều đậu ở cây cao, đồng chung ngủ nghĩ, ở trong thời gian, đến sáng thức dậy, mỗi người bay đi một chỗ để tìm cầu uống ăn; có duyên thì hợp, không duyên thì ly; đôi vợ chồng cũng lại như thế.  Đi, lại, tới, lui, chẳng phải riêng sức của ta; tùy theo bản hạnh kia, không thể lưu lại đặng lâu bền !

(Trích kinh Ngũ Vô Phản Phúc, túc 7, tờ 92, bên trái).

  1. Năm hạng làm vợ :

            Đức Phật bảo Ngọc gia :  phương pháp làm vợ, có năm cách.  Những gì là năm ?  Một là vợ như mẹ; hai là vợ như tôi; ba là vợ như chị; bốn là vợ như nô tỳ và năm là vợ chồng như nhau.  Thế nào gọi là vợ như mẹ ?  Nghĩa là thương chồng như con, nên nói vợ như mẹ.  Thế nào gọi là vợ như tôi ?  Nghĩa là thờ chồng như vua, nên gọi vợ như tôi.  Thế nào gọi là vợ như chị ?  Xem chồng như anh, nên gọi vợ như chị.  Thế nào gọi là vợ như nô tỳ ?  Tức là đối với chồng như đầy tớ, nên gọi là vợ như nô tỳ.  Thế nào gọi là vợ chồng ?  Nghĩa là sau thân trước sơ, xa lìa nghi kỵ, ân ái thân mến, đồng tâm mặc dù khác hình; tôn phụng kính cẩn, không có tính kiêu mạn; các việc lành trong cũng như ngoài, gia đình thịnh vuợng; tiếp đãi tân khách phô bày tiếng tốt đẹp; ấy gọi là đạo vợ chồng.

(Trích kinh Ngọc Gia Nữ, trắc 4, tờ 35, bên mặt)

  1. Người nữ dùng tâm đoan chánh làm chính :

            Đức Phật bảo Ngọc Gia :  phương pháp của người nữ, không phải ý đoan chánh mà sinh tâm kiêu mạn.  Hình mạo đoan chánh, chưa phải là đoan chánh; chỉ có tâm chính đáng, được mọi người kính ái.  Ấy mới thật là đoan chánh.

(Trích kinh Ngọc Gia Nữ, trắc 4, tờ 35, bên mặt).

 

Mục  IV  - Thân Tộc, Chủ Tớ :

  1. Có năm việc thân tộc tôn kính lẫn nhau :

            Luận về đạo làm người phải dùng năm việc tôn kính lẫn nhau.  Những gì là năm ?  Một là cung cấp bố thí; hai là lời nói khéo léo; ba là lo việc lợi ích; bốn là đồng sự giúp đở và năm là không dối trá với nhau.  Thiện sinh !  Ấy là năm việc tôn kính trong đạo làm người.

            Trong thân tộc cũng dùng năm việc tôn kính lẫn nhau.  Những gì là năm ?  một là ủng  hộ các việc làm; hai là ủng hộ sự phóng dật mất của; ba là ủng hộ sự sợ hãi; bốn là khuyên răn lẫn nhau; và năm là thường xưng khen cùng nhau.  Thiện sinh ! tôn kính lẫn nhau như thế, thì mọi người mới được yên ổn, không có chi đáng sợ….

(Trích kinh Trường A Hàm  :  Dighàgamasùtra, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 59, bên mặt)

  1. Chủ đối tớ cũng như tớ đối chủ có 5 việc :

            Chủ đối với người giúp việc phải dung 5 việc dạy trao.  Những gì là năm ?  một là theo khả năng mà sai khiến; hai là ăn uống phải theo thời; ba là dạy cho các điều gương mẫu; bốn là khi đau ốm phải lo thuốc thang, cháo cơm; và năm là biết chọn lúc cho nghĩ việc làm.  Thiện sinh !  Ấy là năm việc dạy bảo kẻ giúp việc.

            Người giúp việc cũng phải theo năm việc đối với chủ nhân.  Thế nào là năm ?  một là thức dậy sớm làm việc; hai là làm việc phải chu đáo; ba là của không cho thì không nên lấy; bốn là làm việc phải theo thứ tự và năm là thường xưng khen chủ nhân.  Ấy là các bổn phận làm cho tâm hồn yên ổn, không lo sợ.

(Trích kinh Trường A Hàm :  Dighàgamasùtra, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 59, bên mặt)

 

TIẾT THỨ HAI   -    THẦY BẠN

 

Mục I  -  Thầy Trò

 

  1. Đạo thầy trò :

            Nghĩa thầy trò cảm ứng tự nhiên, phải cùng nhau tin tưởng sâu xa, xem kia như mình; chỗ nào mình không muốn làm, không nên khiến người khác làm.  Mở rộng lễ nghĩa, tôn sùng luật lệ, đem đạo lý dạy bảo, hòa thuận trung chính, không nên oán hận, tranh cải.  Thầy cùng học trò hai bên phải chân thật đối đãi, thầy phải ra thầy, học trò phải giữ bổn phận học trò; tuyệt đối không nên phỉ báng, không nên ngậm các nọc độc để oán nhỏ trở thành hận lớn, rồi trở lại tự thiêu đốt chính mình.

(Trích kinh A Nan Vấn Sự Phật Kiết Hung, túc 6, tờ 77, bên trái).

  1. Năm việc kính phụng sự trưởng :

            Đệ tử kính phụng sự trưởng phải có năm việc, những gì là năm ?  một là hầu hạ cung cấp các đồ cần dùng; hai là lễ kính cúng dường; ba là tôn trọng ngưỡng mộ; bốn là thầy có dạy bảo phải kính thuận không chống trái và năm là theo thầy nghe chánh pháp, khéo phụng trì không cho quên.  Thiên sinh !  phàm là đệ tử, phải dung năm pháp nầy để kính thờ sư trưởng.

            Sư trưởng lại phải áp dụng năm việc để lo dạy học trò.  Những gì là năm ?  một là thuận theo chánh pháp điều ngự (1); hai là dạy bảo những gì học trò chưa biết; ba là theo chỗ cần hỏi, khéo giải thích cho họ; bốn là khai thị cho học trò gần gũi các bạn lành và năm là đem hết chỗ hiểu biết của mình, dạy trao không lầm lẩn.  Thiên sinh !  học trò đối với sư trưởng, kính thuận cung phụng; thì tâm hồn được yên ổn, không có gì đáng lo sợ.

            Đàn việt (2) phải dùng năm việc, cung phụng sa môn hay bà la môn.  Những gì là năm ?  một là thân thật hành tử tế; hai là khẩu thật hành tử tế và ba là ý thật hành tữ tế; bốn là theo thời mà bố thí và năm là nhà cửa không ngăn đóng.  Thiện sinh !  Phàm đàn việc nên đem năm việc trên cung phụng Sa Môn hay Bà La Môn.  Ngược lại, Sa môn, Bà La môn cũng phải dùng sáu việc mà dạy trao cho.  Những gì là sáu ?  một là giữ gìn không cho làm ác; hai là dạy trao chỗ chí thiện; ba là dạy cho họ giữ gìn thiện tâm; bốn là khiến họ những chỗ chưa nghe, được nghe; năm là chỗ nghe rồi khiến họ khéo hiểu và sáu là khai thị con đường về cõi trời.  Thiện sinh !  như vậy đàn việt kính phụng Sa mon, Bà la môn thì họ được yên ổn, không có gì lo.

(Trích kinh Trường A Hàm :  diahàgamasùtra, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 59, bên mặt).

LƯỢC GIẢI:

  1. Điều ngự  :  điều phục chế ngự vậy.
  2. Đàn việt   :   Dànapati, dịch là thí chủ.
  3. Ba thứ pháp điều ngự:

            Một thuở nọ đức Phật ở tại thành Vương Xá (1), trong vườn Trúc Ca Lan Đà (2).  Lúc bấy giờ có vị chủ tụ lạc điều mã đi đến chỗ Phật cung kính chào hỏi, rồi lui ngồi một bên.  Khi bấy giờ đức Thế Tôn bảo vị chủ tụ lạc điều mã rằng : “Người điều phục ngựa có mấy phương pháp ?” - Vị chủ tụ lạc trả lời : “Thưa Cù Đàm ! có ba phương pháp.  Những gì là ba ?  một là hiền hòa; hai là cứng rắn; ba là vừa hiền hòa vừa cứng rắn.”  Phật bảo vị chủ tụ lạc : “Nếu dùng ba pháp ấy, không điều phục được ngựa thì phải làm sao?” -  Vị chủ tụ lạc thưa : “Liền phải giết chúng”.  Rồi vị kia bạch Phật rằng : “Thưa Cù Đàm ! bậc vô thượng (3) điều ngự trượng phu phải dùng bao nhiêu phương pháp ?” -  Đức Phật bảo vị chủ tụ lạc rằng : “Ta cũng dùng ba phương pháp để điều ngự trượng phu, những gì là ba ?  một là nhu nhuyển; hai là cang cường; ba là vừa nhu nhuyển vừa cang cường”.  -  Vị chủ tụ lạc bạch Phật : “Thưa Cù Đàm ! (4) Nếu ba phương pháp không thể điều phục trượng phu thì phải làm sao ?”  Đức Phật nói : “Nầy vị chủ tụ lạc !  nếu ba việc ấy không thể điều phục được phải giết đó.  Vì sao ? Vì không thể để chánh pháp của chư Phật bị khuât nhục”.

            Vị chủ tụ lạc mã bạch Phật rằng : “Trong giáo pháp của Cù Đàm, sát sanh là việc bất tịnh, trong giáo pháp của Như Lai không nên sát sanh; nhưng nay nói rằng người không điều phục được thì phải giết.  Đó là thế nào ?”  Đức Phật bảo vị chủ tụ lạc :  “Như ông đã nói, trong giáo pháp của Như Lai, sát sinh là bất tịnh, Như Lai không nên sát sinh.Vị chủ tụ lạc ! song nếu ta dùng ba pháp để điều phục trượng phu mà vị kia không chịu điều phục, không tuân lời nói đúng, không tuân lời dạy trao mà cũng không tin lời răn nhắc.  Nầy vị chủ tụ lạc !  Nếu Như Lai điều ngự hàng trượng phu mà họ không y theo lời nói, không y theo sự dạy trao mà cũng không nghe lời răn bảo, đâu không sát ư?”  Vị chủ tụ lạc mã bạch Phật rằng : “Thưa Cù Đàm !  nếu điều ngự trượng phu, không phục tùng lời nói, không phục tùng lời dạy trao mà cũng không chịu phục tùng sự răn nhắc, thật là đáng giết vậy.  Vì thế, nên con từ hôm nay, bỏ các ác nghiệp, trở về nương tựa với Phật; trở về nương tựa với Pháp và trở về nương tựa với tỳ kheo tăng”.  Đức Phật bảo vị chủ lạc rằng : “Thật là thiết yếu và chân thật”.

(Trích kinh Tạp A Hàm, quyển thứ 33, thời 3, tờ 87, bên mặt).

LƯỢC GIẢI :

  1. Thành Vương Xá  :  Ràjagrha, thủ đô nước Ma Kiệt Đà xưa kia vậy.
  2. Vườn Trúc Ca Lan Đà  :  Kàranda venuvana, vua Tần Bà La ở trong vườn trúc là vật sở hữu của trưởng giả Ca Lan Đà, vì Phật và chúng tăng kiến lập tịnh xá, dâng cúng lên đức Phật.
  3. Vô thượng điều ngự trượng phu :  Vô thượng sĩ và điều ngự trượng phu đều là tên khác của Phật.
  4. Cù Đàm  :  Dịch âm từ chữ Gautama, họ của đức Thích Tôn.
  5. Thành đạo biết ơn thầy :

            Thành được đạo nghiệp phải biết ơn của đức thầy, thấy thầy liền kính chào vâng thờ; không thầy thì phải suy nghĩ những lời thầy dạy răn; cũng giống như đứa con hiếu thảo nghĩ đến cha mẹ vậy.

(Trích kinh Trung Tâm, túc 8, tờ 24, bên mặt).

  1. Không nên ác ý hướng về thầy :

            … Đức Phật nói : “A Nan ! luận về đạo làm người phải ưu kính người có đức hạnh, tôn trọng kẻ hành thiện, đối với các người tốt, không nên ganh ghét !  Ai mà có ác ý hướng về thầy, họ cùng những bậc có đạo đức, thì chẳng khác nào kẻ ác ý hướng về chư Phật !  Thử hỏi người cầm muôn nghìn viên đá và cung tên tự bắn vào mình, có đau nhức không ? -  A Nan thưa rằng : “Rất đau, rất  nhức, bạch Thế Tôn”.  Đức Phật nói thêm : “Người dùng ác ý đối với người có đạo đức, cùng với thầy của họ, rất là đau đớn như tên bắn vào thân họ vậy.  Làm người đệ tử không nên khinh mạn thầy tổ, ác ý hướng về người có đạo đức; những bậc đạo đức phải tôn kính như chư Phật, không nên ganh ghét chê bai vậy”.

(Trích kinh A Nan Vấn Sư Phật Kiết Hung, túc 6, tờ 77, bên trái).

  1. Cỏ cây trong thiên hạ đều là thuốc :

            Lúc bấy giờ đồng tử Kỳ Bà đi đến một nước kia, trụ xứ của vị Tân Ca La, thưa rằng : “Con muốn theo thầy thọ học nghề làm thuốc, xin thầy hảy chỉ dạy cho con”  Vị kia trả lời rằng : “Vâng !”.  -  Lúc bấy giờ đồng tử Kỳ Bà theo học nghệ thuật làm thuốc, trải qua bảy năm trường; tự nghỉ rằng : “Ta nay học tập nghề làm thầy thuốc, phải làm thế nào cho được hữu hiệu”.  Liền đến chổ thầy dạy thuốc thưa rằng : “Con nay học tập nghề làm thuốc đã khá rồi, làm thế nào để thực tập cho được hữu hiệu.  Lúc ấy, Tần Ca La trao cho một giỏ và các dụng cụ để cắt các cỏ cây, và dặn : “Ông nên đến nước Đắc Xoa Thi La (1), chu vi một do tuần, tìm kiếm các cỏ cây, đặng rồi mang về làm thuốc”.

            Lúc bấy giờ đồng tử Kỳ Bà (2) liền y theo lời dạy của thầy đến nước Đắc Xoa Thi La trong phạm vi một do tuần, tìm kiếm mãi không thấy thuốc; giáp vòng tìm mãi cũng chả thấy thuốc đâu cả; chỉ thấy cỏ cây tất cả vật khác, ông ta thầm nghĩ :  nếu khéo phân biệt, biết chổ ứng dụng, thì không loại nào mà chẳng dùng làm thuốc được.  Thế mà trên thực tế ông đã trở về không, đến chổ thầy dạy thuốc thưa như thế nầy : “Thưa thầy !  Con đã đến nước Đắc Xoa Thi La tìm khắp một do tuần không được cỏ thuốc; con để ý khắp nơi nhưng không gặp; theo con nghĩ, nếu mình khéo ứng dụng thì mỗi cỏ cây đều là mỗi vị thuốc đặc biệt”.  Vị thầy thuốc trả lời cho Kỳ Bà rằng: “Ông nay nên hành nghề, học thuốc đã thành công.  Ta ở trong châu Diêm Phù Đề nầy được người đời tôn xưng số một; nếu ta qua đời thì ngươi phải thay thế cho ta”

(Trích Luật Tứ Phần, quyển thứ 39, trong phần Y Kiền Độ, lệ 5, tờ 57, bên trái).

LƯỢC GIẢI :

  1. Đắc Xoa Thi La  :  Taksasila, miền Tây Bắc Ấn Độ, ở miền thượng lưu của sông Ấn Độ, nước rất văn minh từ thời cổ vậy.  Đương thời Đức Thế Tôn hãy còn bảo trì nền văn minh cổ kính ấy.
  2. Kỳ Bà   :    Jivaka, trong kinh Phật, thường thấy nói vị nầy là danh y trong thiên hạ thời bấy giờ.
  3. Vị thầy sai khiến có 7 việc :

            Vì thầy sai khiến, người đáp tạ có 7 việc :  một là đi thẳng đến chổ thầy sai; hai là phải về thẳng trụ xứ; ba là phải nhớ lời thầy đã dặn và cũng phải nhớ lời người nói ra; bốn là không được vọng động khi xa thầy; năm là nếu kia có mời ở lại, không nên tự tiện lưu trụ; sáu là không được toan tính công việc mà không thỉnh ý thầy dạy và bảy là ra đi phải có nghi phép…

(Trích kinh Sa Di Thập Giới Pháp và Oai Nghi, hàn 10, tờ 41, bên mặt).

  1. Chớ đạp bóng thầy :

            Phải đi sau lưng thầy, không được để chân đạp bóng thầy.  Khi đứng, học trò không nên đứng cao hơn thầy, thầy có dạy bảo lắng lòng lặng nghe…

(Trích Sa Di Thập Giới Pháp và Oai Nghi, hàn 10, tờ 40, bên mặt).

  1. Đệ tữ không nên cầm đầu :

Thí dụ về đầu về đuôi con rắn tranh nhau đi trước :

           Ví như con rắn, cái đuôi bảo đầu rằng : “Ta phải đi trước”.  Cái đầu nói với đuôi rằng : “Ta thường ở trước, sao lại nói ngược đời”.  Đầu khởi sự đi trước, đuôi kia quắn vào cây, không thể tiến tới được.  Đuôi phóng đi truớc liền rơi xuống hầm lửa, thiêu đốt mà bị chết…

           Sư đệ, thầy trò cũng lại như thế, cho rằng thầy đã già, thường đi trước rồi; các người thiếu niên, phải được cầm đầu.  Tuổi còn quá trẻ, không rành giới luật, phần nhiều dễ bị lầm lỗi; do đó, nên dễ bị dắt nhau vào chốn địa ngục…

(Trích kinh Bách Dụ, quyển thứ ba, tạng 8, tờ 74, bên trái).

 

Mục II  -  Tôn Trưởng :

  1. Năm việc thiện của sự tôn lão :

            Đức Phật dạy :  người ở trong thế gian, nhìn qua các việc, phải có thiện tâm hảo ý, nhất là việc kính thờ các bậc tôn lão, lễ nghĩa đầy đủ, để được năm việc lành.  Những gì là năm ? một là làm sĩ quan được mau lên chức; hai là làm quan thì được bổng lộc nhiều; buôn bán gặp thời; ba là mọi người trông thấy đều sinh tâm hoan hỷ; bốn là được lên các cõi trời, chư thiên thấy rồi đều được vui vẻ; năm là từ cõi trời trở lại, hạ sanh trong nhơn gian được làm con của công khanh, vương hầu.  Các việc như thế đều nhờ đời trước hành lễ tác phước gây nên, người đời nhìn thấy rõ rang như thế, phải cẩn thận chớ nên sinh tâm kiêu mạn đối với mọi người.

(Trích kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi, túc 6, tờ 82, bên trái).

  1. Năm việc thiện kính thọ trưởng lão:

            Phật nói :  người sống trong đời, thảo thuận với cha mẹ. kính thờ các vị trưởng lão, lễ phép khiêm nhường, trước quì sau đứng dậy, nói lời hiền lành, thường chỉ dạy mọi người làm lành; nhờ đó mà sanh ra năm việc thiện.  Những gì là năm ? một là được người kính mộ; hai là mọi người đều ca tụng việc tốt; ba là tự ý hoan hỷ; bốn là được sinh lên cõi trời và được các vị trời kính ái; năm là từ cõi trời tái sinh, được sinh trong nhân gian mọi người đều luyến mộ.  Đời nay có đủ thiện tâm hiếu thuận và được mọi người kính mến; đều do mạng đời trước đã làm việc hiếu thuận, kính thờ các vị trưỡng lão, rõ ràng như thế.  Mỗi người nên thật hành lòng hiếu thuận, tôn kính các bậc trưởng lão.

(Trích kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi, túc 8, tờ 82, bên trái).

  1. Năm điếu ác không tôn thờ bậc trưởng lão:

            Đức Phật dạy  :  Người sống trong cảnh đời, bất hiếu với cha me, không kính trọng các bậc trưởng lão, thường hay tức giận, không ưa làm việc thiện, do đó nên bị năm việc ác.  Những gì là năm ?  một là thường bị chiêm bao ác; hai là bị người ganh ghét; ba là tiếng xấu đồn xa; bốn là vào nơi địa ngục thái sơn, bị khảo tra nghìn muôn năm và năm là từ địa ngục ra, đầu sanh làm người, có nhiều tánh tệ xấu bị người đời không ưa.  Đời nầy sinh ra nhiều tính kỳ quái làm cho mọi người không thích, đều do mạng đời trước không hiếu thuận với cha mẹ, không tôn kính các bậc trưởng lão vậy.  Nhân quả rõ rang như thế, người đời nên cẩn thận chớ nên sinh tâm kiêu mạn, nên hiếu thuận và kính trọng các bậc trưởng lão.

(Trích kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi, túc 6, tờ 83, bên trái).

  1. Hay thật hành lễ tiết :

                        Khéo hay thật hành các lễ tiết,

                        Người thường kính trọng bậc tôn trưởng;

                        Bốn phước tự nhiên tăng tiến mãi,

                        Sắc lực, thọ mạng được an nhiên.

(Trích kinh Pháp Cú, quyển thượng, phẩm Thuật Thiên, tạng 6, tờ 98, bên trái).

  1. Cung kính lỗi thời

Thí dụ về kẻ ngu đạp trên miệng ông Trưởng Giả.

            Thuở xưa có một vị đại phú trưởng giả, những người hầu cận hai bên, muốn làm ông ta vừa lòng, nên mỗi việc đều hết lòng cung kính.  Khi ông trưởng giả ho, khạc, nhổ, các người hầu hai bên, dùng gót chân chà đạp liền.  Có một người ngu, không bao giờ chà đạp được, liền nghỉ như thế nầy :  “Nếu để nhổ xuống đất, thì các người hầu hạ đạp liền, tốt hơn, khi vừa muốn nhổ, ta nên đạp trước”.  Lúc bấy giờ ông trưởng giả bị họ và sắp sửa khạc nhổ, thì người ngu nầy bèn giơ chân đạp trên miệng ông trưởng giả, bị tét môi và gãy răng.  Trưởng giả nói với người ngu rằng : “Cớ sao ông lại đạp trên môi miệng của tôi ?” -  Kẻ ngu thưa rằng : “Nếu đợi trưởng giả nhổ ra khỏi miệng vừa rơi xuống đất thì kẻ hầu hạ đạp liền; tôi tuy muốn chà đạp nhưng không khi nào được; vì lẽ đó, nên tôi sốt sắng, khi nước khạc nhổ chưa ra khỏi miệng là phải dở chân đạp liền, để hoàn toàn đắc ý của ông”.

            Dụ trên nói lên rằng, bất cứ việc gì ở đời, thời chưa đến là phải đợi, không nên vội vã cưỡng bức, rồi lại làm khỗ não hơn !  Vì thế người đời phải biết, lúc nào mới đúng thời nên làm và lúc nào không đúng thời…

(Trích kinh Bách Dụ, quyển thứ 3, tạng 8, tờ 74, bên trái).

 

Mục  III  -  Kết Bạn

  1. Bốn thứ bạn thân :

            Ở trong thế gian có bốn thứ bạn thân, phần nhiều làm lợi ích cho đời, vì người cứu hộ.  Những gì là bốn ?  một là ngăn điều quấy; hai là có long từ mẫn; ba là lợi ích người đời; bốn là đồng sự chứng sinh.  Ấy là bốn hạng bạn thân làm rất nhiều lợi ích cho đời, vì mọi người cứu hộ, ta phải gần gũi học tập.

            Thiện sinh !  ngăn điều quấy có bốn việc để làm lợi ích chúng sinh, cứu hộ mọi người.  Những gì là bốn ?  Một là thấy người làm ác, hay ngăn ngừa; hai là dạy người đi theo con đường chánh; ba là long từ bi thương nghĩ; bốn là chỉ con đường về cõi người cõi trời.  Ấy là bốn điều ngăn việc quấy, phần nhiều lợi ích để cứu hộ mọi người.

            Lại nữa, lòng từ mẫn có bốn việc.  Một là thấy lợi hoan hỷ cho người; hai là thấy ác lo rầu cho nhân thế; ba là xưng khen người có đức; bốn là nghe người nói ác, phải khuyên răn, ngăn cản.  Ấy là bốn tâm từ mẫn, phần nhiều làm lợi ích cho chúng sanh, vì người cứu hộ.

            Lợi ích có bốn !  Thế nào là bốn ?  Một là gìn giữ người kia không cho buông lung; hai là ủng hộ người đời không nên xa xỉ của cải; ba là giữ gìn tín tâm, không để người đời sợ hải; bốn là giúp nhau dạy bảo, răn nhắc.  Ấy là bốn việc lợi ích cho người đời, nhiều việc ích lợi vì người cứu hộ.

            Đồng sự có bốn việc, những gì là bốn ?  Một là vì chúng sinh, không tiếc thân mạng; hai là vì chúng sinh không tiếc của báu; ba là vì kia giúp các sự sợ hãi cho họ và bốn là vì kia bình tỉnh dạy răn.  Đó là bốn việc đồng sự tạo nhiều lợi ích, vì người cứu hộ.

(Trích kinh Trường A Hàm, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 58, bên mặt).

  1. Bạn thân có bảy pháp :

            Một thuở nọ, Ngài Xá Lợi Phất cùng với đức Phật đang du hóa tại nước Câu Tát La (1), lúc ngồi nghỉ một chỗ, rồi bỏ quên y Tăng (2) Già Lê trên mặt đất.  Lúc ấy đức Phật mới nhớ lại, bảo ngài A Nan rằng : “Lấy y nầy làm bạn thân gìn giữ”.  Ngài A Nan thưa : “Thế nào gọi là làm bạn thân gìn giữ?”  Đức Phật nói : “Theo chỗ gìn giữ, khiến cho kia hoan hỷ?”.- “Thế nào gọi là theo chỗ giữ gìn, khiến kia hoan hỷ ?” -  Phật nói  “Có 7 pháp được thân hữu lợi ích, từ mẩn.  Những gì là 7 ?  khó mà hay cho; khó làm mà hay làm; khó nhẫn mà hay nhẫn; việc kín đáo thong cảm nhau, không tiết lộ bên ngoài; gặp khổ không bỏ cuộc và gặp người nghèo cũng không khi”.  Như thế, “Nầy A Nan ! có được bảy pháp ấy, gọi là bạn thân, lợi ích, từ mẫn, khiến kia hoan hỷ !”  Liền nói bài kệ rằng :

                        “Khó cho mà làm được,

                        Khó làm mà làm được,

                        Khó nhìn mà nhìn được,

                        Ấy là bạn thân thiện.

                                    Bàn nhau việc kín đáo,

                                    Mọi sự đều bảo tồn,

                                    Gặp khổ không bỏ cuộc,

                                    Bần tiện không khinh khi.

                        Bảy pháp như thế đó,

                        Người năng hành chu đáo;

                        Ấy gọi là bạn thân,

                        Cần phải gần gũi họ..”

(Trích kinh Luật Tứ Phần, quyển 41 về phẩm Y Kiến Độ, lệ 5, tờ 85, bên trái).

LƯỢC GIẢI :

1…Nước Câu Tát La  :  Kosala, đương thời của đức Phật, một đại quốc ở Phương Bắc cùng Phương Nam tương đối, là thành Xá Vệ tức là kinh đô của nước kia vậy.

2…Tăng Già Lê   :  Samghati, dịch là đại y, trong ba pháp y, y nầy quan trọng nhất vậy.  Cũng gọi là tổ y.

  1. 3.      Bạn có bốn loại :

            Bạn có bốn hạng, chúng ta không thể không biết !  có bạn giống hoa; có bạn như dỉa cân; có bạn như núi; có bạn như đất.  Thế nào gọi là bạn giống như hoa ?  Nghĩa là lúc còn tươi đẹp thì được cài trên đầu, khi héo tàn thì bị vất đi, thấy giàu sang thì theo, lúc nghèo hèn thì bỏ. Ấy là bạn như hoa vậy.  Thế nào gọi là bạn như dỉa cân ?  Vật nặng thì đầu thấp xuống, vật nhẹ thì phải bổng lên; có cho thì kính trọng, không cho thì khinh chê.  Ấy là bạn như chiếc cân.  Bạn như núi là thế nào ?  Ví như núi vàng, chim thú tập hợp nơi đó, lông cánh rơi rụng làm mờ yến sáng của vàng.  Hạng sang thêm vinh dự, kẻ giàu thì đồng vui tươi.  Thế là bạn như núi vàng vậy.  Bạn như đất là thế nào ?  Nghĩa là trăm giống lúa và các loại cây quí báu đều nhờ đất mà sống còn và sinh trưởng, cung cấp các nhựa sống, ơn ấy quả cao dày.  Thế là bạn như đất vậy….

(Trích trong Bột Kinh Sao, túc 8, tờ 69, bên trái).

  1. Bạn thân :

                        Nếu đi đến nước khác,

                        Bạn đường gọi là thân.

                        Ở trong nhà của mình,

                        Từ mẩu rất là thân.

                                    Đối chỗ sinh tài lợi,

                                    Quyến thuộc mới là bạn.

                                    Người hay tạo công đức,

                                    Gọi đó bạn thân sau.

(Trích kinh Biệt Dịch Tạp A Hàm, quyển thứ 8, thời 5, tờ 49, bên mặt).

  1. Bạn đạo :

Kinh nói  :       “Bỏ ác theo lành,

                        Thiết tha chánh pháp;

                        Trung trực khích lệ,

                        Nghĩa hợp đạo bạn”.

(Trích kinh Bột Kinh Sao, túc 8, tờ 69, bên trái).

  1. Hoãn, gấp thấy tình bạn :

Kinh Phật dạy : “Hoãn, gấp phân biệt bạn,

                        Chiến đấu thấy sức mạnh;

                        Luận nghị biết sang tối,

                        Giàu sang biết lòng nhân”.

(Trích Bột Kinh Sao, túc 8, tờ 69, bên trái).

  1. Biết người bốn nhân duyên :

            Muốn biết được ngã tướng của người phải đủ bốn nhân duyên :  một là cùng chung với người; hai là giao tiếp trong thời gian lâu; ba là phải cùng nhau bàn luận và bốn là làm việc chung với họ.  Như thế, chắc chắn biết được ngã tướng mỗi người…

(Trích kin Tam Huệ, tạng 8, tờ 23, bên trái).

  1. Năm việc biết người tà hay chánh :

            Đối với những người tà phải dùng năm việc để biết, khi nhận thấy năm việc thi biết người nầy trụ về tà hạnh.  Những gì là năm ?  Nên vui cười nhưng không chịu vui cười; khi nên hoan hỷ thì không chịu hoan hỷ; lúc phấn khởi từ tâm nhưng lại không khởi từ tâm; làm ác không biết hổ; nghe nói việc lành không bao giờ để ý.  Phải biết những hạng người ấy, quyết trụ theo nghiệp tà….

            Những người trụ về chánh nghiệp, phải dùng năm việc hiểu biết; khi nhận định được năm việc thì biết người nầy trụ được chánh nghiệp.  Những gì là năm ?  Lúc nên cười thì cười; nên hoan hỷ thì hoan hỷ; nên khởi tâm từ mẩn thỉ khởi tâm từ mẩn; nên hổ thẹn thì hổ thẹn; nghe việc lành thì để ý.  Như thế, phải biết người nầy đã trụ nơi chánh nghiệp.

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm  :  Ekottàgamasùtra, phẩm Tà Tụ thứ 27, trắc 2, tờ 36 bên trái và 37 bên phải).

  1. Bốn thứ bạn oán :

            Phật bảo Thiện Sinh :  có bốn thứ bạn oán giống như thân, ông nên biết rõ, thế nào là bốn ?  một là sợ phục; hai là dung lời hoa mỹ; ba là kính thuận; bốn là ác hữu.

            Phật bảo Thiện Sinh :  sợ phục có bốn việc.  Những gì là bốn ? một là trước cho sau cướp đoạt; hai là cho ít nhưng trông trả nhiều; ba là sợ cho nên gắng gượng làm thân; bốn là vì lợi, nên làm bộ thân.  Ấy là bốn việc sợ phục.

            Phật bảo Thiện Sinh :  lới hoa mỹ thân cận lại có 4 việc.  Những gì là bốn ?  một là thuận theo thiện và ác; hai là có nạn bỏ lìa; ba là ngoài có thiện đến lén ngăn đó; bốn là có việc nguy bèn ngăn sự cứu giúp.  Ấy là dùng lời hoa mỹ thân cận có bốn việc.

            Phật bảo Thiện Sinh :  Kính thuận thân cận, lại có bốn việc. Những gì là bốn ?  một là trước điên cuồng; hai là sau điên cuồng; ba là hiện điên cuồng; bốn là thấy có lỗi nhỏ lại them gậy gộc cản ngăn.  Ấy là bốn việc kinh thuận thân cận.

            Bạn xấu thân cận lại có bốn việc.  Những gì là bốn ?  một là làm bạn khi uống rượu; hai là làm bạn khi có bạc; ba là làm bạn khi dâm dật; bốn là làm bạn khi ca múa.

(Trích kinh Trường A Hàm, quyển thứ 11, trắc 9, tờ 58, bên trái).

 

Mục IV  -  Kính thờ tôn người khác

  1. 1.      Việc đời không nên khinh :

            Đức Phật nói :  “Đại Vương  !  Ở đời có bốn việc nhỏ, nhưng không nên khinh.  Bốn việc ấy là gì ?  một là vương tử tuy nhỏ, rất không nên khinh; hai là rồng con tuy nhỏ, cũng không nên khinh; ba là đớm lữa tuy nhỏ cũng chớ khinh thường và bốn là tỳ kheo tuy nhỏ cũng không thể khinh….”

(Biết dịch kinh Tạp A Hàm, quyển thứ 3, thời 5, tờ 18, bên mặt).

  1.  Ngu tiện cũng không thể bỏ:

                        Đồ dung tuy thô xấu,

                        Không nên khinh chê bỏ,

                        Mỗi vật nên tích trử,

                        Kẻ ngu hèn chớ bỏ,

                        Kẻ bất tài chớ khinh,

                        Mỗi mỗi có chổ dung.

(Trích Bột Kinh Sao, túc 8, tờ 71, bên trái).

  1.  Bỏ tâm hơn thua:

                        Thắng thì sanh tâm oán,

                        Thua thì tữ buồn rầu;

                        Bỏ hết tâm hơn thua,

                        Không tranh cải tự an…

(Trích kinh Pháp Cú, quyển hạ, phẩm An Ninh, tạng 6, tờ 101, bên mặt).

       4.  Người trí nói, vương giả nói, kẻ ngu nói :

            Vua Di Lan Đà lại hỏi rằng : “Na Tiên cùng với ta vấn đáp được không ?”  Na Tiên trả lời : “Nếu như vua là người trí hỏi, thì trả lời ngay; nếu như vua hỏi theo vương giả hay kẻ ngu thì không thể trả lời”.  Vua nói : “Người trí hỏi, vương giả hỏi cùng kẻ ngu hỏi khác nhau thế nào?”  -  Na Tiên trả lời : “Người trí hỏi, bàn luận tỉ mỉ, đối đáp phân minh, khi nào đúng sai là biết liền.  Ấy là sự hỏi của người trí.  Bậc vương giả hỏi nói, tự hào buông lung, trái ngược, nếu không tuân lời bị giết phạt.  Ấy là lời nói của vương giả.  Còn lời nói của kẻ ngu, nói nhiều không tự biết, nói ít không tự hay, quanh co đủ kiểu, miển sao đắc thắng là được.  Ấy là cách nói của kẻ ngu”.  Nhà Vua nói : “Xin dùng cách nói của bậc trí, chớ nên dùng lời nói của vương giả cùng phu ngu.  Cho nên mang ý của nhà vua nói với ta, các vị phải dùng lời nói của Sa Môn cho ta, phải đem lời nói của các đệ tử Phật nói cho ta, nên mang lời nói của ưu bà tắc cho ta, nên mang lời nói của các vị từ tâm đến cho ta, để mà cùng nhau khai thông tâm trí”.  Na Tiên nói : “Rất hay, rất đúng vậy”.

(Trích kinh Na Tiên Tỳ Kheo quyển thượng, tạng 8, tờ 45, bên trái).

 

Mục V  -  Rán Nói Dối

  1. Nói thường trí thành:

            Đức Phật lại bảo nàng Bửu Nữ rằng : “Bồ Tát chí thành, lời nói rất tịch nhiên, giữ gìn từng lời nói nhưng lời nói không thiếu xót, ngôn từ chân thật, thường nhiếp tâm thanh tịnh, nếu ở trong đại chúng, thường nói lời chí thành; không lấy cớ nầy lẻ nọ mà nói hai lưỡi vậy; không vì sự đầy đủ sản nghiệp của báu mà nói lời hư dối; không theo cha mẹ thân tộc tham tài tiếc của mà nói lưỡi đôi chiều vậy.

(Trích kinh Bửu Nữ Sớ Vấn, quyển thứ nhất, phẩm Vân Huệ, huyền 5, tờ 62, bên mặt).

  1. Nói vọng tự cắt đứt :

                        Chớ nên nói lời vọng !

                        Tất cả nhân duyên ác,

                        Hay ràng buộc sinh tử,

                        Khó thấy được đường lành.

                                    Hại đời không lợi ích,

                                    Bị mọi người oán ghét;

                                    Người nói láo khó tin,

                                    Mọi sự vật tàn tạ !

                        Nếu người đời nhận thức,

                        Trong miệng có búa lớn;

                        Hay tự hại nhiều thân,

                        Đến từ nơi vọng gây !

(Trích kinh Chánh Pháp Niệm, quyển thứ 8, phẩm địa ngục, túc 1, tờ 36, bên trái).

  1. Nói thật cùng nói vọng :

                        Nếu người nói không thật,

                        Tiểu nhân trong tiểu nhân.

                        Thật là bực chánh pháp,

                        Sáng thứ nhất trong sang.

                                    Thật là đường giải thoát,

                                    Của thứ nhất trong của

                                    Cứu thứ nhất trong cứu,

                                    Ấy là người có trí.

                        Minh thứ nhất trong minh,

                        Thấy thứ nhất trong thấy (1).

                        Không của giống như giàu,

                        Trang nghiêm thật trang nghiêm.

                                    Thực là kho thứ nhất,

                                    Vua chúa không thể đoạt.

                                    Nếu ai nói chân thật,

                                    Đưa đến đường tối thượng

                        Thánh nhân nói vọng ngữ,

                        Lửa thứ nhất trong lửa,

                        Độc số một trong độc,

                        Đoạn thứ nhất đường ác.

                                    Nói dối thường đốt người,

                                    Gọi là đệ nhất thiêu,

                                    Như gặp lửa độc dốt,

                                    Nên phải bỏ nói vọng.

(Trích kinh Chánh Pháp Niệm, quyển thứ 8, phẩm Địa Ngục, túc I, tờ 36, bên trái).

LƯỢC GIẢI:

  1. Thấy thứ nhất trong thấy :  Sợ hiểu lầm của thứ nhất trong của vậy.
  2. Thế nào gọi là nói vọng :

                        Cam lồ cùng thuốc độc,

                        Đều ở trong lưỡi người,

                        Nói thật là cam lồ,

                        Vọng ngữ là độc dược.

                                    Nếu người cần cam lồ,

                                    Họ phải dung thật ngữ,

                                    Nếu ai ưa độc dược,

                                    Người ấy nói lời vọng.

                        Thuốc độc uống không chết,

                        Vọng ngữ thì quyết định.

                        Nếu người nói vọng ngữ,

                        Kia xem như đã chết!

                                    Nói dối không lợi mình,

                                    Cũng chẳng lợi người khác;

                                    Nếu mình người không lợi,

                                    Nói vọng ngữ làm gì ?

(Trích kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, quyển thứ 9, phẩm Địa Ngục, túc 1, tờ 40, bên trái).

  1. Lỗi lầm của vọng ngữ :

                        Người nói lời vọng ngữ,

                        Não hại các chúng sanh.

                        Kia thường như đen tối,

                        Có mạng cũng như chết.

                                    Lời dao tự cắt lưỡi,

                                    Làm sao lưỡi không rớt ?

                                    Nếu nói lời vọng ngữ

                                    Bị mất công đức thật.

                        Người ưa nói dối trá,

                        Trong miệng có rắn độc

                        Dao thường ở trong miệng,

                        Lữa hừng cháy trong miệng;

                                    Độc trong miệng quá nhiều,

                                    Rắn độc nhưng không độc;

                                    Miệng độc hoại chúng sanh,

                                    Khi chết đọa địa ngục.

                        Nếu người nói vọng ngữ,

                        Trong miệng họ hôi hám;

                        Lưỡi thì như bùn đặc,

                        Lưỡi cũng như lửa hừng.

                                    Như thế bị rang buộc,

                                    Nơi địa ngục trị tội,

                                    Phá hoại cầu chánh pháp,

                                    Đều do lỗi nơi vọng.

(Trích kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, quyển thứ 50, phẩm Quán Thiên túc 3, tờ 66, bên trái).

  1. Giữ lời nói thiện :

            Đức Phật dạy : “Người trong thế gian không nói hai lưỡi nịnh người, không ác khẩu mắng người, không nói dối trá, không thêu dệt; ai giữ như thế năm điều thiện.  Những gì là năm ?  một là nói ra điều gì, người đời tin dung; hai là được mọi người thương mến; ba là hơi trong miệng thơm tho, bốn là được sanh về cõi trời và được chư thiên tôn kính; năm là từ cõi trời sanh trở lại nhân gian, làm người miệng răng tốt đẹp, người khác không dám dung lời nói ác mắng nhiếc.  Đời nay thấy có nhiều người từ khi sanh đến lúc chết không bị một ai mắng chủi, ấy là do đời trước giữ gìn khầu nghiệp nói lời hiền lành vậy.  Rõ rang như thế, chúng ta phải cẩn thận chớ nói lời vọng vậy.

(Trích kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi, túc 6, tờ 82, bên mặt).

 

Mục  VI  - Từ nhẫn

  1. Từ cơ ba duyên :

            Từ (1) có ba duyên :  một là chúng sinh duyên từ (2), hai là pháp duyên từ; ba là vô duyên từ.  Tâm bi, tâm hỷ và tâm xả, cũng lại như thế.  Nếu theo nghĩa nầy, chỉ có ba duyên, không thể có bốn duyên.  Chúng sinh duyên là thế nào ?  Duyên với năm uẩn (ấm), nguyện cho chúng sinh an vui.  Ấy gọi là chúng sinh duyên.  Pháp duyên là thế nào ?  Theo dõi các chúng sinh, biết rõ các đồ cần thiết, rồi ra tay giúp đở.  Ấy gọi là pháp duyên.  Còn vô duyên là thế nào ?  Duyên của đức Như Lai không nhiểm trước.  Ấy gọi là vô duyên.  Từ, chúng sinh có lòng từ phần nhiều lìa sự bần cùng.  Như Lai đại sư hằng xa lìa cảnh nghèo cùng, lãnh thọ vui thứ nhất.  Nếu duyên chúng sinh thì không duyên Phật pháp.  Pháp cũng như thế; do vì nghĩa đó, nên ai duyên Như Lai, gọi là vô duyên.

            Có chỗ giải :  Tất cả chúng sinh được duyên lòng từ, như duyên cha me, vợ con, thân thuộc.  Do đó, nên nói chúng sinh duyên.  Pháp duyên nghĩa là không thấy cha mẹ, vợ con, thân thuộc; thấy tất cả pháp đều từ duyên sinh.   Ấy gọi là pháp duyên.

            Vô duyên là sao ?  Không trụ tướng sự vật, và tướng chúng sinh.  Ấy gọi là vô duyên.  Tâm bi, hỷ, xả cũng lại như thế.

(Trích kinh Đại Bát Niết Bàn  :  Mahàparinirvànasùtra, quyển thứ 15, phẩm Phạm Hạnh, dinh 5, tờ 74, bên trái)

LƯỢC GIẢI

  1. Từ, bi, hỷ, xả  :  Gọi là tứ vô lượng tâm, cũng gọi là tứ đẳng.  Từ là ban vuì, bi là cứu khổ; hỷ là vui sự tốt của người khác; xả là xem kẻ oán người thân đều bình đẳng.  Bốn tâm nầy hay cho người phước vô lượng, đức vô lượng, nên gọi là vô lượng tâm.
  2. Chúng sinh duyên, pháp duyên, vô duyên :  Đem các sự sai khác của chúng làm duyên để so sánh, gọi đó là chúng sinh duyên.  Không thấy tướng sai biệt, dùng pháp không sai biệt làm duyên, gọi là pháp duyên.  Siêu việt chúng sinh cùng sự vật, khởi tâm bình đẳng vô hạn gọi là vô duyên.  Lòng từ bi của phàm phu cùng hiền giả duyên nói duyên của chúng sinh.  Lòng từ bi của thánh nhân, duyên nơi pháp duyên.  Còn lòng từ bi vô duyên chỉ có Phật mới có mà thôi….
    1. Lòng từ không sát hại :

            Đức Phật nói : “Người ở trong thế gian, lòng từ bi không giết hại chúng sanh, đó không giết hại chúng sanh nên đặng năm điều phước lành.  Những gì là năm ?  một là mạng sống lâu tăng trưởng; hai là thân tâm yên ổn; ba là không bị đao binh, hổ lang, độc trùng làm hại; bốn là khi chết được sanh về cõi trời, nơi ấy người được sống lâu không cùng tột; và năm là từ trên trời đâu sinh lại trong thế gian thì được trường thọ.  Đời nay, chúng ta thấy có người sống trên 100 tuổi, đều nhờ mạng đời trước không gây sự sát sanh.  Họ ưa chết không muốn sống khổ; rõ ràng như thế, cẩn thận chớ nên phạm sự sát hại chúng sanh.

(Trích kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi, túc 6, tờ 82, bên mặt).

  1. Nhẫn hay dứt oán :

                        Chớ dung oán trả oán,

                        Không bao giờ thôi dứt;

                        Dùng nhẫn mới dứt oán,

                        Là pháp của Như Lai…

(Trích kinh Xuất Diệu :  Avadànasùtra, quyển thứ 16, phẩm Phẩn Nộ, tạng 5, tờ 112, bên mặt).

  1. Chỉ có nhẫn đáng nương cậy :

            Nhẫn nhục là yến sáng, dụ như mặt trời, mặt trăng.  Sức của long tượng tuy mạnh mẽ, nhưng sánh với sức nhẫn, muôn, muôn lần không bằng một.  Ánh sáng của bảy món báu, phàm tục cho là quí, nhưng phải lo lắng nhiều, thường gây các tai họa; sự quí báu của nhẩn nhục, trước sau đều an ổn.  Bố thí đến mười phương, mặc dù có phước lớn, nhưng không bằng phước nhẫn nhục.  Ai ôm lòng nhẫn làm việc lành, đời đời không bị oán hận; trong lòng vui vẽ an nhiên, trọn không độc hại.  Đời không có gì đáng nương cậy, chỉ có sự nhẫn là đáng nương cậy.  Nhẫn là ngôi nhà an ổn nhứt; tai quái không thể sinh.  Nhẫn là thần linh, các binh tướng không gia hại.  Nhẫn là chiếc thuyền lớn, có thể dùng đưa qua sông lớn.  Nhẫn là thuốc hay, thường cứu các mạng sống.  Chí hướng của người nhẫn, nguyện gì mà không được.

            Ta nay đang thành Phật, chư thiên được tôn kính, riêng đi trong tam giới, sức nhẫn được đứng đầu.

(Trích kinh La Vân Nhẫn Nhục, túc 7, tờ 7, bên mặt).

  1. Nhẫn là đường an vui :

                        “Nhẫn là nhất thế gian,

                        Nhẫn là đường an lạc;

                        Nhẫn không bị cô độc,

                        Thánh hiền đều hân hoan.

                                    Nhẫn hay rõ chúng sinh,

                                    Nhẫn thường làm bạn tốt,

                                    Nhẫn thêm tiếng khen ngợi,

                                    Nhẫn được đời kính ái.

                        Nhẫn được giàu tự tại,

                        Nhẫn hay đủ đoan chính

                        Nhẫn hay được oai lực,

                        Nhẫn soi trong thế gian.

                                    Nhẫn được các ưa muốn,

                                    Nhẫn hay thành khôn khéo,

                                    Sức nhẫn trừ ma oán,

                                    Cho đến trừ ưu não.

                        Nhẫn đặng sắc tướng tốt,

                        Nhẫn có nhiều quyến thuộc,

                        Nhẫn thâu các thắng lợi,

                        Nhẫn hay đến đường lành.

                                    Nhẫn được người gần gũi,

                                    Nhẫn thường được nhiễm mầu,

                                    Nhẫn hay dứt các khổ,

                                    Nhẫn được mạng sống lâu…”

(Trích kinh Đại Tập. quyển 49, huyền 3, tờ 18, bên trái).

  1. Tuy bị hủy nhục, không mất công lợi :

            Ca Diếp :  như bửu châu lớn do các đức tạo thành, tánh nó thuần tinh, trừ các vết nhơ.  Nếu có người trời chê bai, mắng nhiếc bửu châu ấy, không tâm cung kính.  Ca Diếp !  ý ông nghĩ thế nào ? Đại bửu châu kia, vì sợ chê mắng, mất sức quí báu ư ? -  Không như thế, bạch Thế Tôn !  Đức Phật nói : “Ca Diếp !  bửu châu thanh tịnh ấy, cũng như vị bồ tát kia, ý chí trong sạch; tất cả chúng sinh, mặc dù không cung kính; nhưng công đức của Bồ Tát, không bao giờ giảm mất”

(Trích kinh Đại Phương Quảng, Như Lai Bí Mật Tạng, quyển hạ, vũ 10, tờ 6, bên mặt).

 

Mục VII  -  Báo Ân

  1. Biết ơn trả ơn :

            Nếu có thiện nam cùng thiện nữ, biết ơn trả ơn, nên thật hành 4 việc (1).  Một là gần gũi bạn lành; hai là chí tâm nghe pháp; ba là suy nghỉ nghĩa cao; bốn là y theo giáo pháp tu hành.  Lại nữa có bốn pháp (2).  Một là theo chánh pháp không theo người; hai là theo nghĩa lý, không theo văn tự; ba là theo trí huệ, không theo ý thức; bốn là theo kinh liễu nghĩa, không theo kinh bất liễu nghĩa.  Thật hành tám pháp (3) nầy gọi là biết ơn.

            Lại nữa, sang suốt thật hành tám pháp, gọi là trả ơn.  Những gì là tám ?  một là lợi; hai là suy; ba là hủy; bốn là dự; năm là xưng; sáu là cơ; bảy là khổ; và tám là lạc.

            Cao hơn nữa, thật hành bốn việc (4) sau đây, gọi là biết ơn, mà cũng là trả ơn :  một là thấy chúng sanh ác độc sinh tâm lân mẩn, dùng nhân duyên tử tế để hành trì; hai là thấy khổ của chúng sanh, mắt không ngó lơ, khởi lòng bi mẩn, tạo nhân duyên cứu giúp; ba là thấy sư trưởng, cha mẹ, những  người có đức, trong lòng hân hoan, khối nhân duyên hỷ lạc; bốn là các chúng sanh oán gia, tâm không giận tức, tạo nhân duyên thật hành hạnh xả…

(Trích kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, quyển thứ 7, trụ năm, tờ 31, bên trái).

LƯỢC GIẢI

  1. Bốn việc :  Thiện tri thức, cùng ba pháp :  văn, tư, tu.
  2. Bốn pháp  :  Tùy pháp, tùy nghĩa, tùy trí, tùy kinh liễu nghĩa.  Chỗ khác gọi là pháp tứ y.
  3. Tám pháp  :  Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc cũng gọi là bát phong.
  4. Bốn việc  :  từ, bi, hỷ, xả :  lại gọi là tứ vô lượng tâm

      2.   Ơn nhỏ không thể quên :

            Một thuở nọ, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, rừng cây của ông Kỳ Đà, vườn của Cấp Cô Độc.  Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo các vị tỳ kheo :  có năm hạng người bịnh không thể trị lành :  những người gian tà, không thể trị lành; những người ác khẩu, không thể trị lành; những người ganh ghét, không thể trị lành; những người không phúc thiện, không thể trị lành.  Năm hạng người như thế, các tỳ kheo nên biết khó mà trị lành.  Lúc bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ rằng :

                        “Người gian tà, ác khẩu,

                        Ganh ghét không phúc thiện,

                        Chúng không thể trị lành,

                        Kẻ trí nên trừ bỏ”.

            Thế nên, tỳ kheo ! thường phải tập chánh ý, trừ bỏ ganh ghét, giữ oai nghi tế hạnh, nói đúng với chánh pháp; phải biết phục thiện, biết ơn nuôi dưỡng; ơn nhỏ còn không quên, huống chi là ơn lớn ? thường xả trừ lòng xan tham, không bao giờ khen mình, lại không chê bai người khác.  Tỳ kheo như thế, cần phải tu học…

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm  :  Ekottaràgamasùtra, phẩm Đẳng Kiến thứ 34, trắc 2, tờ 35, bên trái).

      3.  Lỗi lầm quên ơn :

            Lúc bấy giờ, một sư tử chúa, sáng sớm đứng dậy, sáu chỗ không lay động, thân thể phấn chấn rống lên một tiếng, các loài thú dữ đều nép phục, những loại thượng cầm sợ hãi ngã rơi !  Sau đó sư tử chúa đến đồng nội, mé sông, triền núì, xem qua vị trí, tìm kiếm các loài thú ăn thịt.  Gặp một voi lớn, giết hại phanh thây, hấp tấp ăn nuốt, xương bị mắc trong cổ, tròng mắt đứng yên, gần bị tắt thở, mạng căn sắp chấm dứt !  Giờ phút ấy có một con chim sẽ, bay đến đậu trước sư tử chúa, tìm bắt sâu bọ ăn nuốt.  Sư tử há miệng lớn bảo chim sẽ rằng :  “Dùng mỏ cứng nhổ dùm các xương bị chận ngang cổ !  Sau nầy ta đặng các đồ ăn, để trả ơn trả nghĩa cho”.  Chim se sẽ nghe lời yêu cầu, lập tức nhảy vào miệng sư tử, quan sát kỷ lưỡng, đem hết sức bình sanh, nhổ hết các xương nguy hiểm, giây lâu được khỏi, cả hai rất mừng rở !  Ngày sau sư tử chúa tìm được món ăn, giết hại các loài thú, các thức ăn quá nhiều, chim sẽ đứng bên cạnh, sư tử không thèm hỏi tới tên, mà cũng chả nói đến ơn nghĩa đã hứa mấy hôm về trước, dù là một cử chỉ cũng không có.

            Đức Phật bảo Mục Liên  :  khi ấy sư tử chúa dùng bài kệ sau đây nói với chim sẽ rằng :

                        “Ta là sư tử chúa,

                        Sát hại là gia nghiệp,

                        Ăn thịt uống máu tươi,

                        Cho người rõ điều đó.

                                    Ngươi đã không tự lường,

                                    Khỏi nạn răng nanh ta,

                                    Lại được thoát miệng ta,

                                    Ơn ấy sao dám quên ?”

            Lúc bấy giờ chim sẽ lại dùng bài kệ trả lời sư tử chúa rằng :

                        “Tôi tuy loài chim nhỏ,

                        Nhưng không lo sợ chết;

                        Làm lớn không nghỉ ơn,

                        Tự phụ nói quá nặng.

                                    Nếu suy xét cho kỹ,

                                    Nhiều ít thấy có ơn,

                                    Khi chết không ân hận !

                                    Khỏi cần sự nghị luận”.

            Khi ấy sư tử chúa quên hẳn không nghỉ đến ơn nghĩa và lời hứa, bỏ ra đi không một lời chào hỏi.  Chim se sẽ nghỉ rằng : “Ơn ta rất nặng, lại bị khinh chê; ta phải theo dõi những hạng quên ơn, bất cứ chỗ nào, nên cho họ một bài học”.  Sư tử chúa lại giết hại bầy thú, buông long ăn nuốt; no nê rồi ngũ nghĩ, không sợ sệt một ai.  Khi ấy chim sẽ kia bay đến chỗ sư tử chúa, đứng ở trên trán, đem hết sức mình, mổ mạnh vào mắt của sư tử.  Chàng ta hoãng hốt, dớn dác hai bên, không thấy các loài thú khác; chỉ thấy con chim sẽ, đứng ở cành cây.  Sư tử hỏi chim sẽ rằng : “Vì sao chú lại làm hại mắt ta ?”  Chim sẽ thẳng thắn dùng bài kệ đáp lại sư tử :

                        “Ơn nặng không biết trả,

                        Lại đem tâm gia hại;

                        Nay để người một mắt,

                        Ơn nầy đâu quên được.

                                    Ngươi tuy chúa loài thú,

                                    Hành động không chung thỉ;

                                    Từ nay nên thôi nghĩ,

                                    Chớ lại gây ác duyên…”

(Trích kinh Bồ Tát Anh Lạc, phẩm Thí Dụ thứ 32, vũ 4, tờ 76, bên trái).

 

Mục  VIII  -  Xả thí

      1.   Năm cách thí hợp thời :

            Thí hợp thời có năm cách.  Những gì là năm ?  Một là thí cho những người ở xa đến; hai là thí cho kẻ ra đi xa; ba là thí cho người bịnh; bốn là thí cho lúc thiếu thốn (1), năm là, nếu mới đặng các quả tốt cũng như vật thực, trước thí cho các người trì giới tân tiến, rồi sau mới tự ăn.

(Trích kinh Tăng Nhứt A Hàm, phẩm Thiện Tụ thứ 32, trắc 2, tờ 23, bên mặt).

LƯỢC GIẢI :

            1.  Lúc thiếu thốn, khi đói khác vậy.

      2.    Ưa thí đặng năm việc :

            Những người ưa bố thí đặng năm việc :  một là trọn đời không xa lìa các vị thánh nhân; hai là tất cả chúng sinh ưa thấy ưa nghe; ba là khi vào đại chúng không sinh tâm sợ sệt; bốn là được tiếng đồn tốt và năm là trang nghiêm đạo bồ đề.

(Trích kinh Ưu Bà Tắc Giới, quyển thứ tư lệ hai, tờ 37, bên mặt).

      3.   Năm thứ tịnh thí :

            Có năm thứ tịnh thí, thí chủ được đầy đủ.  Những gì là năm ?  một là thí đúng thời; hai là thí cho người tu hành; ba là thí cho người bịnh và những ai săn sóc bịnh; bốn là thí pháp khí; và năm là thí cho người tạo ra quốc độ khác.  Ấy gọi là năm thí…

(Trích kinh Tỳ Gia Bà Vấn, quyển thượng địa 12, tờ 60, 61, bên mặt và trái).

      4.   Năm việc bố thí không được phước :

            Có năm việc huệ thí không được phước đức.  Những gì là năm ?  một là dùng dao thí cho người; hai là dùng đồ độc thí cho người; ba là dùng trâu bò thí cho người; bốn là dùng dâm nữ thí cho người và năm là kiến tạo miếu thờ thần.

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 27, phẩm Tà Tụ, trắc 2, tờ 37, bên mặt).

 

 

TIẾT THỨ BA  -  XÃ HỘI

 

Mục  I  -  Hỗ trợ

      1.   Có, không, thông cảm nhau :

            Trong thế gian có nhân dân, trong gia đình có cha con, anh em, chồng vợ; ngoài ra còn có thân thuộc, nên kính mến nhau, không nên ganh ghét nhau ! hoặc có hoặc không hãy thông cảm cùng nhau, không được tham tiếc; ngôn ngử trong sắc chất thường hòa, cho nên trái nghịch !

(Trích kinh Vô Lượng Thọ, quyển hạ, địa 8, tờ 24, bên mặt).

      2.   Giúp mình, giúp người, ấy là đệ nhất :

            Người có bốn hạng  :  có người hô thân mình, không ủng hộ thân người khác; có người lo hộ thân người khác, nhưng không lo thân mình; có hạng người không hộ thân mình cũng không ủng hộ thân kẻ khác; có người cũng lo thân mình mà cũng lo ủng hộ thân kẻ khác.  Người không hộ mình, cũng không lo cho người khác.  Ấy là hạng người tối hạ tiện.  Hạng lo hộ thân người khác, quên hộ thân mình.  Ấy là hạng thắng thượng.  Nếu người lo hộ mình, không ủng hộ người khác.  Ấy là hạng thắng trung.  Nếu người nào lo ủng hộ mình, cũng ủng hộ kẻ khác.  Ấy là tối thượng, người như thế là người tối đệ nhất.

(Trích kinh Thất Xứ Tam Quán, thời 6, tờ 8, bên mặt).

      3.   Thường hành bốn pháp :

            Những người tại gia, có bốn phương pháp cần phải tu tập :  một là cung kính cha mẹ, tận tâm hiếu dưỡng; hai là thường đem phương pháp lành, dắt dẫn vợ con; ba là thương xót kẻ giúp việc, biết kia có hay không và bốn là gần gũi thiện tri thức, xa lìa người ác.  Các vị thật hành thường xuyên bốn phương pháp nầy, hiện tại các tần lớp người kính quí; tương lai được sinh về các chỗ lành…

(Trích kinh Đại Bát Niết Bàn, quyển thượng, trắc 10, tờ 26, bên mặt).

      4.   Tất cả nam nữ là cha mẹ ta :

            Hữu tình chúng sanh luân hồi chết sống trong sáu đường, cũng như bánh xe lăn tròn không trước sau; hoặc làm cha mẹ, hoặc là nam nữ, đời đời kiếp kiếp lẫn nhau chịu ơn.  Đối xử mọi người như thấy cha mẹ, bình đẳng không sai khác, chưa chứng thánh trí, nên khó mà nhận biết rõ ràng, tất cả nam tử đều là cha, tất cả nữ nhân đều là mẹ; làm sao chưa trả ơn đời trước, mà lại gây thành oán thù ganh ghét ở đời sau…

(Trích kinh Tâm Địa Oán, phẩm báo ân thứ ba, vũ 2, tờ 56, bên mặt).

 

Mục  II  -  Bình đẳng

      1.   Bốn họ bình đẳng y theo nghiệp không y theo chủng tộc :

            Một thuở nọ, đức Phật trụ tại nước Xá Vệ, rừng cây của Kỳ Đà Thái Tử, vườn ông Cấp Cô Độc.  Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên (1) đang ở trong rừng rậm.  Lúc bấy giờ vị quốc vương nước Ma Thu Ra (2), ấy là Tây phương Vương tử, đến chỗ Ma Ha Ca Chiên Diên, đảnh lễ dưới chân ngài, rồi lui ngồi một bên, hỏi tôn giả Ca Chiên Diên rằng : “Bà la môn tự nói :  Ta là số một, người khác là thấp hèn; ta là trong trắng, người khác tối đen; bà la môn thanh tịnh, không phải bà la môn đều bất tịnh, bà la môn từ miệng sinh ra, bà la môn được Phạm Thiên giáo hóa, bà la môn có quyền sở hữu..Thưa tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên, nghĩa trên là như thế nào ?”.

            Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên nói với nhà vua nước Ma Thu Ra rằng : “Tâu đại vương ! đó là lời nói của thế gian, thế gian thường nói rằng :   Bà la môn đệ nhất, kẻ khác thì ti tiện; Bà la môn thanh bạch, người khác thì đen tối; Bà la môn thanh tịnh, sai quấy thì không phải Bà la Môn; bà la môn từ going bà la môn sinh ra, sinh ra từ miệng, được giáo hóa bởi bà la môn, là sở hữu chủ của bà la môn.  Đại Vương phải biết ! nghiệp (3) là chân thật; tất cả các rầng lớp người đều y theo nghiệp mà định đoạt”.  Vua của nước Ma Thu Ra bạch với tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên rằng : “Thật vậy, đúng vậy ! thưa Tôn giả”.

            “Bốn chủng tánh đều bình đẳng, không có các sự thắng liệt, hơn thua, sai khác, thế nên đại vương phải biết bốn chủng tánh thế gian đứng về ngôn thuyết thì có sai khác, nhưng đứng về nghiệp lực thì không sai khác vậy…Lại nữa, nầy đại vương ! trong quốc độ nầy có bà la môn, có người trộm cướp, sẽ như thế nào ?” Vua bạch tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên : “Trong giới Bà la môn có kẻ trộm cắp, hoặc dùng roi đánh, hoặc dùng giây ràng buộc, hoặc đuổi ra khỏi nước; hoặc hình phạt các loại vàng bạc bị mất; hoặc chặt tay, chân, tai, mũi, tội nặng thì giết và tội nhẹ thì câu lưu, song trong giới bà la môn thì gọi là tặc.”

            Lại hỏi : “Đại vương ! nếu trong hàng Sát Đế Lợi, cư sĩ, vương giả, có người trộm cắp, lại phải làm sao ?”  Vua bạch với tôn giả Ca Chiên Diên : cũng dùng roi đánh, giây trói, cũng đuổi ra khỏi nước, cùng hình phạt, cũng lại chặt tay, chặt chân, xéo tai, xẻo mũi, tội nặng thì giết.”.

            “Như thế đại vương ! đâu không phải bốn chủng tánh bình đẳng ư ? Có gì sai khác đâu ?”  Vua bạch với tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên : “Nghĩa như thế đó thật không có gì hơn thua sai khác”.

(Trích kinh Tạp A Hàm  :  Samyuktàgamasùtra, quyển thứ 20, thời 3, tờ 14, bên mặt).

LƯỢC GIẢI

            1.   Ma Ha Ca Chiên Diên  :  Mahàkàyàyana, đệ tử tượng túc của Phật, luận nghị đệ nhất.

            2.   Nước Ma Thu Ra  :  Mathurà, quốc độ nầy ở thượng lưu sông Hằng.

            3.   Nghiệp  :  dịch ý của chữ Karma, có nghĩa tạo tác, do lời nói, ý nghĩa và hành động v.v…tạo tội, rồi thọ lãnh các quả báo vậy.

      2.   Nghiệp báo đồng đẳng :

            Luận về người thật hành pháp thuần thiện, quyết có quả báo thuần thiện; làm hạnh thanh bạch, chắc có quả báo thanh bạch.  Nếu cho quả báo nầy, chỉ dành cho bà la môn, không có trong hàng Sát Đế Lợi (1), cư sĩ, thủ đà la (2), thì các bà la môn mới được tự nói : “Giòng ta trong sạch, thật là số một”..  Nếu như trong cả bốn chúng tánh, đồng bị quả báo ấy; thì các bà la môn không nên độc quyền xưng ta là chủng tánh thanh tịnh số một.

            Bà Tất Tra  !  ông nên biết, ngày nay đệ tử của ta, chủng tánh không đồng, chỗ xuất nghiệp mỗi hạng có sai khác; ở trong giáo pháp ta, các tầng lớp người xuất gia tu hành làm đạo; nếu có ngưởi hỏì :  các ông thuộc về chủng tánh nào ?  Ông nên đáp rằng :  “Chúng tôi là sa môn con giòng họ Thích vậy”.

(Trích kinh Trường A Hàm  :  Dìghàgamasùtra, quyển thứ 6, phần thứ hai, trắc 9, tờ 31, bên trái).

LƯỢC GIẢI

            1.   Sát Đế Lợi  :  ksatrìya, giòng họ vua chúa.

            2.   Thủ Đà La  :  Sùdra, going họ nghèo nàn.

            3.   Bà Tất Tra  :  Vasistra, là hàng học giả “hữu số luận” trong going bà la môn.  Trong kinh điển thường nói, họ là đại biểu cho hàng học giả bà la môn vậy.

 

Mục  III  -  Công ích

      1.   Năm việc thí đặng phước lớn :

            Lại có năm việc bố thí, khiến đặng phước đức lớn.  Những gì là năm ? một là tạo lập vườn hoa thật là mỹ quan; hai là tạo các rừng cây; ba là kiến lập cầu đò; bốn là đóng tàu lớn và năm là trong tương lai cũng như về quá khứ tạo lập phòng xá và trụ xứ…

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm :  Ekottaràgamasùtra, quyể 27, phẩm Tà Tụ, trắc 2, tờ 36, bên trái).

      2.   Bảy thứ phước điền :

            Có bảy phương pháp quảng bá khắp nơi, gọi là phước điền.  Hành giả đặng phước liền sinh về cõi trời Phạm Thiên.  Những gì là bảy ?  một là phát hưng kiến lập Phật điện, tăng phòng giảng đường; hai là vườn ăn trái, ao để tắm, cây cối mát mẻ; ba là thường thí thuốc thang, cứu lành các bịnh; bốn là đóng thuyền kiên cố, cứu giúp nhân dân; năm là thiết lập cầu đò, giúp người yếu đuối; sáu là đào giếng bên vệ đường, người khát nước có nơi uống, dùng và bảy là xây cất nhà vệ sinh, có chỗ dân chúng đại tiện, tiểu lợi.  Ấy là bảy việc được sinh lên cõi trời Phạm Thiên.

(Trích kinh Chư Đức Phước Điền, túc 8, tờ 75, bên mặt).

      3.   Phước đức trong thế gian :

            Một thuở nọ, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, trong rừng cây của Thái Tử Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc.  Lúc bấy giờ có một vị thiên tử, dung sắc tuyệt diệu, lúc đêm về khuya, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi một bên, trong thân chiếu ra nhiều ánh sang, tỏa khắp rừng cây của Thái Tử cùng vườn ông Cấp Cô Độc.  Khi ấy vị Thiên Tử kia nói bài kệ hỏi Phật :

                  “Thế nào đặng ngày đêm ?

                  Công đức thường tăng trưởng ?

                  Làm sao sinh cõi trời ?

                  Cúi mong Phật giảng nói”.

            Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, nói bài kệ đáp rằng :

                  “Nhờ trồng vườn ăn trái,

                  Cây cói che mát mẻ,

                  Dùng cầu thuyền giúp đở,

                  Kiến tạo nhà phước đức.

                  Đào giếng giúp người khát,

                        Khách xá cho bộ hành;

                        Những công đức như thế,

                        Ngày đêm càng tăng trưởng,

                        Đúng pháp giới đầy đủ,

                        Nhờ đó sinh cõi trời.”

(Trích kinh Tạp A Hàm  :  Samyuktàgamasùtra, quyển thứ 36, thời 4, tờ 2, bên trái).

      4.   Nhân, pháp ba cách thức :

            Nhân pháp là thế nào ?  Như các vị thiên tử dùng bài kệ hỏi Phật :

                  “Người làm những gì sanh đường lành ?

                  Ai tạo nghiệp gì về cõi trời ?

                  Làm sao biết được ngày cùng đêm ?

                  Nuôi lớn các công đức an lành ?...”

            Lúc ấy, Thế Tôn dung bài kệ đáp các vị thiên tử rằng :

                  “Ưa đắp đường đào giếng,

                  Trồng các loại hoa quả,

                  Bóng rừng cây mát mẻ,

                  Cầu thuyền giúp nhân dân,

                        Bố thí tu tịnh giới,

                        Trí huệ xả xan tham;

                        Công đức ngày đêm tăng,

                        Thường sinh cõi trời, người,

                        Ấy gọi là nhân pháp….

(Trích luật Ma Ha Tăng Kỳ  :  Mahàsanghikah, quyển thứ 4, phần thứ 4 trong tứ ba la di, lệ 8, tờ 30, bên mặt).

      5.   Bố thí vườn Am (1) Bà Bà Lợi :

            Một hôm đức Thế Tôn, đắp y mang bình bát hướng dẫn các vị tỳ kheo đi vòng quanh rồi đến thành Tỳ Xá Ly (2), đến nhà vị phụ nữ.  Lúc bấy giờ vị phụ nữ kia thấy đức Thế Tôn nhập định; tay bà tự dâng đồ ăn lên đức Phật và chư tỳ kheo tăng.  Sau khi đức Phật và các tỳ kheo thọ trai bà dâng nước và các thứ cần thiết, rồi bà dùng các loại gấm vóc trải ở chỗ Phật ngồi.  Lúc bấy giờ vị phụ nữ kia bạch với Phật rằng : “Vườn Am Bà Bà Lợi nầy, con xin dâng lên đức Như Lai và các tỳ kheo tăng; làm trụ xứ cho chúng tăng trong tương lai, quá khứ cùng hiện tại.  Cúi mong đức Thế Tôn nhận lãnh ngôi vườn nầy”.  Lúc ấy đức Thế Tôn vì phụ nữ kia có tâm thành kia, nạp thọ ngôi vườn nầy.  Thế Tôn liền nói với lời chú nguyện rằng :

                  “Cúng vườn cây trong mát,

                  Cầu, độ giúp nhân dân,

                  Bên đường làm nhà mát,

                  Nhân dân được nghĩ ngơi.

                        Ngày đêm được yên ổn,

                        Phước kia không thể lường;

                        Thành tựu các giới pháp,

                        Chết quyết sinh cõi trời…

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm  :  Ekottaràgamasùtra, quyển thứ 10, phẩm Khuyến Thỉnh, trắc 1, tờ 42, bên mặt)

LƯỢC GIẢI :

      1.   Vườn Am Bà Bà Lợi  :  Ambapàli  :  dịch là nại viên.  Vườn nầy tức là chỗ trong Duy Ma Cật đã nói vậy.

      2.   Thành Tỳ Xá Ly  :  Vaisàli  :  trụ xứ của cư sĩ Duy Ma Cật.

      6.   Bố thí vườn Am La :

            Một thuở nọ, bà Am Bà Bà Lợi (1), liền đem vưòn nầy cúng thí lên đức Phật cùng chiêu đề (2) tăng.  Đức Phật từ mẫn vì thí chủ nên lãnh thọ ngôi vườn, liền nói kệ rằng :

                  “Xây tháp, lập tịnh xá,

                  Vườn ăn trái mát mẻ,

                  Cầu thuyền giúp mọi người,

                  Đồng rộng thí cơm nước,

                        Cho đến cho nhà cửa,

                        Phước kia ngày đêm tăng;

                        Người đủ giới thanh tịnh,

                        Kia quyết đến chốn lành.

                  Nếu đem đồ ăn uống,

                  Y phục cùng ngọa cụ,

                  Cúng thí người trì giới,

                  Thì đặng quả báo tốt.

                        Đấy là bạn chân thật,

                        Trước sau đều tương tùy;

                        Được đến chỗ muốn đến,

                        Như bóng đi theo hình.

                  Thế nên trồng căn lành,

                  Làm tư lương đời sau;

                  Phước làm nền tảng tốt,

                  Chúng sinh được an ổn.

                        Phước được trời ủng hộ,

                        Thật hành không nguy hiểm;

                        Sống không gặp chướng nạn,

                        Chết được sinh cõi trời,

(Trích kinh Trường A Hàm  :  Dighàgamasùtra, quyển thứ 2, phần một của kinh Du Hành, trắc 9, tờ 12, bên trái).

LƯỢC GIẢI

            1.   Am Bà Bà Lợi  :  Ambapàli, dịch là Nại nữ.

            2.   Chiêu đề  :  Catudasa,  dịch là tứ phương.

 

Mục  IV  -  Bác ái  :

      1.   Bác ái có 11 tiếng khen :

                  “Noi nhơn làm việc lành,

                  Bác ái giúp dân chúng;

                  Có mười một danh dự,

                  Phước đức thường theo mình.

                        Ngủ yênm thức cũng an,

                        Không thấy chiêm bao ác,

                        Được trời hộ, người mến,

                        Không độc, không đao binh.

                  Nước, lửa không xâm hại,

                  Chỗ ở được lợi lạc,

                  Chết lên cõi trời Phạm,

                  Ấy là mười một thứ”.

(Trích kinh Pháp Cú  :  Dharmapada, quyển thượng, phẩm nhơn từ, tạng 6, tờ 96, bên mặt).

      2.   Hành thí có hai thứ ruộng :

            Khi Bồ Tát bố thí, quán sát có hai thứ ruộng :  một là ruộng phước; hai là ruộng bần cùng.  Bồ Tát vì muốn tăng thêm phước đức, bố thí cho người nghèo cùng; vì muốn tăng thêm trí huệ vô thượng vi diệu nên thí phước điền; vì cúng thí trả ơn nên cúng ruộng phước; vì sanh tâm thương xót, nên thí bần cùng; vì xả phiền não, nên thí phước điền, vì muốn thành công đức, nên thí bần cùng.

(Trích kinh Ưu Bà Tắc Giới :  Upasàkasilasùtra, quyển thứ ba, lệ 2, tờ 29, bên trái).

      3.   Ba loại phước điền :

            Các thiện nam !  phước điền trong thế gian gồm có ba loại :  một là báo ân điền; hai là công đức điền; ba là bần cùng điền.  Báo ân điền là thế nào ?  Nghĩa là trả ơn cha mẹ, sư trưởng, hòa thượng.  Công đức điền là thế nào ?  tức là tu chứng được noãn pháp (1), cho đến khi nào chứng đặng vô thượng, chánh đẳng, chánh giác.  Bần cùng điền là thế nào ?  nghĩa là giúp cho tất cả những người nghèo cùng khốn khổ.  Như Lai Thế Tôn đã thật hành hai thứ phước điền :  một là báo ân điền; hai là công đức điền.  Pháp cũng như thế, tức là có đủ hai thứ phước điền.  Chúng tăng thì có ba thứ;  một là báo ân điền; hai là công đức điền và ba là bần cùng điền.

(Trích kinh Ưu Bà Tắc  :  Upasàkasilasùtra, quyển thứ ba, lệ 2, tờ 34, bên trái).

LƯỢC GIẢI

            1.   Noãn pháp  :  chứng quả vị trước khi đặng vô lượng thánh trí vậy..

      4.   Bi điền cùng kính điền :

            Có hai thứ phước điền.  Thế nào là hai ?  một là bi điền, nghĩa là giúp các người cô lộ, bần cùng, khốn khổ; hai là kính điền, nghĩa là kính trọng chư Phật, tôn pháp, hiền thánh tăng, cha mẹ, sư trưởng.  Đối với bi điền, ta chớ nên khinh tiện, cho rằng không có phưóc báo; đối với kính điền, ta không nên cầu phước báo.

(Trích kinh Lý Thú Lục Ba La Mật Đa, quyển thứ 4, phẩm Bố Thí Ba La Mật Đa, nhuận 10, tờ 41, bên mặt).

      5.   Phước đức vui thứ nhứt :

                  Phước đức đặng ưa vui,

                  Hay được quả báo tốt;

                  Thế nên cần tu phước,

                  Không bằng phước thuyền bè.

                        Phước đức chứa vô tận,

                        Phước đức thân vô thượng;

                        Phước đức như đèn sáng,

                        Cũng như cha mẹ hiền.

                  Tu phước sanh cõi trời,

                  Phước hay đến đường lành,

                  Người hay siêng tu phước,

                  Cõi trời hưởng phước lạc.

                        Nếu ai tu thắng phước,

                        Thường được sanh chỗ vui;

                        Thế nên cần tu phước,

                        Không bằng vui phước đức.

                  Lợi ích trong hai đời,

                  Aí kính về của cải,

                  Thường xem hai nhân nầy,

                  Ấy gọi phước đức lạc.

                        Phước đức hằng tùy thân,

                        Như bóng thường chẳng lìa,

                        Phước là vui thứ nhất,

                        Không phước không quả vui.

(Trích kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, quyển thứ 24, phẩm Quán Thiên, túc 2, tờ 28, hai bên).

      6.   Thí thực có năm phước đức :

            Đức Phật nói : “Ai mang đồ ăn, thức uống thí cho mọi người, có 5 phước đức.  Người trí phải rõ ý niệm rộng lớn thì có 5 con đường phước đức.   Thế nào gọi là năm ? một là thí mạng; hai là thí sắc; ba là thí lực; bốn là thí ăn và năm là thí biện tài.

            Thế nào gọi là thí mạng ?  tất cả chúng sinh, nhờ đồ ăn mà mạng được sống; bảy ngày liền không ăn uống, có thể chấm dứt mạng sống; thế nên, ai bố thí đồ ăn uống cũng như bố thí mạng sống vậy.  Người bố thí kia mạng sống, đời đời trường thọ, khi sinh ở cõi trời hay trong nhân gian, mạng căn không bao giờ chết yếu, y thực tự nhiên, của giàu vô lượng.

            Thế nào gọi là thí sắc ?  Người đặng đồ ăn nhan sắc sáng nhuần; lúc không được đồ ăn, buồn phiền không tươi nhuần thân hình, sắc mặt tiều tụy, không thể biểu lộ tươi vui; vì thế nên người thí đồ ăn cũng như thí nhan sắc.  Người thí nhan sắc thì đời đời, thân đoan trang, nghiêm chỉnh, sanh ở cõi trời hoặc thế gian dung mạo luôn luôn tươi đẹp, rất ít trong cảnh trần ai, các tầng lớp người nhìn thấy đều cúi đầu làm lễ.

            Thế nào gọi là thí lực ?  người đặng đồ ăn đồ uống, khí lực đầy đủ, mỗi cử động được tấn chí, không thấy chướng ngại, khó khăn, đói khát nhiệt não, hơi thở yếu dần dần; vì thế, nên thí đồ ăn tức là thí sức mạnh vậy.  Ai mà thí sức mạnh cho thiên hạ, đời đời có nhiều sức mạnh, lúc sanh cõi trời hoặc trong nhân gian, sức lực mạnh mẽ, ra vào tấn chí, không bao giờ suy hao !

            Thế nào gọi là thí ăn ?  Người được đồ ăn, thức uống, thân thường yên ổn, không bị các sự lo rầu đói khát chi phối; người không được ăn uống, tâm sầu não, thân tiều tụy, cử động không yên, không thể tự mình quyết định bất cứ việc chi; thế nên bố thí đồ ăn, tức là thí cho sự an thân lập mạng vậy.  Người hay thí sự an ổn kia, đời đời không lo sợ, tâm yên thân mạnh mẽ, sanh lên cõi trời, hoặc ở chốn nhân gian, không bị các sự họa hại, chổ nào sắp đi đến thường gặp các vị hiền lương, giàu mạnh vô số, không khi nào bị chết yểu.

            Thế nào gọi là thí biện tài ?.   Người đặng đồ ăn, hơi đầy đủ, ý cao cường, lời nói thông lợi; trái lại, kẻ không được đồ ăn, thân thể yếu đuối, ý chí bạc nhược, không nói được việc gì ra hồn, miệng khó phát ngôn; thế nên thí thực tức là thí biện tài.  Ai mà giúp cho kẻ khác có biện tài thì người đó suốt đời thông minh, khi sinh lên cõi trời, hay ở chốn trần gian, lời nói biện huệ, khẩu tài lưu lợi, không có một trệ ngại; người nghe rất là hoan hỷ, ai ai cũng đều ngưỡng mộ.

(Trích kinh Thí Thực Hoặch Ngữ Phước Báo, trắc 4, tờ 21, bên trái).

      7.   Những người không của cũng bố thí được :

            Các thiện nam ! những người không có của cải, tự nói không của cải, nghĩa là không đúng.  Vì sao vậy ?  Tất cả đất nước, cỏ, cây, mỗi người đều có; có nhiều khi làm đến quốc trưởng; chưa chắc gì làm việc bố thí được; mặc dù là nghèo cùng, nếu có lòng thương đều có thể làm việc bố thí được.

            Vì sao ?  Những người nghèo cùng cũng có phần ăn; ăn rồi rửa đồ đạt, các đồ còn lại không nhiều thì ít, nên đem cho các loài cần dùng, cũng được phước đức.  Nếu dùng một ít bún, bố thí cho các loài kiến cũng được quả báo phước đức vô lượng.  Người rất nghèo trong thiên hạ, ai mà không có các loại ăn còn dư thừa vậy.  Có ai mỗi ngày ăn luôn ba lần bún bánh, như thế làm sao an toàn khoẻ mạnh được.  Thế nên, mỗi người nên đem nữa thức ăn, bố thí cho những người hành khất.

            Các thiện nam !  Những người trong thiên hạ, ai bị nghèo cùng mà không có thân mạng; mà đã có thân mạng, khi thấy ai làm phước, đem thân mình, ra công, phụ giúp, hoan hỷ không nhàm chán; cũng gọi là thí chủ, cũng được phước đức.  Hoặc có khi phụ vào đôi phần; hoặc có lúc giữ tâm bình đẵng giúp đở; hoặc đôi khi cũng dùng lời thù thắng mà khen ngợi cả hai.

            Vì nguyên nhân ấy, khi ta nhận lảnh thức ăn của vua Ba Tư Nặc, cũng bình đẳng chú nguyện, nhà vua cùng các người nghèo cùng đồng được phước đức như nhau, bình đẳng không sai khác.

(Trích kinh Ưu Bà Tắc Giới, quyển thứ 4, lệ 2, tờ 38, bên mặt).

      8.   Tùy hỷ con đường bố thí :

            Thấy người bố thí, hoan hỷ tán trợ, cũng được phước báo :  Trong kinh nói : “Phước bố thí kia không bao giờ giảm mất”.  Đức Thế Tôn nói : “Cũng như cây đuốc sáng có vài trăm, ngàn người, mỗi người dùng lửa của đuốc ấy; lấy lửa kia đi, nấu đồ ăn, hoặc soi sáng các chỗ tối, nhưng lửa kia vẫn như cũ, phước bố thí cũng như thế đó”.

(Trích kinh Tứ Thập Nhị Chương, tạng 5, tờ 1, bên mặt và bên trái).

 

Mục  V -  Thân tộc

      1.   Thăm bịnh là phước điền thứ nhứt :

            La Phật tử, thấy tất cả các tầng lớp người đau ốm, phải nên cung cấp nuôi dưỡng, như lo cho chư Phật không khác.  Trong tám món phước điền, phước điền thăm bịnh và nuôi bịnh là thứ nhất.

(Trích kinh Phạm Võng Giới, quyển hạ, lệ 1, tờ 8, bên mặt).

      2.   Bố thí cho bịnh nhân là đại thí :

            Nếu có vị thí chủ nào, bố thí cho bịnh nhân, và thăm viếng, hỏi han các người bịnh.  Ấy gọi là viên mản đầy đủ bậc đại thí chủ…

(Trong kinh Đại Bát Niết Bàn  :  Mahàparinirvànasùtra, quyển trung, trắc 10, tờ 27, bên trái).

      3.   Muốn cúng dường chư Phật, phải giúp đở bịnh nhân :

            Một thuở nọ, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, không đến thỉnh thọ trai; thông thường trong Phật pháp, nếu không ai đến thỉnh thọ trai, sau đó phải đi kiểm soát lại các phòng xá.  Khi đi xem xét các phòng xá, coi có chổ nào khác lạ và xảy ra việc gì không.  Lúc bấy giờ, có một vị tỳ kheo đang đau, không có người săn sóc nuôi dưỡng, nằm trong chổ đại tiện, tiểu tiện..  Đức Phật thấy vậy liền đi đến chổ vị tỳ kheo kia đang nằm, cố ý nói : “Tỳ kheo !  cớ sao ông nằm nơi chổ đại tiện, tiểu tiện ?  Có ai trông nom săn sóc cho ông không ?”  Tỳ kheo thưa : “Bạch Thế Tôn không!”.  Đức Phật lại hỏi : “Cớ sao lại không ?” - Tỳ kheo thưa : “Khi con không bịnh, không săn sóc bịnh người khác; thế nên, nay con bịnh, không ai chịu săn sóc, nuôi dưỡng.”  Đức Phật nói : “Ông không săn sóc, không cung cấp nuôi dưỡng bịnh nhân, không có lợi, cũng không được thiện cảm; là tỳ kheo, không nên xem thường, khi thấy ai có bịnh”.  Khi ấy, đức Thế Tôn liền đở vị tỳ kheo đang bịnh đứng dậy, lau thân bất tịnh, lau rồi giặt rửa, giặt rửa rồi lại giặt y phục phơi hong; lấy các cỏ cũ đã gần hoại bỏ ra, quét dọn phòng xá sạch sẽ; rồi trải các cỏ mới và treo một pháp y.  Đức Phật bảo tỳ kheo nằm yên nghỉ ngơi, lại dùng pháp y khác đắp lên thân tỳ kheo ấy rồi ngài từ từ ra đi…

            Đức Thế Tôn thọ thực, xong đem nhân duyên ấy, nhóm các tỳ kheo tăng, giải bày mọi việc, cuối cùng, đức Phật bảo các tỳ kheo : “Tỳ kheo các vị từ nay trở đi phải hết lòng săn sóc các vị tỳ kheo tứ đại bất hòa, chẳng những các vị tỳ kheo mà ngay cả mọi người cũng nên hết lòng giúp đở, không nên thờ ơ.  Nếu ai muốn cúng dường ta, trước hết nên cung cấp nuôi dưỡng người bịnh”.

(Trích kinh Tứ Phần, tập thứ 41, phẩm nói về Y Kiền Độ, lệ 5, tờ 66, bên mặt).

      4.   Thăm bịnh :

                        “Ta phải săn sóc các bịnh nhân,

                        Thường hỏi han các điều nguy ách.

                        Thiện ác luôn luôn có báo ứng,

                        Như trồng cây gì được quả ấy.

                              Đức Thế Tôn thì là Từ Phụ,

                              Kinh pháp giáo lý là từ mẫu.

                              Các vị đồngj học là an hem,

                              Nhờ đó mà được độ giải thoát”.

(Trích kinh Phật Thuyết Tỳ Kheo Tật Bịnh, túc 5, tờ 40, bên mặt).

 

Mục  VI  -  Tắm Gội :

      1.   Tắm gội được năm phước đức :

            Đức Phật ở tại nước Xá Vệ, lúc bấy giờ tỳ kheo bị các chứng bịnh, thưa với Dược Sư Kỳ Bà rằng : “Xin Dược Sư trị bịnh cho chúng tôi !”  Kỳ Bà nói : “Phải vào nhà tắm, tắm gội mới trị lành.  Tỳ kheo nói : “Đức Phật chưa cho vào nhà tắm rửa sạch.  Các đại đức đem việc nầy bạch với Phật.  Đức Phật nói : “Cho vào nhà tằm rửa sạch khi bịnh, có 5 phước đức :  một là trừ nhơ nhớp; hai là thân sạch sẽ; ba là trừ bỏ bịnh lạnh lẽo trong thân người; bốn là trừ bịnh phong và năm là được yên ổn”.

(Trích kinh Luật Thập Tụng, quyển thứ 37, trong thứ hai của Tạp Tụng, trương 5, tờ 41, bên trái).

      2.   Kiến tạo nhà tắm có năm phước đức :

            Một thuở nọ, đức Phật ở nước Xá Vệ, cây của ông Kỳ Đà Thái Tử, vườn của Cấp Cô Độc.  Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo các tỳ kheo, xây cất nhà tắm có năm công đức cho thân tâm.  Những gì là năm ?  Một là trừ phong (gió); hai là người bịnh được lành; ba là trừ bỏ trần cấu; bốn là thân thế khinh an và năm là được mập trắng.

(Trích kinh Tăng Nhất A Hàm  :  Ekottaràgama-sùtra, phẩm Thính Pháp thứ 36, trắc 2, tờ 40, bên trái).

 

Mục VII  - Súc Sinh

      1.   Khiến súc sinh phát tâm :

            Nếu thấy trâu, ngựa, heo (lợn), dê hay tất cả các loài súc sinh, ta nên tâm nghỉ miệng nói :  Các người là súc sinh, nên phát tâm bồ đề.  Là Bồ Tát tâm, vào tất cả chỗ như :  núi, rừng, sông, biển; đều khiến tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề …

(Trích kinh Phạm Võng, quyển hạ, lệ 1, tờ 11, bên mặt).

      2.   Thường hay phóng sinh :

            Tất cả thiện nam là cha, tất cả thiện nử là mẹ ta; ta đời đời theo đó mà đầu sinh.  Thế nên, chúng sinh trong 6 đường đều là cha mẹ ta, nếu ai giết hại mà ăn, tức là giết hại cha mẹ ta mà cũng là giết thân cũ của ta, tất cả gió, lửa là bản thể của ta; vì thế cho nên, ta thường phải phóng sinh vậy…

(Trích kinh Phạm Võng Giới, quyển hạ, lệ 1, tờ 9, bên mặt).

 

 

 

 

 

Soạn dịch xong ngày 10-04-Canh Thân

tức là ngày 23-05-1980

 

 

THÍCH HUYỀN VI

                                        

 

 

                                       PHẬT   TÂM  HIỆN  TƯỚNG DIỆU  VÔ   CÙNG

                                       GIÁO    LÝ  SỰ   ĐỒNG   PHỔ     HÓA   CHUNG

                                       THÁNH TỤC TÙY DUYÊN THÔNG VẠN NHỨT

                                       ĐIỂN TRUYỀN TƯ CHỨNG TỔNG VIÊN DUNG

 

 

Hết Phần Ba của Chương Hai

Pd Phuong An

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn