Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ðạo Phật và Khoa Học

07/05/201408:07(Xem: 3145)
Ðạo Phật và Khoa Học

 Buddha_14

 


Thời đại của chúng ta là thời đại khoa học, văn minh của nhân loại đã tiến bộ vượt bậc. Nền khoa học tiên tiến phát triển với tốc độ vũ bão tại các nước văn minh. Khoa học phát triển đã chứng minh được những điều Phật dạy. Nếu chúng ta đến với đạo Phật thuần túy bằng đức tin thì chỉ là bước đầu, bởi vì bản chất của đạo Phật là giác ngộ. Giác ngộ của đức Phật dưới cội bồ đề đã khai sinh ra Đạo giác ngộ, nên Phật tử càng không phải là người mê tối. Sau 49 ngày thiền định, Ngài hoát nhiên đại ngộ và tuyên bố: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong”. Ngài đã giác ngộ, sống tự tại và vô nhiễm giữa cuộc đời. Ngài đã đem ánh sáng giác ngộ đến với muôn loài. Ánh sáng giác ngộ của đức Phật đã soi rọi nhân thế và chỉ đường cho chúng sanh đi. Chưa bao giờ đạo Phật dùng giáo quyền để bắt buộc tín đồ theo tôn giáo mình. Đạo Phật không phải là tôn giáo thần quyền. Đạo Phật nghiễm nhiên tồn tại không phải xây dựng từ đức tin thuần túy mà bằng trí tuệ, bằng sự giác ngộ. Giáo lý nhà Phật có công năng tháo gỡ tất cả mọi vướng mắc, vướng nhiễm của chúng ta trong cuộc đời. Nền khoa học tiên tiến của thế giới hiện đại đã soi rọi vào lẽ thật của các pháp. Nếu đem ánh sáng khoa học soi rọi thì dễ dàng nhận biết tính minh triết của đạo Phật. Khi nghe và hiểu đạo lý vô thường, duyên sinh, vô ngã, như huyễn, như mộng thì mới thấy rằng thế giới này là thế giới ảo và đời như một giấc chiêm bao.

Mỗi người sinh ra trong cuộc đời này đều mong muốn bản thân mình được hạnh phúc. Mỗi người đều cần hạnh phúc, có người mưu cầu danh lợi, muốn mình có được địa vị trong xã hội, trong khi người khác chỉ ước muốn giản đơn là có cơm ăn áo mặc, đời sống lành mạnh, tự do. Có người cho rằng chỉ cần có đạo đức, hiểu được lẽ thật của nhân sinh vũ trụ, bước ra khỏi nhiễm nhơ của trần thế, sống xuất thế gian thì đó mới là hạnh phúc của đời họ. Như vậy phải chăng nhân loại đang cố công đi tìm hạnh phúc. Cho đến các nhà tư tưởng, triết học, khoa học cũng có lý tưởng hạnh phúc của riêng họ. Có người chỉ muốn theo đuổi tri thức để nghiên cứu và khám phá một trong các ngành như: Toán học, khoa học máy tính, vật lý, hóa học, thiên văn học, công nghệ sinh học, y dược học... Trong khi người khác chỉ ham muốn theo đuổi mục đích làm nghệ thuật như: họa sĩ, thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, diễn viên... Rõ ràng ai ai cũng muốn có hạnh phúc để được một đời sống trong lặng, bình an, lành mạnh, tự do nhưng mấy ai tìm được hạnh phúc chân thật vững bền. Cho nên người Phật tử đến chùa tu tập cần được giác ngộ giải thoát, đó mới chính là hạnh phúc cứu cánh, vì có tu tập mới thấy được đạo lý, rồi khi ánh sáng giác ngộ bùng lên sẽ không còn mê lầm và ngu tối, thoát khỏi ràng buộc thế gian, từ đó sống cuộc đời thong dong và tự tại trong thế giới siêu nhiên.

 Phân tích mọi khía cạnh giữa đạo Phật và khoa học, có thể nói: Khoa học ngày nay đã đi sâu vào nghiên cứu thực nghiệm, ưu điểm của khoa học là khám phá ra thế giới tự nhiên rồi chế tạo ra các ngành công kĩ nghệ, sản xuất mọi tiện nghi cung ứng cho đời sống con người bằng cách chế tạo máy móc hoặc dụng cụ tối tân giúp con người đỡ mệt nhọc trong lao động, rút ngắn được thời gian làm việc, đi lại dễ dàng và nhanh chóng hơn bằng những phương tiện giao thông hiện đại. Con người dù ở cách xa nhau hàng ngàn, hàng vạn cây số vẫn có thể liên lạc được với nhau bằng các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng mặt trái của khoa học đã đem đến cho con người những căng thẳng lo âu hoặc khủng hoảng tinh thần. Chiến tranh hạt nhân đã tố cáo nền khoa học tiên tiến nước Mỹ gây ra thảm họa khủng khiếp về việc ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki làm cướp đi mạng sống của gần nửa triệu người dân Nhật Bản, thêm gần 100.000 người bị chết do nhiễm phóng xạ nguyên tử.

Nhiều người bị stress, căng thẳng thần kinh, tâm lý trầm cảm trong khi cuộc sống của họ kếch sù về tài chánh. Nền văn minh nhân loại đang trên đà phát triển rực rỡ khi khoa học phục vụ đầy đủ mọi tiện nghi cuộc sống và đưa con người đến đỉnh điểm ngút cao của sự hưởng thụ, nhưng liệu có còn nuôi dưỡng phiền não hoặc đã buông hết nghiệp chướng chưa? Hiện tượng tan băng Bắc Cực cũng là hậu quả của nền khoa học tiên tiến, các ngành công nghiệp nhả khói, xả khí thải ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Hiện nay bầu không khí không còn trong lành như trước đây nữa, nguồn nước và mặt đất cũng không còn trong sạch, rau quả bị xịt thuốc trừ sâu, bón phân hóa học. Khoa học đã xây dựng những nhà máy vĩ đại thải khói bụi và chất ô nhiễm vào không khí làm ô nhiễm bầu trời, nguồn nước, mặt đất và phá hoại môi sinh. Khoa học không ngăn chặn được tham-sân-si, phiền não, vô minh mà chỉ nuôi dưỡng tấm thân tạm bợ mong manh vô thường nay còn mai mất, đủ duyên thì có mặt và hết duyên thì tan biến.

 Điểm sáng của đạo Phật là xoa dịu nỗi đau nơi con người, giữa cá nhân với tập thể, giữa đoàn thể với đoàn thể , giữa xã hội với xã hội, giữa sắc tộc với quốc gia để tất cả cùng tìm thấy hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Tiếng nói của đạo Phật đã trở thành tiếng nói của thế giới nên đạo Phật là tôn giáo văn hóa của thế giới. Các khoa học gia và nhà nghiên cứu đã nhìn thấy được tính minh triết của đạo Phật. Còn chúng ta có phước được làm đệ tử Phật, có duyên được gặp Phật. Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề rồi tuyên bố Ngài thành Phật, dịch ra là giác ngộ chân lý nhân sinh vũ trụ. Đấng giáo chủ của chúng ta là một bậc Giác ngộ chứ không phải là đấng thần linh. Ngài đi tìm đạo, sau đó tu tập thiền định 49 ngày đêm rồi khi ánh sáng giác ngộ bùng lên, bước ra khỏi đoạn trường vô minh tăm tối, giải thoát khỏi mọi tập khí phiền não. Ngài là Đấng Giác ngộ, giải thoát, là bậc Thầy dẫn đường, bậc Vô thượng Y vương điều trị bệnh phiền não, tham-sân-si cho chúng sanh, nên suốt cuộc đời của đức Phật chỉ nói đến khổ và phương pháp diệt khổ. Ngài đi du hóa suốt 49 năm, truyền thông điệp của đạo giác ngộ và khai sinh ra đạo Phật nên đạo Phật là đạo giác ngộ. Chúng ta quy y Phật là trở về với sự giác ngộ, quy y Pháp là ngọn đuốc soi đường, quy y Tăng là trở về với bổn tâm thanh tịnh và cuộc sống hòa hợp. Đó gọi là quy y Tam bảo, là trở về với ba ngôi báu mà ba ngôi báu này quý hơn tiền bạc, của cải, tài sản trên thế gian. Giáo pháp của Đức Phật đã nuôi dưỡng thân huệ mạng của chúng ta, làm cho chân trí nảy nở và càng lúc càng tỏ rạng. Nhờ đó chúng ta càng thấm dần đạo lý từ bi cứu khổ, vô ngã vị tha và tìm đến ánh sáng giác ngộ. Đạo Phật khuyên con người sống từ bi bác ái, khuyến khích con người tu thập thiện, thọ bát quan trai, giữ giới, thiền định, đem lại nhiều lợi ích cho cuộc đời. Các thiện hữu tri thức hoặc vị minh sư tu đúng đường, đúng hướng, gặp được chánh pháp nên không bao giờ có hệ lụy; còn nếu gặp tà sư hoặc vướng vào ngoại đạo tà giáo thì sẽ sai lầm. Riêng người phật tử cần giữ năm giới cấm, không nói không làm những việc không tốt cho bản thân và xã hội thì mới tránh được quả xấu về sau.

“Ai ơi! hãy ở cho lành

Kiếp này chẳng hưởng để dành kiếp sau.”

Đây là lời nhắc nhở tràn trề đạo lý của tổ tiên ngàn xưa, khuyên chúng ta hãy ăn ở nhân hậu. Ông bà, cha mẹ sống đạo đức gương mẫu, nhân cách hiền lương phúc hậu cho dù hiện đời chưa được hưởng thì cũng tích lũy được công đức lành để đời về sau sẽ được nhận hoặc truyền lại cho con cháu chứ không bao giờ mất. Chúng ta biết cách tu thì hướng về đạo lý giác ngộ giải thoát, thấy được chân lý của vũ trụ nhân sinh không còn mờ tối si mê, không nhiễm ngũ dục lục trần và sống cuộc đời tự tại, an nhiên.

 Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tánh.” Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mà Phật tánh là mầm mống giác ngộ nhưng do si mê mà quên mất, nếu có giác ngộ thì mới dứt bỏ khổ đau cuộc đời. Đạo Phật dạy cho chúng ta biết cách tiêu trừ tham sân si phiền não, vĩnh viễn ra khỏi biển khổ trầm luân sinh tử để được an vui giải thoát mãi mãi. Đạo Phật hướng dẫn những phương pháp tu tập như: niệm Phật, theo dõi hơi thở, tu tập theo lộ trình giới định tuệ. Tính minh triết của đạo Phật chinh phục thế giới, đó là đạo lý nhân quả, nghiệp báo luân hồi, vô thường, duyên sinh, vô ngã, tánh không, bất nhị, như huyễn, như mộng. Đạo Phật là khoa học tâm linh với những pháp Phật nhiệm mầu, diệt tận gốc khổ đau cho chúng sanh, hướng về con người chân thật bất sanh bất diệt, đó là Phật tánh, chơn tâm, bản lai diện mục. Kinh điển giáo lý nhà Phật nuôi dưỡng thân huệ mạng chúng ta, nuôi dưỡng trí tuệ ngày càng nảy nở thì con người càng bớt khổ, bớt mê lầm trở về với con người chân thật chưa từng sanh diệt. Đó là Phật tánh sẵn có nơi mỗi chúng sanh.

 Nhà Thiền chủ trương: “ Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” chính là để soi sáng hay xem xét lại chính mình. Người tu Phật muốn đi tới chỗ an định, trí huệ sáng suốt thì phải quán chiếu nơi chính mình. Có trí tuệ mới giải thoát được khổ đau, thấy được chân lý rồi mới dừng bước phiêu lưu.

 

 

Lục Tổ Huệ Năng nói:

 “Bản lai vô nhứt vật,

 Hà xứ nhạ trần ai.”

 Xưa nay không một vật,

 Chỗ nào dính bụi nhơ.

Nếu tâm là vật có hình có tướng thì mới dính bụi và bị mờ tối, nhưng tâm chân thật thì không có hình tướng nên không hề bị nhơ nhiễm. Giống như hư không vô tướng nên rất tự tại. Chơn tâm Phật tánh nơi mỗi con người chúng ta cũng giống như hư không. Trở về với con người chân thật, không đi cũng không đến, không tới cũng không lui vì bản tâm bản tánh của chúng ta cũng tự tại như hư không. Nếu chúng ta tu theo đạo Phật là chúng ta tìm đến vĩnh cửu. Vì thế, con người cần giữ giới thì mới đạt được thiền định, khi nội tâm thiền định thì dễ thấy được đạo lý, dễ khám phá ra chân lý, chấm dứt được mầm mống khổ đau. Chúng ta đem lời Phật dạy áp dụng vào bản thân thì mới hết khổ và mới thấy được giá trị thực tiễn của Đạo Phật đối với chúnh sanh vạn loại.

Nhân mùa khánh đản năm nay, nêu ra vài điểm sáng nơi Đức Phật và giáo pháp của Ngài để người phật tử chúng ta thêm niềm kính tín ngôi Tam Bảo, làm hành trang tiến tu cho đến ngày viên mãn đạo quả Bồ đề.

 

 Thiền Tự Trúc Lâm Viên Giác

 Mùa Khánh Đản – PL. 2558

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/06/201813:32(Xem: 887)
CHÁNH PHÁP Số 79, tháng 06.2018 NỘI DUNG SỐ NÀY:  THƯ TÒA SOẠN, trang 2  TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3  THÁNG SÁU EM VỀ HẠ CHỨA CHAN (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 7  CÚNG DƯỜNG CHÁNH PHÁP (Sa môn Thích Tín Nghĩa), trang 8
17/03/201815:48(Xem: 700)
Con người càng ngày càng đông đảo trên thế gian nhưng từ trước đến nay có được bao người giác ngộ, giải thoát khỏi nghiệp chướng, khổ đau? Cho dù, Phật Pháp có đơn giản, dễ dạy đến đâu nhưng khi mà nhân duyên chưa tới với những kẻ độn căn thì cho dù bồ tát có tái sinh, cố tâm chỉ độ pháp Phật cao siêu vi diệu cho nhân sinh còn đầy vô minh cũng chỉ tốn công vô ích, chẳng khác gì đem đàn gảy cho trâu nghe. Một trong những pháp môn đơn giản nhứt của Phật Pháp đó là thiền định (Zen). Zen khả dĩ có thể giúp cho hành giả giảm bớt căn thẳng tâm thần. Nếu luyện tập chuyên cần, Zen có khả năng giúp thân tâm có đủ sức mạnh lẫn nghị lực tinh thần để chuẩn bị đối phó với trở ngại xãy ra. Zen có thể giúp ta hóa giải tâm lý lúc mà đau khổ tái phát làm khổ tâm thân trong cuộc sống thay vì mong tu hành giác ngộ, giải thoát, thành Phật quá xa vời. Cũng như những pháp môn khác, Zen có mục đích giúp ta lúc “đa tâm bấn lo
14/03/201808:41(Xem: 766)
Sài Gòn- Trần Củng Sơn- Sáng ngày Thứ Sáu 9 tháng 3 năm 2018, giáo sư Vũ Thế Ngọc đã trình bày về triết học của Tổ sư Long Thọ tại chùa Xá Lợi Sài Gòn với sự tham dự khoảng một trăm thiện hữu tri thức Phật Giáo. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc- một cây bút nổi tiếng trong nước về những bài viết về tuổi trẻ và Phật Giáo- đại diện Ban tổ chức giới thiệu diễn giả.
13/03/201809:06(Xem: 1186)
Từ lúc sinh ra, tất cả chúng ta muốn sống một đời sống hạnh phúc và đó là quyền của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều người cùng chia sẻ quan điểm rằng hệ thốn giáo dục hiện hữu của chúng ta là không đầy đủ khi đi đến việc chuẩn bị cho con người yêu thương hơn – một trong những điều kiện để hạnh phúc. Như một người anh em nhân loại, tôi nguyện làm cho mọi người biết rằng tất cả chúng ta cùng sở hữu những hạt giống của từ ái và bi mẫn. Có một bộ não thông minh chưa đủ; vì chúng ta cũng cần một trái tim nhiệt tình
03/03/201809:16(Xem: 1601)
CHÁNH PHÁP Số 76, tháng 03.2018 Hình bìa của Google Images NỘI DUNG SỐ NÀY: ¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ VU VƠ, CAFÉ PALOMA (thơ Nguyễn Bá Trạc), trang 8 ¨ NỘI DUNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ ĐIỂM HẸN, MƯỢN TỪ ĐÂU (thơ NT Khánh Minh), trang 12 ¨ CŨNG LẠI LÀ TIM SEN (ĐNT Tín Nghĩa), trang 13 ¨ XUÂN ĐẠO, HƯƠNG XUÂN (thơ Chúc Hiền), trang 15 ¨ THƯ MỜI THAM DỰ LỄ HÚY NHẬT ĐLHT. THÍCH TRÍ CHƠN (TT. Thích Hải Chánh), trang 16 ¨ TÂM THƯ VẬN ĐỘNG MUA CƠ SỞ MỚI LÀM CHÙA BÁT NHà (HT. Thích Nguyên Trí) 17 ¨ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (Tuệ Uyển dịch), trang 18 ¨ MÙA XUÂN & CỎ HOA (thơ Mặc Phương Tử), trang 21 ¨ Ở ĐỜI VUI ĐẠO (Nguyễn Thế Đăng), trang 22 ¨ ĐÊM NGHE CHUÔNG VỌNG (thơ Huệ Trân), trang 23 ¨ MÙA XUÂN, THI CA VÀ THIỀN ĐẠO (Sakya Minh Quang), trang 24 ¨ TA ÚP MẶT (thơ Quách Thoại), trang 27 ¨ FRANCIS STORY (1910 – 1971) (H
03/03/201809:05(Xem: 540)
Có những vần thơ gắn liền với mỗi người từ thuở biết viết, biết đọc cho đến lúc trưởng thành, đi theo suốt cuộc đời, và cũng có thể…cho đến hơi thở cuối cùng. Những vần thơ hay những câu thơ của những thi sĩ nổi danh mà mình đã thuộc nằm lòng, đã ghi nhớ tận đáy sâu của ký ức, và bỗng một lúc nào đó, ở một tình huống nào đó, một nhân duyên nào đó, tự chúng hiện ra một cách tự nhiên trong dòng tư tưởng, sự nghĩ suy, và bộc ra thành lời nói như là của chính mình và đôi lúc, chỉ nhớ đến vần thơ, câu thơ đó mà cũng không hề nhớ đến tác giả là ai nữa ! Các vần thơ, các câu thơ ấy thực sự đã gắn liền với mình, với đời sống mình, đôi lúc còn được xem như là kim chỉ Nam để giúp mình phản ứng, cư xử trước mọi hoàn cảnh, vui hay buồn, tốt hay xấu đang xảy ra.
03/02/201820:02(Xem: 941)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
22/01/201807:04(Xem: 612)
Tôi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng lần đầu tiên vào năm 1972. Chỉ ba ngày sau khi tôi đến Dharamsala ở miền bắc Ấn, ngài đã bắt đầu khóa thuyết giảng 16 ngày, bốn đến sáu tiếng mỗi ngày về những giai đoạn của con đường Giác Ngộ. Tôi đã bắt đầu học Tạng ngữ và thực tập Phật giáo Tây Tạng vào năm 1962, và những vị thầy của tôi, đặc biệt chỉ bảo về những sự phức tạp của các luận điển Tây Tạng, đã chuẩn bị cho tôi việc học hỏi với những học giả du già Tây Tạng tị nạn ở Ấn Độ. Nhưng thật tình mà nói, tôi không nghĩ rằng một vị tái sanh được chỉ định nắm quyền sinh ra ở đông bắc Tây Tạng năm 1935 và được nhìn nhận qua những sự tiên đoán, các giấc mộng, những biến cố cực kỳ phi thường, và các thử nghiệm như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào lúc 2 tuổi – có thể đảm đương nhiệm vụ quan trọng như vậy.
22/01/201806:17(Xem: 886)
Chúng ta biết rằng nhà khoa học Albert Einstein có những quan điểm rất gần với nhà Phật. Nhưng rồi cũng sẽ bất ngờ, khi thấy có lúc Einstein nói y hệt, gần như 100% y hệt như giáo lý nhà Phật. Đặc biệt là khi Einstein viết thư chia buồn một người bạn thân năm 1950... Thí dụ, các pháp là Không. Thí dụ, vạn pháp là thức. Einstein đều nói lên cả hai quan điểm này. Trong Kinh Tiểu Không MN 121, và Kinh Đại Không MN 122, Đức Phật hướng dẫn cách chú tâm từ một nội dung có nhiều dẫn tới nội dung có ít, và từ có ít sẽ bước vào Không để an trú.
08/01/201819:26(Xem: 682)
Phật Giáo là Khoa Học Tâm Linh (Jason Gots, chuyển Việt ngữ: Thích Nữ Đức Trí & Thích Nữ Giới Hương) “Đạo Phật nhấn mạnh sư tu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”. (Thích Nhất Hạnh, Trái Tim Của Bụt) Ý Tưởng lớn là gì? Tôi đã có thể dự đoán những lời phê bình. Khoa học thì nói về kinh nghiệm được thực chứng khách quan. Trong khi đó, Thiền Phật giáo, là nói về bạn, sự trải nghiệm chủ quan của riêng bạn trong tâm trí của chính bạn. Tất cả những điều đó có thể gọi là “chứng nghiệm” cho những tác động tích cực của trạng thái thiền, về khả năng vô tận của tâm thức con người như an lạc, từ bi và định tĩnh, vv…