Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Người Đi xây chín Bậc Phù Đồ

08/06/201618:29(Xem: 2329)
Người Đi xây chín Bậc Phù Đồ

Rupert Neudeck


Người Đi xây
chín Bậc Phù Đồ



Bài phát biểu trong buổi lễ Tưởng Niệm và Tri Ân
Tiến sĩ Rupert Neudeck ngày 05.06.16 tại Chùa
Bảo Quang Hamburg. Nguyên Đạo Văn Công Tuấn.


Kính bạch chư Tôn Đức, kính thưa chư quan khách,

Thưa quý đồng hương, quý đạo hữu Phật tử.

Ngày 31.05.2016 vừa qua Ông Tiến sĩ Rupert Neudeck đã từ trần sau một ca mổ tim ở bệnh viện ở Köln, để lại bao nhiêu nỗi thương tiếc không những cho gia đình, cho bạn bè, cho cộng sự của ông mà còn cho cả cộng đồng người Việt tỵ nạn trên toàn thế giới. Thay mặt Chi Hội Phât Tử Hamburg và Vùng Phụ Cận, chúng tôi xin chân thành gởi lời chia buồn với bà Christel Neudeck cùng ba người con của ông.

Riêng trong tận đáy lòng những Phật Tử Việt Nam ở hải ngoại chúng ta, ông Tiến sĩ Neudeck có một chỗ đứng rất đặc biệt: Chính ông đã là người cùng chúng ta xây dựng nên những ngôi nhà tâm linh, những ngôi chùa, nơi chúng ta hôm nay cùng ngồi lại đây, để cùng nhau tưởng niệm và tri ân ông. Tại sao, tôi xin sẽ nói sau.

Trước tiên xin sơ lược vài nét về tiểu sử của ông.

Tiến sĩ Rupert Neudeck sinh ngày 14 .05.1939 ở Danzig-Langfuhr (nay thuộc lãnh thổ Ba Lan). Trong chiến tranh thế giới thứ hai, vào tháng giêng năm 1945, ông đã phải cùng mẹ và bốn anh chị em (3 anh em trai và 1 chị gái) chạy tỵ nạn về Đức. Lúc đó ông chỉ mới mới 6 tuổi. Theo dự định gia đình họ sẽ đáp chuyến tàu thủy mang tên Wilhelm Gustloff, nhổ neo từ Gotenhafen (bây giờ gọi là Gdynia thuộc Ba Lan) để về Đức. Chiếc tàu chở 10.582 người, trong đó có 8.800 hành khách dân sự, mà đa số là trẻ em. Ở giữa biển khơi, tàu Wilhelm Gustloff đã bị chiếc tàu ngầm của Hồng quân Sô Viết mang tên là S13 tấn công và đánh chìm. Tàu bị đắm và đã có 9.500 người bị chết đuối trên biển. Gia đình ông Neudeck vì đã đến trể nên may mắn không có mặt trên chuyến tàu ấy. Cũng có thể do sự kiện này mà vào những năm cuối thập niên 70, khi hay tin những người thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam lênh đênh trên biển đông ông đã hết sức vận động bạn bè, dân chúng và chính quyền giúp đỡ những thuyền nhân đang ngập lặn giữa sóng biển, sắp làm mồi cho cá.

Sau đó gia đình ông về được đến nước Đức và định cư tại thành phố Hagen. Tại đấy, sau khi xong bậc trung học, ông theo học tiếp đại học ngành Ngôn ngữ và Văn Minh Đức, rồi học Triết học, xã hội học và Thần học Công giáo ở Münster. Vào năm 1961 ông quyết định bỏ ngang chương trình học đại học ngoài đời và xin gia nhập Dòng Tên (SJ). Nhưng chỉ vài năm sau đó ông lại quyết định ra khỏi nhà Dòng và tiếp tục học đại học và tốt nghiệp vào năm 1970. Đến năm 1972 ông trình luận án tiến sĩ triết học cũng tại đại học Müntser. Sau đó ông hành nghề phóng viên, biên tập viên cho các báo, các đài phát thanh có tiếng tại Đức, ví dụ như đài phát thanh quốc gia Deutschlandfunk.

Năm 1979, với sự giúp sức của của văn hào Heinrich Böll, nhà văn Đức từng đoạt giải Nobel văn chương, ông bà Neudeck và những thân hữu đã thành lập „Ủy ban Một con tàu cho Việt Nam“ để đi cứu hộ cho những chiếc thuyền nan nhỏ bé của người Việt Nam lênh đênh trên biển Đông. Đến năm 1982 Ủy Ban này đổi tên thành “Komitee Cap Anamur/Deutsche Notärzte e.V. - Ủy Ban Cap Anamur/Hiệp hội các Bác Sĩ Cấp cứu ” Những chiếc tàu của Ủy Ban Cap Anamur, đã cứu vớt tổng cộng  11.300 thuyền nhân, rồi đưa họ về bến an toàn.

Trong số chúng ta ngồi hôm nay ở đây có rất nhiều người đã mang ơn cứu mạng của Ủy Ban Cap Anamur, mà người cha đẻ sinh ra nó chính là Ông Tiến sĩ Neudeck. Thử tưởng tượng, những ngày lênh đênh vô vọng trên đại dương năm xưa, trước bao nhiêu nỗi cực khổ, chết đói, chết khát, chết vì hải tặc, số mạng tưởng đã ở trong tay thần chết, mà không có bàn tay thiên thần Cap Anamur ấy đưa ra cứu vớt, thì chắc rất nhiều người trong chúng ta hôm nay đã không còn ngồi đây mà có thể đã ngồi trên bàn thờ hương linh phía sau rồi. Ơn tái sinh ấy, không ngôn từ nào có thể nói hết được.

Thưa quý vị,

Cứu được một mạng người trước những khổ lụy tận cùng của trần gian này đã là việc vô cùng khó. Cứu 11.300 thuyền nhân tỵ nạn , tức hơn một vạn người đang quằn quại vô vọng giữa lòng đại dương mênh mông là một việc làm ít có người làm được.  Văn hóa Việt Nam ta có câu rằng: Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người. Như vậy ta có thể nói ở đây rằng, ông Rupert Neudeck và Ủy Ban Cap Anamur đã cứu giúp cho hơn vạn người, nghĩa là đã xây hơn cả vạn Bậc Phù Đồ rồi đấy !

Nhưng Bậc Phù Đồ là gì? Rất nhiều người chỉ nghe mà chưa rõ hết nghĩa của chữ này. Bậc Phù Đồ là một từ của nhà Phật, gốc từ tiếng Pali là Stupa, có nghĩa là „búi tóc“ do hình thù các tháp ở Ấn độ có chóp đỉnh giống như búi tóc (Stupa tại các nước Phật giáo Nam tông có hình vuông phía dưới đế, giữa có hình tròn và trên cùng có một đỉnh nhọn. Ý nghĩa là, đế vuông là những tấm cà sa xếp lại,  hình tròn là bình bát úp lại và trên đỉnh là hình chiếc gậy tích trượng, là ba vật tùy thân của một tu sĩ Phật giáo). Tàu phiên âm chữ Stupa là Phật Đà, đọc lên nghe như Phù Đồ. Chín Bậc Phù Đồ có thể hiểu là ngôi tháp chín tầng thường thấy trong khuôn viên chùa hay có khi cũng được hiểu: đó chính là những ngôi chùa, những ngôi già lam. Bởi vậy khi nãy tôi nói, ông Neudeck đã cùng chúng ta xây dựng các ngôi chùa ở hải ngoại, kể cả ngôi chùa Bảo Quang mà hôm nay chúng ta đang ngồi đây, là ý nghĩa đó. Xin hỏi: có phải đúng như vậy không?

Đó là chưa nói, gần hai mươi ngôi chùa ở nước Đức được thành lập ra từ những năm 70 đến nay cũng chỉ vì có sự hiện diện của những người tỵ nạn chúng ta ở đây. Nếu không có người tỵ nạn Việt Nam thì những ngôi chùa Việt Nam cũng không hiện diện ở Đức, ở Âu châu, hay trên khắp hải ngoại.

Nhưng, thưa quý vị, nếu chỉ nhìn hành trạng của ông tiến sĩ Neudeck trong phạm vi người Việt chúng ta thì quả thật chúng ta chưa hiểu hết về ông và Ủy Ban Cap Anamur cũng như những tổ chức khác do ông thành lập (ví dụ như Hội Mũ Xanh – Grünhelme e.V.). Họ đã có mặt và giúp đỡ những kẻ bần cùng, những người nghèo đói và bệnh tật ở trên 58 quốc gia trên thế giới. Vâng tôi không nói lộn và quý vị cũng không nghe lộn. Năm Mươi Tám quốc gia trên toàn lục địa. Họ đã có mặt từ Afghanistan, Bangladesch, Libanon tới Ấn Độ, Iran, Israel rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam v.v…

Kính thưa quý vị,

Cá nhân tôi dù cũng đã từng đi vượt biên và cũng lần ra đến đại dương nhưng tiếc là không gặp được con tàu Cap Anamur của ông. Chúng tôi vô cùng khâm phục con người và nhân cách của Ông. Ông để lại cho chúng tôi nhiều bài học quý giá trong cuộc sống

- Bài học về lòng từ bi bác ái thương người vô điều kiện.

- Bài học về tâm không phân biệt chủng tộc tôn giáo màu da.

- Bài học: dám vượt qua khó khăn để hoàn thành chí nguyện cứu người cứu đời của mình (dù chính quyền Đức lúc ấy không chấp thuận nhận thuyền nhân Việt Nam, từng tạo khó khăn, và Ông đã phải gồng mình hứng chịu mọi khó khăn từ tài chánh đến tiếng tăm dư luận).

- Bài học về đức tính kiên trì nhẫn nại theo đuổi mục đích giúp người giúp đời đến phút cuối cùng của cuộc đời ông.

- Vân vân và vân vân.

 
Rupert Neudeck-2

Kính thưa vong linh Ân nhân Rupert Neudeck.

Giờ ông đã ra đi. Đây là một cái tang chung cho cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng tôi. Vâng, niềm đau này không phải chỉ đến với bà Christel Neudeck và ba người con,  mà là cả với cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng tôi. Chúng tôi buồn lắm. Chúng tôi biết ơn ông lắm. Ông là vị Thiên sứ hay là bậc Bồ Tát giúp đời, mãn hạn trần gian rồi thanh thản quay gót đi về. Chắc ông cũng đã mãn nguyện lắm.

Cá nhân tôi tuy không có duyên may gần gũi nhưng cũng có vài lần thấy Ông trong các buổi lễ tại Troisdorf, tại Hamburg. Ông xuất hiện thật gần gũi, đơn giản và đầy thiện cảm với chúng tôi. Gần gũi đơn giản và bình yên như một cánh diều chắp cánh thảnh thơi bay trên không trong một buổi chiều hè thanh bình. Cũng vì lý do đó mà một Tượng Đài Thuyền Nhân đã được dựng lên tại bến cảng Hamburg, một địa điểm quan trọng bậc nhất của thành phố này. Buổi lễ Khánh Thành Tượng Đài vào ngày 12.09.2009 đã có những chính khách hàng đầu của nước Đức đến tham dự.

Giờ đây, ở tuổi 77 ông đã muốn ra đi, muốn rời bỏ tấm thân tứ đại tạm bợ này để đi về nơi mà ông từng muốn về, muốn tới. Hôm nay tiễn ông trong chuyến đi thật xa này, với tấm lòng biết ơn sâu sắc chúng tôi xin góp lời cầu nguyện và cầu chúc ông mãi thong dong, an lạc nơi cõi vĩnh hằng.

 

Xin cám ơn tất cả quý vị đã lắng nghe.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

--

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn



Rupert Neudeck 7


Rupert Neudeck và "Một Con Tàu cho Việt Nam"

Nur wenige Menschen sind wirklich lebendig und die, die es sind, sterben nie. 
Rupert, Auf Wiedersehen!
Tôi vừa viết vào quyển sổ phúng điếu Tiến sĩ Rupert Neudeck: 
Có rất ít người thật tình sống, và những người đã thật tình sống thì không bao giờ chết.
 
Rupert, hẹn gặp lại anh!
Tổng thống Đức Joachim Gauck,Thủ tướng Đức Angela Merkel, Bộ trưởng bộ ngoại giao Đức Frank-Walter Steinmeier... không thể kể hết những nhân vật tên tuổi của nước Đức đã viết thư chia buồn khi được tin, công đồng người Việt tỵ nạn tại Đức, dù do tàu Cap Anamur vớt hay không, thì đang thảng thốt, chao đảo: không ai có thể tưởng tượng Rupert Neudeck đã trút hơi thở cuối cùng.
Lẽ dĩ nhiên Rupert cũng không còn trẻ nữa, vừa ăn sinh nhật thứ 77 cách đây nửa tháng, cũng đã là ông nội ông ngoại rồi, và tin Rupert phải mổ tim thì ai cũng biết. Nhưng thật tình không ai nghĩ tới con người gầy như một bộ xương biết đi nhưng đầy nghị lực ấy, lại có thể không còn bao giờ ngồi dậy nữa, để nói một cách chắc nịch: "mình phải làm......"
Cũng chẳng ai trước đây tưởng tượng Rupert Neudeck có thể chết trên giường bệnh. 
Vì tuy phần lớn thời gian làm công việc biên tập viên kiếm cơm nuôi gia đình tại đài phát thanh Deutschlandfunk cũng như làm việc từ thiện được làm tại bàn giấy, nhưng không thiếu những cuối tuần, Rupert phải bay tới những nơi dầu sôi lửa bỏng, thứ sáu bay đi, tối chủ nhật về để kịp thứ hai đi làm: Somalia, Uganda, Ethiopia, Chad, Mozambique, Eritrea, Iraq, Angola, Bosnia, Rwanda, Chechnya, Libya, Israel, Syria... (không biết kể đã đủ chưa) tới nỗi mà vợ anh, Christel Neudeck, chỉ còn cách đối trị với nỗi lo bằng một câu nói đùa bất hủ về ông chồng mình: "ốm tong ốm teo thế kia thì đạn chỉ bay hụt bên cạnh".
Chỗ nào có giặc giã và con người lâm vào hoàn cảnh tuyệt vọng thì Rupert Neudeck "phải" tới, kéo những người khác vào những dự án kiểu bất khả thi "mission impossible", điều khiển chương trình với một sự kiên quyết đôi khi độc đoán để tiến tới thành công, khi những tổ chức khác đã lắc đầu không làm được. 
Câu hỏi của Rupert luôn luôn là "tại sao không?" "Tại sao mình không cứ bắt đầu đi?". 
 
Do đó những dự án của tổ chức Cap Anamur, hay sau này tổ chức Gruenhelme, rất đa dạng, đi từ tháo gỡ mìn, xây dựng các bệnh viện, trạm y tế và thực phẩm, trường học và đường giao thông, hệ thống lọc nước, hệ thống năng lượng mặt trời... nhưng dự án sôi nổi đặc biệt nhất vẫn là dự án đầu tiên vớt người trên biển Đông, cứu sống hơn 11.300 người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, đưa tên tuổi Rupert Neudeck đi vào lịch sử.
Một Con Tàu cho Việt Nam 
Tất cả bắt đầu bằng hình ảnh những con người khốn khổ nằm lả trong một chiếc thuyền con trên đại dương mênh mông trên màn ảnh vô tuyến và một ly cà phê trong quán Café Boule d'Or với triết gia Pháp André Glucksmann sáng ngày 1/02/1979 (1).
Rupert Neudeck kể: Glucksman vừa từ Mã Lai về và cho biết đã có 40.000 người Việt Nam đã dạt vào bờ hòn đảo Pulau Bidong, những người quyết ra đi mà không biết sẽ đi về đâu, bỏ lại đằng sau họ một đất nước trong tay cộng sản, một đất nước mà họ mô tả là cái cột đèn nếu có chân cũng bỏ để ra đi. Glucksman cũng báo tin dự án một con tàu cho Việt Nam, Ile de Lumière, do ông và bác sĩ Bernard Kouchner khởi xướng đã thuê được tại Nouvelle Calédonie nhưng còn thiếu tiền để đi vào hoạt động.
Bên cạnh hình ảnh những con thuyền lênh đênh trên biển cả bất cứ lúc nào cũng có thể bị vùi dập bởi sóng cả hay hải tặc, lực đẩy Rupert Neudeck phải hành động là sự dấn thân ngoạn mục trước đó của giới trí thức Pháp. Rupert viết: "Cách người Pháp tiến hành những hoạt động nhân đạo của họ có một sức hút vô cùng mạnh đối với tôi". Đã từng nghiên cứu và viết luận án tiến sĩ về "Đạo đức chính trị với Jean-Paul Sartre và Albert Camus" (Politische Ethik bei Jean-Paul Sartre und Albert Camus), Rupert hết sức khâm phục thái độ cao cả của Sartre và đối thủ chính trị của ông này là nhà triết lý và xã hội học Raymond Aron, người mà Sartre đã mạ lỵ là "con chó chống cộng" và hai bên đã cắt đứt tình bạn suốt 30 năm vì những sự khác biệt chính trị và tư tưởng. 
Trực diện với thảm cảnh những thuyền nhân đang chết đuối trên biển cả, trong một cuộc họp báo rất lớn tại Hotel Lutetia, Paris, ngày 20/06/1978, với sự hiện diện của một số rất đông những nhân vật lỗi lạc của Pháp và Âu châu từ cánh tả đến cánh hữu, Sartre đã nói: "Tôi ủng hộ những con người mà có lẽ không phải đã là bạn tôi vào thời kỳ Việt Nam đấu tranh cho tự do, nhưng điều này chẳng có gì là quan trọng, vì đó là những người đang gặp nguy hiểm đến tính mạng. Hôm nay, tôi đứng đây, rời xa mọi ý kiến chính trị, và chỉ hành xử theo đạo đức. Nhân quyền là quyền được cứu sống khi gặp nguy hiểm đến tính mạng, là được giúp đỡ khi hoạn nạn". 
Trên chuyến tàu lửa từ Paris về nhà, Rupert Neudeck có ý định noi gương nhóm "Một Con Tàu cho Việt Nam", dựa vào thế thuận lợi của mình trong ngành truyền thông và ảnh hưởng của những người trí thức cùng những nghệ sĩ Đức có tên tuổi, để gây một phong trào quyên tiền ủng hộ con tàu Ile de Lumière của Pháp.
Tháng 7/2015, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà văn Heinrich Böll (giải Nobel Văn học 1972) Rupert Neudeck đã viết trong bài tưởng niệm: 
"Tôi không bao giờ quên hai câu Böll nói để trả lời câu hỏi của tôi có nên làm dự án ủng hộ chương trình cứu người vượt biển không: "Có, Neudeck, làm đi. Có tôi"...
 
Böll là người đã chỉ đường cho chúng ta đừng mãi đuổi theo những định kiến về những người khác, đừng kiệt sức vì chống Cộng sản và Moscou, mà luôn biết rằng trong những nước độc tài có biết bao nhiêu những Con Người đang muốn kết nối với những dân tộc khác."
Tháng 4/1979, Heinrich Böll, Rupert và vợ là Christel Neudeck, đã thành lập "Ủy ban Một con tàu cho Việt Nam" Đức với mục đích quyên tiền ủng hộ chương trình của Pháp. Nhưng tên tuổi của Böll vẫn có vẻ chưa đủ để được sự ủng hộ mạnh mẽ trong dân chúng. 
Đoán biết người dân Đức có khuynh hướng thích đóng góp vào một dự án hoàn toàn Đức, Rupert Neudeck, Heinrich Böll cùng với nhà văn Martin Walser và dân biểu Quốc hội Norbert Blüm thành lập hội "Ein Schiff für Vietnam" và chỉ 3 ngày sau khi được giới thiệu trên truyền hình, số tiền quyên góp lên tới 1,2 triệu Đức mã. Rupert Neudeck hiểu sự sốt sắng ủng hộ này như một lời nhắn nhủ để khởi động một dự án hoàn toàn Đức, do đó anh đem cầm cái nhà nhỏ của gia đình lấy tiền thêm vào, tự mướn một con tàu để ra khơi thi hành công việc cứu người vượt biển, con tàu mang tên Cap Anamur.
Từ năm 1979 đến 1987, Cap Anamur đã cứu trên 11.300 thuyền nhân và săn sóc y tế cho trên 35.000 người.
Tôi không biết làm sao, nhưng tôi biết là phải làm.
Dù đã cứu bao nhiêu ngàn mạng sống, Rupert Neudeck không hề có dáng dấp của một thiên thần.
Những người đã từng quen biết, gặp gỡ và làm việc chung, tả con người anh với những từ rất ấn tượng: kiên định, khó khăn, bướng bỉnh, độc đoán, một nhà quản lý khủng hoảng, một người "cực độ trong vấn đề từ thiện", "kẻ câu... người",...
Đáp lại lời phê bình anh là một nhà cách mạng lãng mạn, Rupert khẳng định "Tôi không lãng mạn. Còn tôi đã lớn lên trong ảnh hưởng của Sartre và Camus - cách mạng đóng một vai trò quan trọng."
Quyển sách cuối cùng Rupert viết mang tựa đề "Sống cực độ" và anh cắt nghĩa:"cực độ đây có nghĩa là không hèn nhát, không xu thời." "Thấy là làm". Tóm lại, Rupert làm tất cả những gì anh nghĩ là đúng, và làm ngay lập tức. Những chữ "khó quá", "nguy hiểm quá", "phức tạp quá" không nằm trong từ ngữ của Rupert. Ngược lại phải có sức chống cự, phải thay đổi lối suy nghĩ, phải dũng cảm can thiệp (vào những tình huống bất công, nguy hiểm).
Vì "cực độ trong vấn đề từ thiện" như vậy, nên Rupert Neudeck nhiều lần đã phê bình cách làm việc cứng ngắc, thiếu linh động của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn. Cũng như anh đã lớn tiếng mơ ước tôn giáo "Bớt trầm hương và vị kỷ, thay vào đó thêm những chương trình phúc lợi tinh thần và trợ giúp cụ thể cho những người có nhu cầu" 
 
Mới đây, vào đầu tháng 4/2016 nhân dịp Rupert và Christel Neudeck nhận chung giải thưởng Erich-Fromm khen tặng sự dấn thân của họ trong việc hỗ trợ người tỵ nạn, Rupert đã phát biểu: "Công việc của chúng tôi ít khi được gọi là thành công. Thường hay gặp thất bại hơn" và anh đổi giọng hóm hỉnh "sự cộng tác giữa chúng tôi rất hoàn hảo: tôi to mồm còn bà ấy lấy quyết định"
 
Gia tài để lại
Con tàu Cap Anamur không phải là con tàu đầu tiên đi cứu người Việt Nam vượt biển lánh nạn cộng sản. Trước đó là tàu Ile de Lumière của Pháp mà gần như cả thế giới đều nghe tới. Rất ít ai biết rằng trước Ile de Lumière, năm 1976, còn có hai tàu nhỏ, Tàu Roland và tàu Leapdal, do một tu sĩ phật giáo nhỏ bé, đứng trước nỗi thống khổ và những cái chết tức tưởi của thuyền nhân trong sự phớt lơ của toàn thế giới, đã quyên góp để cấp bách đi làm công tác vớt người, với ý định đưa về Guam (lãnh thổ Hoa Kỳ) hoặc qua Úc và vận động báo chí để xin hai quốc gia này chấp nhận và cũng đồng thời báo động cho thế giới về sự có mặt của thuyền nhân trên biển cả. Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn đã hết sức bực mình và chương trình bị những thế lực quốc tế ngăn chận. Người tu sĩ trẻ ngày đó hôm nay là Thiền sư Nhất Hạnh. Thầy đã nhận chấm dứt chương trình sau khi thương lượng để những người đã vớt, được chấp thuận và đưa đi tỵ nạn ở Úc.
Cap Anamur và Ile de Lumière đã thành công trong sứ mạng cao cả cứu mạng sống của nhiều chục ngàn người và đẩy các nước Âu Mỹ phải không được nhắm mắt làm ngơ. Vì những người trí thức của Pháp và Đức đã hãnh diện với trách nhiệm coi trọng Con Người hơn mọi khác biệt chính trị và tư tưởng. Và vì lòng rộng lượng, nhân đạo của nhân dân Pháp và Đức đã đóng góp tiền bạc để ủng hộ hai chương trình đi cứu người cũng như áp lực chính phủ hai quốc gia phải mở cửa đón người tỵ nạn. Một đỉnh núi cao chỉ là đỉnh núi vì có hàng triệu những hòn đá lớn nhỏ nằm ở dưới. 
Rupert Neudeck đã cắt nghĩa tại sao anh có đủ sức mạnh để làm những việc mà người khác cho là phi thường: "Vì tôi ý thức thật là một món quà tuyệt vời được sống trong một xã hội tự do, và cũng một phần do ảnh hưởng của dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu."
Rupert thân quí, Hôm nọ khi anh mở mắt, Christel có hỏi anh muốn nghe Mozart không thì anh gật đầu. Là Fan của Mozart, tôi tin rằng anh đang rất thanh thản trong tiếng nhạc. Những người Việt thương yêu anh mấy ngày qua hết lòng tỏ bầy tình cảm qua những bài chia buồn đăng trên cả trang báo hay tổ chức đi dự lễ tiễn đưa anh. Đừng vội la nhé, đó chỉ là phần nhỏ. Phần lớn tiền quyên góp là để giúp vào quỹ của hội Grünhelme. 
Gia tài anh để lại là quí trọng Con Người, không để cho những khác biệt về tư tưởng, tôn giáo hay chính trị giết hại Con Người, chúng tôi sẽ nâng niu, gìn giữ và dũng cảm bảo vệ.
blank



 

 Rupert Neudeck-3

 

 
DER BUDDHA-TEMPEL-BAUMEISTER
 
 
Rede bei der Gedenkfeier anlässlich des Todes von Dr. Rupert Neudeck am 05.06.2016 in der Pagode Bảo Quang, Hamburg.
Tuan Van Cong



Am 31.05.2016 hat Herr Dr. Rupert Neudeck nach einer Herzoperation im Klinikum Köln die Welt verlassen und große Trauer nicht nur bei seiner Familie, seinen Freunden und Mitarbeitern, sondern auch bei der Gemeinschaft der vietnamesischen Flüchtlingen in der ganzen Welt hinterlassen. Im Namen des buddhistischen Vereins in Hamburg und Umgebung möchten wir an Frau Christel Neudeck und ihren drei Kindern unser aufrichtiges Beileid ausrichten.

Im Herzen der vietnamesischen Buddhisten im Ausland hat Herr Dr. Neudeck einen besonderen Platz genommen: Er war gemeinsam mit uns auch ein Bauherr der geistlichen Bauwerke, der buddhistischen Pagoden, wie der hier, wo wir gerade zusammen gekommen sind, um seines Todes zu gedenken und ihm zu danken. Ich werde im Folgenden die Gründe  dafür sagen.

Zuerst möchte ich jedoch kurz von seinem Lebenslauf erzählen.

Dr. Rupert Neudeck war am 14.05.1939 in Danzig-Langfur (jetzt im polnischen Gebiet) geboren. Im Januar 1945, noch während des zweiten Weltkriegs, musste er mit seiner Mutter und seinen vier Geschwistern (drei Brüder und eine Schwester) nach Deutschland flüchten. Er war damals gerade 6 Jahre alt. Seine Familie wollte eigentlich mit dem Schiff „Wilhelm Gustloff“, das den Hafen Goten (heißt jetzt Gdynia und gehört Polen) verließ, um nach Deutschland zu fahren. Auf dem Schiff waren 10.582 Passagieren, davon 8.800 zivile Fahrgäste. Ein Großteil davon waren Kinder. Auf dem offenen Meer wurde das Schiff jedoch von dem sowjetischen U-Boot S13 angegriffen und versenkt. Insgesamt waren 9.500 Passagieren  ertrunken. Die Neudecks Familie war zu spät gekommen und hatte deshalb glücklicherweise das Schiff verpasst. Dieses Ereignis könnte mit ein Grund gewesen sein, dass er mit aller Kraft seine Freunde, seine Mitbürger und Regierung mobilisierte, den vietnamesischen Boat People, die auf dem südchinesischen Meer von dem Ertrinken bedroht waren, zu helfen.

Seine Familie erreichte Deutschland und wurde in Hagen ansässig. Dort, nach dem Abitur, studierte er Germanistik, Philosophie, Soziologie und katholische Theologie in Münster. Im Jahr 1961 schloss er sich den Jesuiten an, verließ jedoch den Orden nach einigen Jahren und studierte weiter bis 1970. Im Jahr 1972 fertigte er seine Dissertation in Philosophie an der Universität Münster. Anschließend arbeitete er als freier Journalist für die großen Zeitschriften und Rundfunkanstalten in Deutschland; wie den staatlichen „Deutschlandfunk“.  

Mit der Unterstützung von dem Schriftsteller Heinrich Böll, deutscher Nobelpreisträger der Literatur, hat er 1979 mit seiner Frau und Freunden das „Komitee Ein Schiff für Vietnam“ gegründet, um die vietnamesischen Bootsflüchtlinge mit ihren winzigen Booten auf dem Ostpazifik zu retten. Das Komitee wurde im Jahr 1982 zu „Komitee Cap Anamur/Deutsche Notärzte e.V.“ geändert. Die Schiffe des Komitees Cap Anamur hatten insgesamt 11.300 vietnamesischen Boat People gerettet und sicher zum Hafen gebracht.

Viele von uns, die heute hier anwesend sind, sind als Geretteten dem Komitee Cap Anamur zum großen Dank verpflichtet. Wenn wir damals, als Hoffnungslosen auf dem Meer, kurz vor dem Verdürsten und Verhungern, als Opfer von Piraten an der Schwelle des Todes, nicht durch die Hand des Engels Cap Anamur gerettet würden, würden viele von uns heute nicht hier sitzen, sondern dort hinten sein, wo wir die Seelen der Verstorbenen verehren. Das Geschenk des neuen Lebens ist kaum in Worten zu fassen.

Ein vietnamesisches Sprichwort sagt: „Es ist wertvoller, einen Menschen zu retten, als einen neunstöckigen Stupa zu bauen“ 

Herr Rupert Neudeck und sein Komitee Cap Anamur haben 11.300 Menschen gerettet; sie haben also mindestens 11.300 Buddhastempel gebaut!

Stupa ist ein buddhistischer Begriff mit dem Ursprung aus der Sprache Pali und bedeutet „Haarknoten“, denn die Kuppelgewölbe der Tempel in Indien haben die Form der Haarknoten. Die Stupas von der buddhistischen Theravada-Schule haben eine quadratische Plattform als Basis, das halbkugelige Kuppelgewölbe, abgeschlossen mit einer Reliquienkammer und der Spitze. Die quadratische Basis steht für das zusammengefaltete Gewand, die Halbkugel für die umgedrehte Schale, und die Spitze für den Stab; es sind also die drei sichtbaren Merkmale eines buddhistischen Mönches). Die Chinesen haben den Begriff Stupa als „Phật Đà“ phonetisiert, die Vietnamesen nennen sie „Phù Đồ“. Neunstöckige Stupas können wir oft im Garten einer Buddhistischen Pagode sehen und können als Buddha-Tempel verstanden werden.

Wenn ich vorhin gesagt habe, dass Herr Neudeck  gemeinsam mit uns auch ein Bauherr der buddhistischen Pagoden im Ausland sei - Pagode Bảo Quang, wo wir gerade sind, wird auch dazu gezählt, dann ist es in diesem Sinn gemeint.

Seit Ende der 1970er bis heute sind 20 Pagoden in Deutschland durch die Anwesenheit vietnamesischer Flüchtlinge entstanden. Wenn wir nicht hier wären, würde es auch keine buddhistischen Pagoden in Deutschland, in Europa und auch überall außerhalb Vietnam geben.

Die Lebenswerke von Dr. Neudeck und die von ihm gegründeten Komitee Cap Anamur und Grünhelme e.V. beschränken sich jedoch nicht auf die Rettung von Vietnamesen. Sie waren in 58 Ländern, um den Armen und Kranken zu helfen. Ja, acht-und-fünf-zig-Länder in der ganzen Welt. Sie waren in Afghanistan, Bangladesch, Libanon, Indien, Iran, Israel, in der Türkei und Vietnam …

Sie sind deshalb der Grund der Gedenktafel am Hafen Hamburg, an deren feierlichen Einweihung am 12.09.2009 wichtige Politiker der Republik teilgenommen haben.

Er hat uns sehr viele große Lehre für das Leben gegeben:

- bedingungslose Nächstenliebe,

- keine Unterscheidung von Rassen , Religionen oder Hautfarben,

- Überwindung aller Schwierigkeiten, um das Ziel Menschenrettung zu erreichen (die damalige deutsche Regierung hat die Aufnahme der vietnamesischen Flüchtlinge anfänglich nicht zugestimmt. Es gab unterschiedliche Schwierigkeiten, finanzielle und öffentliche Art),

- Ausdauer und Geduld, um das Ziel, Menschen zu helfen, bis zum letzten Minuten des Lebens zu verfolgen.

- Und vieles mehr.

 

Rupert Neudeck-2 

 

Sehr geehrter Dr. Rupert Neudeck,

Jetzt haben Sie uns verlassen. Es ist ein Trauerfall für alle vietnamesischen Flüchtlinge. Der Schmerz trifft nicht nur Ihre Frau Christel und Ihre drei Kinder, sondern auch uns, die vietnamesischen Flüchtlinge. Wir sind Ihnen zum großen Dank verpflichtet. Sie sind ein Himmelsbote, ein Bodhisattva für die Menschheit. Sie haben jetzt Ihre Mission auf der Erde erfüllt und kehren friedlich zurück. Sie sind sicherlich mit Ihrem Werk zufrieden.

Ich selbst habe leider nicht das Glück, in Ihrer Nähe zu sein, Sie aber schon öfter bei den Feiern in Troisdorf oder Hamburg gesehen. Sie waren immer sehr menschennah, sehr einfach; einfach und sanft wie ein Drachen, der an einem lauen Nachmittag in der Luft segelt.

Im Alter von 77 haben Sie diese Welt verlassen, um dorthin zu gehen, wo Sie schon immer hin wollten. Wir wünschen Ihnen Frieden und Freude in diesem ewigen Ort.

 

 

 

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn

Ins Deutsche übersetzt: JB Lê Văn Hồng

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
04/09/201614:52
Khách
Kinh goi Tang Thu Phat Hoc

Bach Ngoc xin goi tang TTPH bai tho " Sống đừng "
Sống nay chẵng biết ngày mai
Ngay mai chưa đến hôm nay chúng mình
Sống sao có nghỉa có tình
Sống đừng trà điếm tửu đình ăn chơi
Sống đừng luyến ái lệ rơi
Sống đừng tham vọng cơ ngơi ham giàu
Sống đừng loè loẹt muôn màu
Sống đừng trau chuốc tự hào ta đây
Sống đừng ăn uống mập thây
Sống đừng làm biếng phây phây không làm
Sống đừng ăn nói tầm xàm
Sống đừng không việc chán nhàm tha phương
Sống đừng bận rộn yêu đương
Sống đừng phách lối khoe trương tham tiền
Sống đừng đau khổ ưu phiền
Sống đừng cờ bạc máu ghiền đam mê
Sống đừng săn sứa khen chê
Sống đừng dụ ngọt tỉ tê gạt người
Sống đừng ai khóc mình cười
Sống đừng ai một mình mười mới vui
Sống đừng íck kỷ mình tui
Sống đừng mê muội tối thui không đèn
Sống đừng nhu nhược yếu hèn
Sống đừng nghe họ thổi kèn đi theo
Sống đừng đần độn như heo
Sống đừng mang tiếng cừa keo từng đồng
Sống đừng phản bội với chồng
Sống đừng bỏ vợ khi hồng tàn phai
Sống đừng bồ bịch gái trai
Sống đừng vợ một vợ hai khổ đời
Sống đừng toan tính ham lời
Sống đừng khi khổ than Trời kêu la
Sống đừng chỉ biết có ta
Sống đừng theo quỷ theo ma cầu hồn
Sống đừng nghe những tin đồn
Sống đừng tâm cứ bồn chồn chẵng an
Sống đừng nói ngược nói ngang
Sống đừng thấy việc gian nan bỏ về
Sống đừng ham đánh số đề
Sống đừng văng tuc chưởi thề giết nhau
Sống đừng kêu gọi mầy tao
Sống đừng có tánh tự cao khinh người
Sống sao mang đến nụ cười
Sống đời hửu ích giúp người an vui
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn