Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Âm nhạc trong Kinh Phật

30/08/201307:51(Xem: 3416)
Âm nhạc trong Kinh Phật

ÂM NHẠC TRONG KINH PHẬT


Cư Sĩ Nguyên Giác

music-2Bài này được viết để khảo sát về một số đoạn văn trong Kinh Tạng Pali có liên hệ tới âm nhạc, để thấy rằng âm nhạc khi sử dụng như một phương tiện hoằng pháp cũng được Đức Phật tán thán. Đúng là trong luật nhà Phật đã cảnh giới về âm nhạc, đàn hát. Không chỉ với người xuất gia, mà cả với hàng cư sĩ. Thí dụ, Kinh Trường Bộ 31 (DN31) gồm những lời khuyên cho hàng cư sĩ tại gia, có đưa âm nhạc ca múa vào 6 điều nguy hiểm... (Bản Việt dịch của HT Thích Minh Châu: Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt 

Trong những ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng thế, giới tử phải đọc và thọ trì câu: “Như chư Phật suốt đời không ca múa xướng hát và không đi xem nghe, chúng con... xin một ngày một đêm không ca múa xướng hát và không đi xem nghe.” (Bát Quan Trai Giới, HT Thích Trí Thủ ). Những cảnh giới về đàn ca múa hát như thế có thể thấy trong cả Nam Tông, Bắc Tông và Kim Cang Thừa (Phật Giáo Tây Tạng). Đơn giản vì âm nhạc dễ làm say đắm và phóng tâm.

Nếu tâm không định tĩnh, tất nhiên không tu thiền được, tất nhiên không thể đắc trí huệ, và do vậy không thể giải thoát. Cũng y hệt như các bậc ba mẹ thời nay thường khuyên học trò đừng xem truyền hình nhiều quá, cần để thì giờ học thi, luyện thi, không thì sẽ rớt. Thời nay thi rớt là những cơ hội tốt trong việc làm sẽ khó tìm. Nhưng vẫn không có bậc ba mẹ nào cắt đứt dây TV, vì cũng không phủ nhận được vai trò cần thiết của TV trong đời sống, và có khi sử dụng như một phương tiện giáo dục.

Đức Phật đưa ra các giới luật và lời khuyên là vì lòng từ bi, vì người tu hễ thi rớt là sẽ trôi lăn trong vòng sinh tử, khó có cơ hội tìm thoát. Trong đó, những hiểm nguy rình rập là nằm ngay ở các căn tiếp cận với đàn ca múa hát, và hạn chế là để ưu tiên điều tâm. Nhưng tận cùng, Đức Phật dạy điều cốt tủy, chỉ là giữ tâm cho an tĩnh để đạt trí tuệ giải thoát, để ly tham, ly sân, ly si. Nhưng một điều cần thấy, Đức Phật bản thân cũng là một nghệ sĩ tuyệt vời. Ngài sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời. Để giải thích những điều khó nghĩ bàn, để dạy những giáo lý vi diệu, thường xuyên đọc những bài kệ (hay bài thơ tóm lược) bất khả tư nghì, và nhiều ngàn năm sau ngôn ngữ của Ngài, dù được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, vẫn mang sức mạnh của trí tuệ sâu thẳm.

Do vậy, chúng ta có thể tin rằng, với tâm hồn nhạy cảm và trí tuệ vi diệu, Đức Phật không thực sự cứng nhắc xem âm nhạc như một trở ngại, mà có khi còn là một phương tiện hoẳng pháp. Vì nói cho cùng, khi đọc Kinh Phật, chúng ta nhiều chỗ thấy nhạc trời được trình tấu để cúng dường, để tán thán công đức... Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, chư Thiên đã tới tụ hội, tấu nhạc, hương hoa cúng dường. Nếu Đức Phật xem âm nhạc là trở lực, tất nhiên các kinh sẽ không muốn ghi lại các chi tiết đó. Nhưng ai là người chép lại kinh điển? Thí dụ, nói rằng 500 vị a la hán tụ hội để ghi lại Kinh Phật, nhưng có lẽ quyết định ghi vào hay bỏ ra những sự kiện có khi chỉ là ý riêng của vài vị đaị tăng chủ tọa, như ý Ngài Ca Diếp hay Ngài A Nan. 

Cũng như trong các chùa ngày nay, cho dù đông cả trăm vị tăng, nhưng mọi chuyện có khi chỉ là chủ ý riêng của ngài Trụ Trì. Một thực tế của đời này cần thấy:không có âm nhạc, sẽ không hoằng pháp thuận lợi. Bởi vì phương tiện hoằng pháp thời nay phần lớn là truyền hình, là phát thanh, là trang web, là các lễ hội đông người... không có ca nhạc múa hát là bất lợi vô cùng. Có thể thấy, một ca khúc nếu gây được ý thức nơi người nghe về tính vô thường của vạn pháp chắc chắn có khi nằm sâu trong tiềm thức người nghe hơn các bài thuyết pháp đầy lý luận.

Trong một cơ duyên hầu chuyện Đại Đức Thích Đăng Châu (nguyên là nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo khi chưa xuất gia), tôi có hỏi rằng tại sao Thầy không sáng tác nhạc nữa. Thầy nói rằng Thầy thuộc dòng thiền Trúc Lâm (hệ thống của Thiền Sư Thích Thanh Từ) bảo thôi thì thôi. Tôi im lặng, không dám nói gì khác. Trong một cơ duyên khác, được biết nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát trong nỗ lực thành lập Ca Đoàn Hương Thiền đang tuyển nhân sự, sáng tác, tập luyện hàng tuần ở Chùa Liên Hoa để hỗ trợ cho việc hoằng pháp ở hải ngoại, tôi đã hoan hỉ hết lời ca ngợi và tin rằng có thể đây sẽ là một phương tiện để dậy lên một phong trào tu học mới. Có những lý do để tin rằng nghệ thuật có thể hỗ trợ cho việc hoằng pháp.

Tôi có một bà dì, nghĩa là em của mẹ. Dì làm công quả hàng tuần dưới bếp một ngôi chùa ở Santa Ana. Mỗi ngày dì tụng hai thời kinh sáng tối, và nghĩ như thế là đủ. Có khi, tôi nói dịu dàng với dì rằng như thế là chưa đủ, vì ai cũng phải tu nhiều kiếp, mà phải tu ngày đêm không để dính một niệm tham sân si nào mới được, cứ phải nhìn tâm như mèo rình chuột; những lúc như thế, dì lại kể về những chuyện dưới bếp các chùa Quận Cam, và rồi nhắc tới các chùa ngày xưa ở Việt Nam. Dì đang sống trong căn chung cư người già của chính phủ Mỹ, đời sống tạm ổn. Vấn đề là, dì kể rằng, hễ rãnh rang là dì bật máy truyền hình lên, xem phim bộ Hàn Quốc. Đó cũng là một trái nghịch của nghiệp lực khác nhau. Trong khi tôi bật máy TV, là xem đàì CNN để theo dõi tin tức vì nghiệp của mình là quan sát những chuyển biến lớn của thế giới, của Hoa Kỳ... thì dì tôi chỉ xem phim bộ. Mỗi lần dì bảo tôi chở ra phố Bolsa thuê phim về, là lấy một lúc hai chục, hay ba chục băng đĩa để khỏi mất công ra nhiều lần.

Các phim bộ Hàn Quốc tất nhiên là nhạc hay, tài tử đẹp, cảnh thơ mộng, chuyện tình đẫm lệ và ngang trái. Như thế, mắt nhìn say sưa, tai nghe êm dịu, phê biết mấy... Tôi nghĩ, xem phim bộ miệt mài thì làm sao giải thoát được, nhiều phần là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đó cũng sẽ kéo mình về lại cõi trần gian này. Tôi vẫn luôn luôn lo sợ rằng, có lúc nào trong khi dì đang say sưa xem phim và đột ngột đứng tim ra đi; có thể ngay khi đó, dì sẽ phải tái sanh về thành phố Seoul hay về một ngôi làng tuyết phủ ở Nam Hàn để xem tiếp các bộ phim nhiều tập bằng ngôn ngữ gốc, khỏi qua chuyển ngữ. Những lúc đó, tôi cũng suy nghĩ, phải chi có những bộ phim nào về Phật Pháp hay hơn phim bộ Hàn Quốc... 

Nhu cầu sử dụng nghệ thuật để tiếp cận hoằng pháp đã được quan tâm từ nhiều thế kỷ rồi. Thí dụ, phương tiện của thơ, của nhạc, của kịch, của cải lương, của phim... Thơ thì xưa nhất là có Kinh Pháp Cú, rồi những vần Kệ Trưởng Lão; nghĩa là sử dụng nghệ thuật ngôn ngữ. Nhiều thế kỷ sau, có ngài Milarepa của Phật Giáo Tây Tạng đã soạn những vần thơ và ca khúc để hát; tiếc là thời này chưa có ký âm pháp để ghi lại các điệu nhạc do ngài hát cho dân làng. Về hội họa từ xưa đã có tượng Đức Phật, có tranh vẽ trên các vách đá, có mười tấm tranh chăn trâu của lộ trình Thập Mục Ngưu Đồ, và nhiều nữa. Nhu cầu hoằng pháp ngày cảng khẩn thiết, dù chúng đang sống ở trong hay ngoài nước. Đặc biệt là trong thời Internet, khi các tôn giáo khác vào VN với phương tiện tiếp cận hùng hậu. Bạn có thể vào mạng Yahoo Việt Nam, một nơi đông người vào nhất tại VN, sẽ thấy trong phần Hỏi & Đáp tràn ngập các nhà truyền đạo của các tôn giáo khác.

Trong một vài lần thăm Sư Tinh Cần và Sư Huệ Tấn, hai vị sư Nam Tông mà tôi có cơ duyên thân cận tại Garden Grove, tôi phân tích rằng các tôn giáo khác đều chiêu mời tín đồ bằng thọ lạc. Nghĩa là, khi đi nhà thờ thì phụ nữ mặc áo đẹp, màu rực rỡ, trang điểm cẩn trọng, nam giới trang phục chỉnh tề; dàn nhạc thánh ca thì tuyệt vời, khi tín đồ cùng hát lên cũng sẽ gợi lên những cảm xúc êm dịu. Trong khi hát thánh ca, có khi họ đứng vói cao lên, và mắt nhìn ngước cao... nếu chúng ta niệm thân thường xuyên, sẽ thấy ngay những tư thế chuyển đổi bằng cách ngước cổ hát, vươn cao tay, nghe tiếng hát và tiếng đàn piano sẽ thấy thọ lạc và nhầm rằng đó là thần khải. Thực ra, họ chỉ cần đi bơi liên tục một tuần lễ, hay đi nghỉ mát nơi một vùng biển vắng chừng vài tuần cũng sẽ thấy thọ lạc... mà không cần cầu nguyện gì với ai.

Có một điểm để giản trạch rằng: tác phẩm nghệ thuật nào có thể giúp hoằng pháp, và tác phẩm nghệ thuật nào bất lợi cho việc hoắng pháp? Cách đầu tiên có thể dựa vào để giản trạch, rằng tác phẩm nào nêu lên được ý nghĩa tánh Không, tánh vô ngã, tánh vô thường của vạn pháp đều là phương tiện cần thiết để hoằng pháp. Đức Phật có lần cảnh giác, rằng giáo lý cao diệu về Tánh Không của Đức Phật sẽ tới một thời bị ngay cả các nhà sư bỏ rơi để chạy theo các tác phẩm nghệ thuật êm tai, chải chuốt.

Kinh “Ani Sutta: Chúng ta có thể dịch như sau:

"...Trong thời tương lai, sẽ có những vị sư, họ sẽ không lắng nghe khi bài tuyên thuyết là lời Như Lai -- những ý thâm sâu, vi diệu, thắng nghĩa, nối kết với tánh không -- đang được đọc lên. Họ sẽ không để tai vào, không để tâm vào tìm biết, sẽ không xem các giáo lý này là đáng nắm giữ hay rèn luyện cho vững. Nhưng họ sẽ lắng nghe khi nghe đọc lên các tác phẩm nghệ thuật -- tác phẩm của các nhà thơ, âm thanh dịu dàng, ngôn từ chải chuốt, tác phẩm của kẻ ngoại giáo, lời của các học trò. Họ sẽ để tai nghe và sẽ để tâm tìm biết chúng. Họ sẽ xem những lời dạy đó như là đáng nắm giữ & rèn luyện cho vững. 

"Trong cách như thế, là sắp tới thời biến mất các lời dạy của Như Lai -- những ý thâm sâu, vi diệu, thắng nghĩa, nối kết với tánh không.

"Như thế, con nên tự tu tập thế này: 'Chúng ta sẽ lắng nghe khi được tuyên thuyết là lời của Như Lai -- những ý thâm sâu, vi diệu, thắng nghĩa, nối kết với tánh không. Chúng ta sẽ để tai nghe, sẽ để tâm tìm biết, sẽ xem những lời dạy đó như là đáng nắm giữ & rèn luyện cho vững.' Đó là cách con nên tự tu tập như thế." (hết dịch)

(Bản Việt dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu là Kinh Cái Chốt Trống) 

Như thế, một chìa khóa để giản trạch nghệ thuật nào hoằng pháp được là dựa vào thắng nghĩa vi diệu, tức là dựa vào diệu nghĩa của vô thường, vô ngã, tánh không... Ngắn gọn, nếu tác phẩm nghệ thuật nào có xuất sắc, mà không chỉ ra được tánh không trong các pháp, không nói được ‘connected with emptiness’ là hỏng. Có bao nhiêu ca khúc như thế? Mới biết là khó. Có một lần Đức Phật cũng chỉ ra cách khác để giản trạch nghệ thuật. Trong Tương Ưng Bộ, SN 42.2, bản Kinh “Talaputa Sutta: To Talaputa the Actor,” bản Anh dịch của ngài Thanissaro Bhikkhu.

Nơi đây, chúng ta dựa vào bản này để dịch ra tiếng Việt như sau: Một hôm, Đức Phật đang ở gần Rajagaha, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Rồi thì, Talaputa, Trưởng một đoàn vũ ca kịch, tới gặp Đức Phật, quỳ lạy, ngồi sang một bên. Vị này nói với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, con nghe từ nhiều đời nghệ sĩ truyền nhau rằng ‘Khi một nghệ sĩ trêns ân khấu, trong khi dự một lễ hội, làm mọi người cười vui hạnh phúc bằng cách bắt chước như thực, rồi khi thân hoại mạng chung, nghệ sĩ này sẽ tái sinh lên cõi các vị trời ưa cười.’ Thế Tôn nói thế nào về điều này?”

“Thôi đủ rồi, Trưởng đoàn ca vũ kịch, dẹp chuyện đó thôi. Đừng hỏi ta như thế.” Lần thứ nhì... Rồi lần thứ ba... Talaputa, Trưởng đoàn ca vũ kịch, nói y như thế. Đức Phật nói: “Trưởng đoàn ca vũ kịch, hiển nhiên ta không thể để ngươi yên bằng cách nói, ‘Thôi đủ rồi, Trưởng đoàn ca vũ kịch, dẹp chuyện đó thôi. Đừng hỏi ta như thế.’ Do vậy ta sẽ đơn giản trả lời ngươi.

Bất kỳ chúng sinh nào chưa sạch tận lòng tham khi mới vào xem, những người còn bị buộc bởi lòng tham này sẽ tăng thịnh lòng tham vì cách trình diễn gợi lòng tham muốn thực hiện bởi người nghệ sĩ trên sân khấu ở lễ hội.

Bất kỳ chúng sinh nào chưa sạch tận lòng sân khi mới vào xem, những người còn bị buộc bởi lòng sân này sẽ tăng thịnh lòng sân vì cách trình diễn gợi lòng sân thực hiện bởi người nghệ sĩ trên sân khấu ở lễ hội.

Bất kỳ chúng sinh nào chưa sạch tận lòng si khi mới vào xem, những người còn bị buộc bởi lòng si này sẽ tăng thịnh lòng si vì cách trình diễn gợi lòng si thực hiện bởi người nghệ sĩ trên sân khấu ở lễ hội.

Do vậy người nghệ sĩ -- bản thân đã say sưa và phóng dật, lại làm cho người khác say sưa và phóng dật – khi thân hoại mạng chung sẽ tái sanh vào nơi gọi là địa ngục của tiếng cười. Nhưng nếu nghệ sĩ đó chấp rằng, ‘Khi một nghệ sĩ trên sân khấu, giữa mùa lễ hội, làm khán giả cười và hạnh phúc với cách bắt chước theo thực tại, rồi khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sanh vào cõi các vị cõi trời ưa cười,’ thì là quan điểm sai lầm. Bây giờ có 2 nơi cho người có tà kiến đó, ta nói ngươi biết: hoặc là vào địa ngục, hoặc là vào cõi súc sanh.” (Hết trích dịch)

Chúng ta có thể nào bước vào lời dạy này của Đức Phật một cách đơn giản hay không? Tôi tin rằng rất nhiều Phật Tử đã từng có những khoảnh khắc bước vào nhưng không kịp nhận ra. Bởi vì, nếu cứ nghĩ rằng mình phảỉ niệm thế này, phảỉ niệm thế kia, phải giữ chánh niệm này, phải gìn chánh niệm kia, có khi sẽ để vuột mất lời dạy vô niệm này của Đức Phật.Cách đơn giản, thí dụ, hãy chú tâm vào tiếng chim kêu buổi sáng ngoàì vườn, hay tiếng dế kêu ban khuya ngoàì sân. Hãy lặng lẽ chú tâm nghe, đừng khởi một niệm nào hết, cũng đừng nghĩ rằng cần phải vô niệm... hãy chỉ chú tâm lắng nghe thôi, rồi sẽ có lúc bạn thấy rằng chỉ có tiếng chim kêu, hay tiếng dế kêu... mà thực sự không thấy có ai đang ngồi nghe. Khi đó, là không có tưởng và không có sự phân biệt đối tượng hóa. Đó là vô ngã, đó thực sự là vô niệm. Không phảỉ dễ, nhưng sẽ có nhiều người tập được. Đó là loại an tĩnh vắng bặt các niệm và vắng bặt các lượng định đánh giá của tâm. Đó cũng là khi nhà sư Hương Nghiêm cuốc cỏ, cuốc nhằm viên sỏi, viên sỏi văng vào bụi tre, và ngài hốt nhiên đốn ngộ. Nghe tiếng sỏi, mới thấy thực sự mình vô ngã.

Trở lại chuyện âm nhạc. Như thế, Đức Phật đưa ra một tiêu chuẩn là người nghệ sĩ đã có làm khởi lên tham, khởi lên sân, khởi lên si ở nơi khán giả hay không. Nếu nghệ sĩ làm khởi lên tham, sân, si nơi khán giả, nghệ sĩ đó sẽ rơi vào địa ngục. Tiêu chuẩn nữa là ‘nối kết với tánh Không.’ Thực ra là cực kỳ khó. Bởi vì hầu hết khán giả xem kịch, nghe nhạc... là vì con mắt say mê nhìn ngắm nhan sắc các ca sĩ, là vì lỗ tai say mê du dương theo điệu nhạc quyến rũ. Nghĩa là, tham đắm khởi lên. Thậm chí, xem những phim ảnh hay vở kịch về thân phận đời người... nhất là các phim kiểu như ‘hận đời đen bạc” hay “thù kẻ bạc tình” thế nào tâm sân sẽ khởi dậy, cho dù là dưới màu áo giận kẻ ác, thương người hiền...Lòng tham, lòng sân, lòng si trăm biến vạn hóa. Không tu kiên trì, không dò ra hết nổi.

Nhưng sức mạnh nghệ thuật là điều có thật, nó lôi cuốn thế gian này. Chúng ta đã từng biết nhiều trường hợp Phật Tử say mê giọng tụng kinh của một vị thầy, của một vị ni nào đó. Giọng nói, hay giọng tụng kinh đó thực ra là âm nhạc. Hay là mái tóc nghiêng của một nữ nghệ sĩ, hay cặp mắt thơ mộng của bạn tình năm xưa, hay dáng vai thon của một vị ni cô... cũng có lực kéo chúng ta ở với cõi sinh tử này. Cứ tưởng là thơ mộng, nhưng thực ra là luân hồi, không thoát nổi. Hay như trường hợp, sau khi dự một buổi nhạc hội (thí dụ, Đêm Nhạc Hương Thiền, Đêm Nhạc Trịnh Công Sơn, Đêm Nhạc Lê Uyên Phương...) có khi chúng ta nửa đêm thức giấc, nghe văng vẳng trong tâm tiếng nhạc khởi lên mơ hồ... thì biết là mình tu còn chưa tới nơi tới chốn – vì giả sử, ngay khi đó tim ngưng đập, thế nào cũng sẽ bị dòng nhạc đó lôi kéo về tái sinh cõi này.

Đó là lý do, một lần tôi đã làm bài thơ song ngữ, trích các dòng cuối như sau:

này cô, cô ni nhỏ
xin giữ thật vắng lặng
thật vắng lặng
xin đừng cười
nào ai còn nhớ
tiếng cười cô ni đã làm hồn tôi vỡ
và lem mực những dòng thơ tôi.”

Hy vọng là những lời này sẽ giúp được cho những người hoạt động âm nhạc trong Phật Giáo. Và thực tế, các đoạn Kinh trên cũng là những cách tiếp cận phong phú khi chúng ta bước vào đời, vừa hoằng pháp, vừa tu học.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn