Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ðạo Phật và Khoa Học

07/05/201408:07(Xem: 7063)
Ðạo Phật và Khoa Học

 Buddha_14

 


Thời đại của chúng ta là thời đại khoa học, văn minh của nhân loại đã tiến bộ vượt bậc. Nền khoa học tiên tiến phát triển với tốc độ vũ bão tại các nước văn minh. Khoa học phát triển đã chứng minh được những điều Phật dạy. Nếu chúng ta đến với đạo Phật thuần túy bằng đức tin thì chỉ là bước đầu, bởi vì bản chất của đạo Phật là giác ngộ. Giác ngộ của đức Phật dưới cội bồ đề đã khai sinh ra Đạo giác ngộ, nên Phật tử càng không phải là người mê tối. Sau 49 ngày thiền định, Ngài hoát nhiên đại ngộ và tuyên bố: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong”. Ngài đã giác ngộ, sống tự tại và vô nhiễm giữa cuộc đời. Ngài đã đem ánh sáng giác ngộ đến với muôn loài. Ánh sáng giác ngộ của đức Phật đã soi rọi nhân thế và chỉ đường cho chúng sanh đi. Chưa bao giờ đạo Phật dùng giáo quyền để bắt buộc tín đồ theo tôn giáo mình. Đạo Phật không phải là tôn giáo thần quyền. Đạo Phật nghiễm nhiên tồn tại không phải xây dựng từ đức tin thuần túy mà bằng trí tuệ, bằng sự giác ngộ. Giáo lý nhà Phật có công năng tháo gỡ tất cả mọi vướng mắc, vướng nhiễm của chúng ta trong cuộc đời. Nền khoa học tiên tiến của thế giới hiện đại đã soi rọi vào lẽ thật của các pháp. Nếu đem ánh sáng khoa học soi rọi thì dễ dàng nhận biết tính minh triết của đạo Phật. Khi nghe và hiểu đạo lý vô thường, duyên sinh, vô ngã, như huyễn, như mộng thì mới thấy rằng thế giới này là thế giới ảo và đời như một giấc chiêm bao.

Mỗi người sinh ra trong cuộc đời này đều mong muốn bản thân mình được hạnh phúc. Mỗi người đều cần hạnh phúc, có người mưu cầu danh lợi, muốn mình có được địa vị trong xã hội, trong khi người khác chỉ ước muốn giản đơn là có cơm ăn áo mặc, đời sống lành mạnh, tự do. Có người cho rằng chỉ cần có đạo đức, hiểu được lẽ thật của nhân sinh vũ trụ, bước ra khỏi nhiễm nhơ của trần thế, sống xuất thế gian thì đó mới là hạnh phúc của đời họ. Như vậy phải chăng nhân loại đang cố công đi tìm hạnh phúc. Cho đến các nhà tư tưởng, triết học, khoa học cũng có lý tưởng hạnh phúc của riêng họ. Có người chỉ muốn theo đuổi tri thức để nghiên cứu và khám phá một trong các ngành như: Toán học, khoa học máy tính, vật lý, hóa học, thiên văn học, công nghệ sinh học, y dược học... Trong khi người khác chỉ ham muốn theo đuổi mục đích làm nghệ thuật như: họa sĩ, thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, diễn viên... Rõ ràng ai ai cũng muốn có hạnh phúc để được một đời sống trong lặng, bình an, lành mạnh, tự do nhưng mấy ai tìm được hạnh phúc chân thật vững bền. Cho nên người Phật tử đến chùa tu tập cần được giác ngộ giải thoát, đó mới chính là hạnh phúc cứu cánh, vì có tu tập mới thấy được đạo lý, rồi khi ánh sáng giác ngộ bùng lên sẽ không còn mê lầm và ngu tối, thoát khỏi ràng buộc thế gian, từ đó sống cuộc đời thong dong và tự tại trong thế giới siêu nhiên.

 Phân tích mọi khía cạnh giữa đạo Phật và khoa học, có thể nói: Khoa học ngày nay đã đi sâu vào nghiên cứu thực nghiệm, ưu điểm của khoa học là khám phá ra thế giới tự nhiên rồi chế tạo ra các ngành công kĩ nghệ, sản xuất mọi tiện nghi cung ứng cho đời sống con người bằng cách chế tạo máy móc hoặc dụng cụ tối tân giúp con người đỡ mệt nhọc trong lao động, rút ngắn được thời gian làm việc, đi lại dễ dàng và nhanh chóng hơn bằng những phương tiện giao thông hiện đại. Con người dù ở cách xa nhau hàng ngàn, hàng vạn cây số vẫn có thể liên lạc được với nhau bằng các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng mặt trái của khoa học đã đem đến cho con người những căng thẳng lo âu hoặc khủng hoảng tinh thần. Chiến tranh hạt nhân đã tố cáo nền khoa học tiên tiến nước Mỹ gây ra thảm họa khủng khiếp về việc ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki làm cướp đi mạng sống của gần nửa triệu người dân Nhật Bản, thêm gần 100.000 người bị chết do nhiễm phóng xạ nguyên tử.

Nhiều người bị stress, căng thẳng thần kinh, tâm lý trầm cảm trong khi cuộc sống của họ kếch sù về tài chánh. Nền văn minh nhân loại đang trên đà phát triển rực rỡ khi khoa học phục vụ đầy đủ mọi tiện nghi cuộc sống và đưa con người đến đỉnh điểm ngút cao của sự hưởng thụ, nhưng liệu có còn nuôi dưỡng phiền não hoặc đã buông hết nghiệp chướng chưa? Hiện tượng tan băng Bắc Cực cũng là hậu quả của nền khoa học tiên tiến, các ngành công nghiệp nhả khói, xả khí thải ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Hiện nay bầu không khí không còn trong lành như trước đây nữa, nguồn nước và mặt đất cũng không còn trong sạch, rau quả bị xịt thuốc trừ sâu, bón phân hóa học. Khoa học đã xây dựng những nhà máy vĩ đại thải khói bụi và chất ô nhiễm vào không khí làm ô nhiễm bầu trời, nguồn nước, mặt đất và phá hoại môi sinh. Khoa học không ngăn chặn được tham-sân-si, phiền não, vô minh mà chỉ nuôi dưỡng tấm thân tạm bợ mong manh vô thường nay còn mai mất, đủ duyên thì có mặt và hết duyên thì tan biến.

 Điểm sáng của đạo Phật là xoa dịu nỗi đau nơi con người, giữa cá nhân với tập thể, giữa đoàn thể với đoàn thể , giữa xã hội với xã hội, giữa sắc tộc với quốc gia để tất cả cùng tìm thấy hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Tiếng nói của đạo Phật đã trở thành tiếng nói của thế giới nên đạo Phật là tôn giáo văn hóa của thế giới. Các khoa học gia và nhà nghiên cứu đã nhìn thấy được tính minh triết của đạo Phật. Còn chúng ta có phước được làm đệ tử Phật, có duyên được gặp Phật. Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề rồi tuyên bố Ngài thành Phật, dịch ra là giác ngộ chân lý nhân sinh vũ trụ. Đấng giáo chủ của chúng ta là một bậc Giác ngộ chứ không phải là đấng thần linh. Ngài đi tìm đạo, sau đó tu tập thiền định 49 ngày đêm rồi khi ánh sáng giác ngộ bùng lên, bước ra khỏi đoạn trường vô minh tăm tối, giải thoát khỏi mọi tập khí phiền não. Ngài là Đấng Giác ngộ, giải thoát, là bậc Thầy dẫn đường, bậc Vô thượng Y vương điều trị bệnh phiền não, tham-sân-si cho chúng sanh, nên suốt cuộc đời của đức Phật chỉ nói đến khổ và phương pháp diệt khổ. Ngài đi du hóa suốt 49 năm, truyền thông điệp của đạo giác ngộ và khai sinh ra đạo Phật nên đạo Phật là đạo giác ngộ. Chúng ta quy y Phật là trở về với sự giác ngộ, quy y Pháp là ngọn đuốc soi đường, quy y Tăng là trở về với bổn tâm thanh tịnh và cuộc sống hòa hợp. Đó gọi là quy y Tam bảo, là trở về với ba ngôi báu mà ba ngôi báu này quý hơn tiền bạc, của cải, tài sản trên thế gian. Giáo pháp của Đức Phật đã nuôi dưỡng thân huệ mạng của chúng ta, làm cho chân trí nảy nở và càng lúc càng tỏ rạng. Nhờ đó chúng ta càng thấm dần đạo lý từ bi cứu khổ, vô ngã vị tha và tìm đến ánh sáng giác ngộ. Đạo Phật khuyên con người sống từ bi bác ái, khuyến khích con người tu thập thiện, thọ bát quan trai, giữ giới, thiền định, đem lại nhiều lợi ích cho cuộc đời. Các thiện hữu tri thức hoặc vị minh sư tu đúng đường, đúng hướng, gặp được chánh pháp nên không bao giờ có hệ lụy; còn nếu gặp tà sư hoặc vướng vào ngoại đạo tà giáo thì sẽ sai lầm. Riêng người phật tử cần giữ năm giới cấm, không nói không làm những việc không tốt cho bản thân và xã hội thì mới tránh được quả xấu về sau.

“Ai ơi! hãy ở cho lành

Kiếp này chẳng hưởng để dành kiếp sau.”

Đây là lời nhắc nhở tràn trề đạo lý của tổ tiên ngàn xưa, khuyên chúng ta hãy ăn ở nhân hậu. Ông bà, cha mẹ sống đạo đức gương mẫu, nhân cách hiền lương phúc hậu cho dù hiện đời chưa được hưởng thì cũng tích lũy được công đức lành để đời về sau sẽ được nhận hoặc truyền lại cho con cháu chứ không bao giờ mất. Chúng ta biết cách tu thì hướng về đạo lý giác ngộ giải thoát, thấy được chân lý của vũ trụ nhân sinh không còn mờ tối si mê, không nhiễm ngũ dục lục trần và sống cuộc đời tự tại, an nhiên.

 Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tánh.” Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mà Phật tánh là mầm mống giác ngộ nhưng do si mê mà quên mất, nếu có giác ngộ thì mới dứt bỏ khổ đau cuộc đời. Đạo Phật dạy cho chúng ta biết cách tiêu trừ tham sân si phiền não, vĩnh viễn ra khỏi biển khổ trầm luân sinh tử để được an vui giải thoát mãi mãi. Đạo Phật hướng dẫn những phương pháp tu tập như: niệm Phật, theo dõi hơi thở, tu tập theo lộ trình giới định tuệ. Tính minh triết của đạo Phật chinh phục thế giới, đó là đạo lý nhân quả, nghiệp báo luân hồi, vô thường, duyên sinh, vô ngã, tánh không, bất nhị, như huyễn, như mộng. Đạo Phật là khoa học tâm linh với những pháp Phật nhiệm mầu, diệt tận gốc khổ đau cho chúng sanh, hướng về con người chân thật bất sanh bất diệt, đó là Phật tánh, chơn tâm, bản lai diện mục. Kinh điển giáo lý nhà Phật nuôi dưỡng thân huệ mạng chúng ta, nuôi dưỡng trí tuệ ngày càng nảy nở thì con người càng bớt khổ, bớt mê lầm trở về với con người chân thật chưa từng sanh diệt. Đó là Phật tánh sẵn có nơi mỗi chúng sanh.

 Nhà Thiền chủ trương: “ Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” chính là để soi sáng hay xem xét lại chính mình. Người tu Phật muốn đi tới chỗ an định, trí huệ sáng suốt thì phải quán chiếu nơi chính mình. Có trí tuệ mới giải thoát được khổ đau, thấy được chân lý rồi mới dừng bước phiêu lưu.

 

 

Lục Tổ Huệ Năng nói:

 “Bản lai vô nhứt vật,

 Hà xứ nhạ trần ai.”

 Xưa nay không một vật,

 Chỗ nào dính bụi nhơ.

Nếu tâm là vật có hình có tướng thì mới dính bụi và bị mờ tối, nhưng tâm chân thật thì không có hình tướng nên không hề bị nhơ nhiễm. Giống như hư không vô tướng nên rất tự tại. Chơn tâm Phật tánh nơi mỗi con người chúng ta cũng giống như hư không. Trở về với con người chân thật, không đi cũng không đến, không tới cũng không lui vì bản tâm bản tánh của chúng ta cũng tự tại như hư không. Nếu chúng ta tu theo đạo Phật là chúng ta tìm đến vĩnh cửu. Vì thế, con người cần giữ giới thì mới đạt được thiền định, khi nội tâm thiền định thì dễ thấy được đạo lý, dễ khám phá ra chân lý, chấm dứt được mầm mống khổ đau. Chúng ta đem lời Phật dạy áp dụng vào bản thân thì mới hết khổ và mới thấy được giá trị thực tiễn của Đạo Phật đối với chúnh sanh vạn loại.

Nhân mùa khánh đản năm nay, nêu ra vài điểm sáng nơi Đức Phật và giáo pháp của Ngài để người phật tử chúng ta thêm niềm kính tín ngôi Tam Bảo, làm hành trang tiến tu cho đến ngày viên mãn đạo quả Bồ đề.

 

 Thiền Tự Trúc Lâm Viên Giác

 Mùa Khánh Đản – PL. 2558

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/07/2022(Xem: 3511)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 3500)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
01/02/2022(Xem: 21080)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)
01/02/2022(Xem: 15418)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
17/11/2021(Xem: 10213)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 8538)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 5992)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 6959)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 6561)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 9280)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,439,167