Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phần 1

27/08/201114:10(Xem: 4080)
Phần 1

Kinh Công Đức Các Bổn Nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Lược Giảng

Đời Đường, Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch

Tuyên Hóa Thượng Nhân giảng

Kệ khai kinh

Phật pháp cao siêu rất thẳm sâu,

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.

Con nay nghe thấy chuyên trì tụng,

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

Vì vấn đề sanh tử của chúng sanh chúng ta mà đức Phật Thích Ca xuất hiện tại cõi Ta-bà này. Ngài được sanh ra trong một gia đình vương giả, nhưng Ngài đã từ bỏ sự giàu sang của cả một vương quốc để ra đi lo việc tu hành và chứng thành Phật quả dưới gốc cây Bồ-đề. Sau khi chứng quả Phật, Ngài quán sát các chúng sanh trong thế giới Ta-bà và nhận thấy rằng các chúng sanh tại đây có một nhân duyên sâu đậm với hai vị Phật, đó là đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ở phương Đông và đức A-Di Đà Như Lai ở phương Tây.

Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ở thế giới Lưu Ly nơi phương Đông có thể giúp chúng ta tăng phước tăng thọ, tiêu trừ tai nạn; còn đức A Di Đà Như Lai ở phương Tây thì có thể tiếp dẫn chúng ta mang theo nghiệp mà sanh về thế giới Cực lạc, “hoa nở liền trông thấy Phật, ngộ được pháp Vô sanh nhẫn.”

Trong bài Nhị Phật Chú có câu:

“Nhị Phật diễn hóa tại Ta-bà,

Đông A-súc, Tây Di-đà”.

Hai câu này nghĩa là Phật A-súc, tức Phật Dược Sư, và Phật Di-đà đều giáo hóa chúng sanh tại thế giới Ta-bà. Hai vị Phật, một vị ở phương Đông, một vị ở phương Tây, nhưng cả hai đều có nhân duyên rất sâu đậm với chúng ta nơi cõi Ta-bà, do đó Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật chính là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, còn Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật chính là A-di-đà Như Lai.

Nếu có ai niệm danh hiệu của Đức Phật Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư thì người đó được giải trừ tai nạn, bệnh tật tiêu tan, tội diệt, phước sanh, tâm ý mãn nguyện. Vậy, vị Phật giúp các chúng sanh kéo dài mạng sống chính là Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư.

Còn đức Phật A-di-đà thì sao? Ở đây là vấn đề vãng sanh. Như có ai muốn về thế giới Cực Lạc, thì phải niệm danh hiệu của đức Phật A-di-đà. Nếu quý vị muốn sanh về cõi Lưu Ly, tức là thế giới của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì hãy niệm danh hiệu của Ngài Dược Sư.

Khi còn sống, người ta muốn tiêu trừ tai nạn, kéo dài tuổi thọ; còn khi lâm chung người ta mong về nơi thế giới Cực Lạc. Bởi vậy, trong Phật giáo chúng ta thấy có những tấm bài vị mầu đỏ gọi là bài vị diên thọ, ngụ ý rằng Đức Phật Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư phóng hào quang chiếu sáng ngôi sao bổn mạng của chúng ta. Còn khi vãng sanh, nếu không muốn tái sanh nơi thế giới Lưu Ly mà muốn về cõi Cực Lạc thì người ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Nhân duyên của chúng ta đối với hai vị Phật nói trên quả là rất mật thiết.

Tuy nhiên, chúng ta vốn chưa biết gì về hai vị Phật này, ngay đến cả danh hiệu của các Ngài chúng ta cũng không biết, do đó đức Phật Thích Ca mới giới thiệu cho chúng ta về danh hiệu, bổn nguyện, cùng công đức nguyện lực của các Ngài. Bởi vậy mới có bộ Kinh này, gọi là “Kinh Công Đức Các Bổn Nguyện Của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”.

“Dược Sư Lưu Ly Quang”là tên gọi của đức Phật này; “Như Lai”là một trong mười tôn hiệu của mỗi vị Phật; “Bổn Nguyện”là các lời phát nguyện của đức Phật này khi Ngài phát tâm Bồ-đề, thời gian trước khi thành Phật quả. Lời nguyện phát ra trước khi thành Phật gọi là bổn nguyện.

“Công Đức”gồm có chữ “công”, chỉ những gì được tạo lập ở bên ngoài; chữ “đức” chỉ những gì được tích lũy ở bên trong. Thí dụ, quý vị dựng chùa lập miếu, tu sửa cầu đường, mưu cầu hạnh phúc và lợi ích cho mọi người, như vậy gọi là tạo lập “công.” Còn “đức” là nói về sự tình ở trong tâm, ví dụ như quý vị làm một điều gì mà khi trông lên thì không thẹn với trời, trông xuống không hổ với người, ngoài không dối người, trong không dối mình. Những hành động như vậy ở bên ngoài thì lập nên công, ở bên trong thì tạo thành đức hạnh, đó gọi là “công đức.”

Về đức hạnh chúng ta có câu: “Thiện dục nhân kiến bất thị chân thiện”, nghĩa là phàm làm việc thiện mà lại muốn mọi người trông thấy, thì chẳng phải là chân thiện. Quý vị làm điều thiện, quý vị không cần người ta biết đến, cũng không cần phải quảng cáo với ai, chẳng hạn quý vị không cần phải tuyên bố rằng: “Tôi đã làm việc thiện này, việc thiện kia”; hoặc nói: “Tôi đã thọ Năm giới, thọ Tám giới, thọ rất nhiều giới rồi. Tôi là người đã thọ Bồ-tát giới!” Những điều đó tuy quý vị đã làm nhưng quý vị không nên khoa trương. Đức hạnh thì không ai hay biết, đó mới là đức hạnh. Như muốn mọi người hay biết, thì không phải rồi! Cho nên mới có câu:

Thiện dục nhân kiến,

Bất thị chân thiện.

Ác khủng nhân tri,

Tiện thị đại ác.

Nghĩa là:

Làm thiện muốn người thấy,

Đó chưa là thật thiện.

Làm ác sợ người biết,

Đó mới là đại ác.

Làm việc thiện mà muốn mọi người hay biết thì không phải là đức hạnh. Điều ác mà sợ có người biết thì đó là một tội lỗi lớn. Do đó, đã là người học Phật, chúng ta không thể giống như vậy, không nên tranh hơn tranh thua, chẳng hạn như nói những câu: “Tôi đã làm nên những chuyện này, chuyện kia! Tôi như vậy đó! Tôi bố thí như thế này! Tôi hộ pháp như thế kia!” Có những tư tưởng, hành vi khoa trương tự mãn, thì đó không phải là tư cách của người hộ pháp.

Bởi vậy, nay quý vị học Phật Pháp, nghe giảng kinh, quý vị hãy dụng công ở tại điểm này, chớ không phải là để hư trương danh tiếng, mượn dịp này để quảng cáo cho mình. Điều ta chú trọng là công phu thực sự, còn cái hư danh thì ta không cần biết. Chúng ta là người học Phật thì chính chúng ta phải làm gương, khiến cho mọi người phải kính nể phẩm hạnh của tín đồ Phật giáo! Công đức là ở chỗ đó!

“Kinh”ở đây có nghĩa là kinh thường. Pháp kinh thường nghĩa là pháp không biến đổi. Kinh chính là lời nói của thánh nhân, lời giảng dạy do bậc thánh nói ra, một chữ cũng không thể lược bớt, một chữ cũng không thể thêm vào, ý tứ phong phú. Nói tóm lược thì ý nghĩa của chữ “kinh” không ngoài bốn nghĩa: quán, nhiếp, thường và pháp.

- Quán tức là xâu qua, xuyên qua, ngụ ý rằng ý nghĩa và đạo lý trong lời Phật dạy giống như một xâu chuỗi, tiếp nối nhau, thông suốt từ đầu đến cuối.

- Nhiếp nghĩa là bắt lấy, thâu nhiếp, thích ứng với mọi căn cơ của chúng sanh.

- Thường có nghĩa là không thay đổi, tự cổ chí kim luôn luôn như vậy, có tính vượt thời gian.

- Pháp nghĩa là phép tắc. Chư Phật trong ba đời, quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng như ba đời các chúng sanh, tất cả đều tuân theo khuôn phép đó. Bởi vậy có câu: “Tam thế đồng tuân danh viết pháp”, nghĩa là ba đời cùng tuân theo nên gọi là “pháp.” Tất cả chúng ta cũng phải tuân thủ phép tắc đó.

“Kinh” còn được ví như dây mực của người thợ mộc, có khi mang nghĩa như một dòng suối tuôn. Thật ra, chữ “kinh” còn chứa đựng rất nhiều nghĩa, có điều quý vị chỉ cần nhớ lấy mấy ý chính. “Kinh” là gì? Kinh là kinh thường, là pháp không đổi thay, không cải biến, vĩnh viễn là như vậy. Nay Phật giảng như thế này, trong tương lai Phật cũng giảng như thế, quá khứ Phật cũng đã giảng như vậy. Như trong câu: “Cổ kim chẳng đổi gọi là thường, ba đời đều tuân theo gọi là pháp”. Vậy kinh này, tức “Kinh Công Đức Các Bổn Nguyện Của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”, nếu giải thích một cách đơn giản là như thế.

Nay giảng các chữ trong đề kinh. “Dược”nghĩa là thuốc; “Sư”là thầy. Vị Phật đây là một thầy thuốc lớn, có thể trị tất cả mọi bệnh tật của con người trong thế gian. Bất kể quý vị bị chứng bệnh nan y gì, nếu được Ngài cứu chữa thì chắc chắn bệnh sẽ hết. Bệnh gì cũng được chữa lành, ở cửa tử mà được hồi sanh, bệnh đáng chết mà được cứu sống. Bởi vậy Ngài mới có tên gọi là “Dược Sư”.

“Lưu Ly”là một chất trong suốt, ở trong có thể nhìn thấu ra ngoài, ở ngoài có thể nhìn xuyên vào trong. Lưu Ly là tên của quốc độ quả báo (báo độ) của Đức Dược Sư, gọi là thế giới Lưu Ly và Ngài là vị giáo chủ. Thân thể của Ngài cũng là chất lưu ly, nội ngoại đều sáng trong, tinh khiết. Ngài thông hiểu hết các loại thuốc. Ở Trung Hoa đời xưa có vị vua tên Thần Nông, và có câu nói: “Thần Nông thường bách thảo”, nghĩa là vua Thần Nông đã từng nếm hết thảy các thứ cỏ cây. Thân thể của vua Thần Nông cũng là chất lưu ly. Khi nếm các loại cỏ cây, thảo mộc, nuốt vào bụng rồi, vua có thể nhận ra tác dụng của vị thuốc, biết được vị thuốc đó đi vào đường kinh lạc nào trong cơ thể. Khi nếm đủ các loại dược thảo xong, vua phân tích ra từng tánh chất một (dược tánh), vị nào chua, ngọt, đắng, cay, mặn, thứ nào là lạnh, nóng, ấm, trung bình, thứ nào độc, thứ nào không độc.

“Quang”là ánh sáng. Thân thể Đức Dược Sư Như Lai không những trong suốt, mà còn tỏa sáng, là một đại quang minh tạng.

“Như Lai”là một trong mười tôn hiệu của Phật: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Số là, mỗi vị Phật có mười vạn danh hiệu, nhưng kể đủ cả mười vạn danh hiệu ấy thì không ai nhớ được, nên người ta rút ngắn lại thành một vạn; tuy nhiên, một vạn kể ra cũng còn nhiều nên lại rút ngắn thêm thành một ngàn; sau rút gọn nữa thành một trăm và cuối cùng rút xuống chỉ còn lại mười danh hiệu.

Vị Phật nào cũng có mười danh hiệu trên, chứ chẳng phải vị Phật này có mà vị Phật kia thì không. Học Phật Pháp chúng ta phải hiểu điều đó. Tôi nghe những kẻ ngoại đạo nói về “Như Lai Phật Tổ”. Họ không hiểu “Như Lai Phật Tổ” là vị Phật nào. Kỳ thực, vị Phật nào cũng có hiệu là Như Lai. Như Lai nghĩa là “noi theo đạo như thực (Chân lý) mà đến và thành Chánh giác” (thừa như thật chi đạo lai thành Chánh giác)[1].

“Bổn Nguyện”là nói về các lời phát nguyện trong quá khứ của Ngài Dược Sư. Đây không phải là những lời phát nguyện trong đời này. Trong kinh điển Phật Giáo có các danh từ như bổn sự, bổn nguyện, bổn sanh. “Bổn sanh” là thuộc về đời hiện tại, “bổn nguyện” lại thuộc đời quá khứ, còn “bổn sự” là sự việc xảy ra trong kiếp xưa.

“Công Đức” và “Kinh”, các danh từ này đã được giảng rồi.

Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là vị Phật ở phương Đông. Ngài có một tên khác nữa là “Phật A Súc”. Phật Dược Sư thuộc Kim Cang Bộ ở phía Đông, và Bộ này chú trọng Pháp Hàng Phục. Pháp này chuyên hàng phục thiên ma, ngoại đạo. Khi chúng thấy các vị Kim Cang Hộ Pháp thuộc Bộ Kim Cang là chúng phải quy hàng. Giả tỷ như bất cứ ai niệm Chú Lăng Nghiêm thì sẽ được tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát gia hộ, che chở. Cố nhiên người đó phải thành tâm niệm chú mới được!

Đại khái lược giảng về ý nghĩa của tên kinh là như vậy.


Tôi nghe như vầy: Một thời đức Bạc Già Phạm đi hóa độ các nước, đến thành Quảng Nghiêm, Ngài dừng lại dưới cây âm nhạc, cùng với tám ngàn vị đại Bí-sô, ba vạn sáu ngàn Bồ-tát Ma-ha-tát, các quốc vương, đại thần, các bà-la-môn, các cư sĩ, tám bộ trời rồng, người và chẳng phải người, vô lượng đại chúng, thảy đều cung kính vây quanh nghe Phật thuyết pháp.

Như thị ngã văn, nhất thời Bạc-Già-Phạm, du hóa chư quốc, chí Quảng Nghiêm thành, trú nhạc âm thụ hạ, dữ đại Bí-sô chúng bát thiên nhân câu, Bồ tát Ma-ha-tát tam vạn lục thiên, cập quốc vương, đại thần, bà-la-môn, cư sĩ, thiên long bát bộ, nhân, phi nhân đẳng, vô lượng đại chúng, cung kính vi nhiễu, nhi vi thuyết pháp.

“Như thị” nghĩa là “như vầy”. Danh từ này ngụ ý rằng “pháp như vầy” thì có thể tin theo, học tập và thực hành. Chúng ta phải phát nguyện tu hành pháp đó, y theo lời dạy trong đó mà tu tập.

“Ngã văn”nghĩa là “tôi nghe”. Đây là lời của Tôn giả A-nan. Tôn giả nói như sau: “Các pháp nói trong bộ kinh này là do chính tôi, A-nan, được nghe từ kim khẩu của đức Phật nói ra, chớ không phải là do người khác truyền lại. Chính là tôi đã được nghe”.

Sở dĩ có mấy chữ “như thị ngã văn” (tôi nghe như vầy) là bởi nguyên do sau: Đó là một trong bốn điều Tôn giả A-nan bạch hỏi Phật. Số là khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Tôn giả A-nan rất đỗi bi thương, chỉ biết than khóc mà quên hết mọi sự. Ngày ấy, ngài A-nan đã chứng Sơ quả song ngài vẫn chưa đoạn được vấn đề tình cảm, cho nên khi biết tin Phật sẽ nhập Niết Bàn, ngài không thể nén được xúc động nên mới khóc lóc một cách bi thảm, cơ hồ chỉ biết khóc, chẳng biết chuyện gì khác nữa. Lúc đó có một vị tôn giả (Tôn giả A-nậu-lâu-đà) nhắc cho ngài thức tỉnh và nói rằng: “Ông vốn có bổn phận ghi nhớ lại các lời Phật dạy, nay Phật sắp vào Niết Bàn, ông hãy ráng tỉnh táo mà nghĩ cho kỹ! Ngay bây giờ, ông hãy xét coi có điều gì trọng yếu thì phải hỏi Phật đi, đặng Phật chỉ dạy cho. Ông chỉ khóc lóc như vậy thì trong tương lai chúng ta sẽ ra sao đây?”

Nghe lời nhắc nhở đó, Tôn giả A-nan bèn tỉnh ngộ, ngài nói: “Đúng vậy! Có vấn đề gì quan trọng thì chúng ta phải mang ra hỏi Phật ngay. Có điều tôi khóc quá nên quên cả mọi thứ. Bây giờ chúng ta phải hỏi Phật những điều gì đây? Đầu óc tôi rối như tơ vò, chẳng còn nghĩ ra được vấn đề gì cả”.

Vị tôn giả nói trên nói: “Ông cần hỏi Phật rằng trong tương lai khi kết tập kinh tạng, ở mỗi bộ kinh phải lấy những chữ gì để bắt đầu. Đó là câu hỏi thứ nhất. Điều thứ hai là khi Phật tại thế thì Phật là Thầy của chúng ta; sau khi Phật nhập Niết Bàn thì ai sẽ là Thầy? Điều này cũng cần phải hỏi Phật. Thứ ba, ông nên hỏi Phật rằng khi Phật tại thế thì tất cả các Tỳ-kheo chúng ta ở cùng với Phật. Vậy khi Phật nhập Niết Bàn rồi, chúng ta sẽ ở với ai? Điều thứ tư là khi Phật tại thế, nếu Tỳ-kheo nào có ác tính thì Phật điều phục họ; thế sau khi Phật nhập Niết Bàn, ai sẽ điều phục họ?”

Tôn giả A-nan đáp: “Bốn vấn đề vừa nói quả là trọng yếu rất mực, tôi sẽ phải đi hỏi Phật ngay.”

Nói rồi, Tôn giả A-nan đi đến trước Phật, chắp tay, quỳ gối và thưa rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Nay Ngài sắp nhập Niết Bàn nên chúng con có những vấn đề quan trọng muốn thỉnh Phật chỉ dạy cho chúng con.

Phật nói:

- Ông muốn hỏi điều gì thì cứ việc hỏi.

Tôn giả A-nan thưa:

- Trong thời gian trụ thế, Thế Tôn đã thuyết pháp 49 năm, nói kinh trong hơn ba trăm pháp hội, vậy ngày sau, khi kết tập kinh tạng thì chúng con phải lấy những chữ gì để khởi đầu cho mỗi bộ kinh?

Phật đáp:

- Kinh điển của chúng ta khác với kinh điển của ngoại đạo. Kinh của các đạo khác nếu họ chẳng nói về “có,” thì nói về “không”; phần ghi trên đầu các kinh đều chẳng ngoài hai chữ “có” và “không”. Vậy về điểm này, đối với kinh của chúng ta, các ông nên mở đầu bằng mấy chữ “tôi nghe như vầy”, ngụ ý rằng “Tôi, A-nan, chính tôi được nghe như vầy, chớ đây không phải là lời tôi nghe người ta truyền lại”.

A-nan thưa:

- Xin vâng! Trong tương lai chúng con sẽ ghi mấy chữ “tôi nghe như vầy”. Điều thứ hai con muốn thỉnh Phật chỉ dạy là khi Phật còn ở tại thế gian, tất cả các Tỳ-kheo chúng con đều tôn Phật là Thầy. Vậy sau khi Phật vào Niết Bàn rồi, chúng con sẽ tôn ai làm Thầy?

Phật đáp:

- Sau khi Như Lai nhập Niết Bàn, các ông hãy lấy “giới” làm Thầy. Ba-la-đề-mộc-xoa chính là Thầy của các ông. Các ông giữ được giới thì chẳng khác gì Ta còn tại thế. Các ông hãy làm các điều lành và tránh xa các điều ác.

A-nan hỏi:

- Điều thứ ba con xin thỉnh Phật chỉ dạy là nay Phật trú ở thế gian, chúng con trú cùng một nơi với Phật, thường theo học với Phật. Vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn thì các Tỳ-kheo chúng con sẽ an trú cùng với ai?

Phật đáp:

- Sau khi ta nhập Niết Bàn, tất cả Tỳ-kheo các ông phải an trú trong Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ, hay “bốn lãnh vực quán niệm,” gồm có thân, thọ, tâm và pháp. Các ông phải an trú trong bốn nơi này để quán niệm.

Thứ nhất là quán thân bất tịnh, nghĩa là mình tự quán sát thân thể của mình, thấy thân thể này chẳng có cái gì gọi là sạch sẽ, tinh khiết, chẳng qua chỉ là sự tổng hợp của bốn đại-đất, nước, gió, lửa--mà thành. Thứ hai là quán thọ là khổ; thứ ba, quán tâm là vô thường; và thứ tư, quán pháp là vô ngã.

A-nan hỏi Phật điều thứ tư:

- Về những Tỳ-kheo có tánh ác, họ đều được Phật điều phục khi Phật còn tại thế. Vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu có Tỳ-kheo có tánh ác, chúng con sẽ phải đối xử với họ ra sao?

Phật đáp:

- Trong tương lai nếu các ông gặp những hạng Tỳ-kheo này thì nên im lặng mà bỏ mặc họ (mặc tẩn).

Điều này có nghĩa là khi gặp trường hợp này, chúng ta nên giữ im lặng, không nói chuyện với những người ấy. “Mặc” là im lặng, làm thinh; “tẩn” là “nhuyễn thiên đơn,” tức là dọn đi, bỏ đi. Quý vị không lý tới họ, không tranh cãi với họ; như vậy, ít lâu sau họ sẽ tự cảm thấy chẳng có ý nghĩa gì và sẽ tự bỏ đi. Đối với những người như thế, nếu quý vị lại hỏi han, tranh biện với họ thì họ sẽ tự cảm thấy họ có giá trị. Còn như quý vị lơ là, chẳng hỏi han đến họ, họ sẽ cảm thấy họ chẳng hay ho gì. Thế nào gọi là Tỳ-kheo có tính ác? Nên nhớ rằng chẳng phải người xuất gia nào cũng cố gắng tu đạo, chẳng phải bất cứ ai cũng chịu dụng công tu hành.

Ngày trước, tại những ngôi chùa lớn ở Trung Hoa, các vị xuất gia rất đông và có đủ mọi hạng người. Trong số này, có những kẻ đã từng giết người, đốt nhà, trộm cướp, hoặc xưa là thổ phỉ nay cải tà quy chánh, hoặc làm thổ phỉ nhưng giả trang, mượn danh nghĩa người xuất gia để che mắt nhà chức trách,… các hạng người như vậy đều có cả, nghĩa là “rắn, rồng lẫn lộn,” không đồng nhất.

Đó là tình trạng tại Trung Hoa và tôi tin rằng ở đâu cũng như vậy mà thôi. Nói về những kẻ chuyên môn ăn cắp ở Trung Hoa, người ta còn gọi họ là “thiên thủ Quán Âm” (Quán Âm ngàn tay), bởi họ quả thật có đến cả muôn ngàn “tay”! Ai có đồ vật gì hay là họ lén lấy ngay, lấy xong mang đi bán, được đồng nào thì đem mua rượu hoặc ma túy. Bởi vậy quý vị đừng có khờ khạo, chớ có nhắm mắt mà tin rằng ai xuất gia cũng là người tốt cả. Tôi xin nói thẳng với quý vị như vậy, kể cả tôi cũng có thể ở trong số đó nữa, không phải ai ai cũng tốt đâu. Có điều tôi đã nguyện làm điều lành. Trong quá khứ tôi không biết mình đã từng làm những việc gì xấu, nay thì tôi chỉ ước mong làm sao tu hành cho tốt mà thôi!

Tỳ kheo tánh ác thì rất là xấu ác, họ không biết lắng nghe lẽ phải, quý vị càng tranh biện với họ, họ càng cho rằng họ hay, họ càng làm tới, do đó Phật dạy chúng ta hãy giữ im lặng và bỏ mặc họ, không lý tới họ nữa.

Nói về Tứ Niệm Xứ thì thứ nhất là quán thân bất tịnh. Quý vị có thể nghĩ rằng: “Mỗi ngày tôi đều tắm rửa cái thân này cho sạch sẽ, sau đó tô điểm nó cho thêm đẹp đẽ nữa”. Quý vị nói đúng! Quý vị trang điểm thân mình với nhiều thứ lắm! Tay thì đeo đồng hồ vàng, trên người có giắt cây bút đắt tiền, đầu đội mũ đẹp, thân mặc quần áo sang trọng, sự trang điểm tấm thân của quý vị rất là hào nhoáng. Nhưng quý vị có biết như vậy là nghĩa gì không? Có khác gì quý vị mang những đồ quý giá, mỹ lệ, dùng bảy loại báu vật,… để trang hoàng cái nhà vệ sinh! Có trang hoàng lộng lẫy thế nào đi nữa thì nó vẫn là cái nhà xí, vẫn bốc mùi xú uế, vẫn là nơi bất tịnh.

Thân thể chúng ta có chín lỗ thường tiết ra những thứ bất tịnh. Ở hai con mắt thì có chất ghèn, ở hai lỗ tai có ráy tai, ở hai lỗ mũi có nước mũi, ở miệng thì có đờm, dãi. Đó là bảy lỗ. Còn hai lỗ kia dùng cho đại và tiểu tiện. Con người của quý vị nếu lâu ngày không tắm rửa sẽ trở nên hôi hám. Quý vị ăn hành thì người quý vị sẽ tiết ra mùi hành; uống sữa bò thì có mùi sữa bò; ăn thịt bò thì có mùi bò; ăn thịt dê, thịt heo, thịt chó thì sẽ tiết ra mùi của các thứ ấy. Quý vị ăn tỏi ư? Người quý vị sẽ toàn là mùi tỏi!

Quý vị bảo rằng: “Mùi phát ra ở miệng. Nếu ăn xong súc miệng, đánh răng sạch sẽ thì chẳng còn mùi nữa”. Kỳ thực chẳng phải vậy. Ăn thứ gì thì chẳng phải chỉ có răng, miệng mà toàn thân thể đều có mùi của thứ đó. Nếu quý vị không tin thì hãy thí nghiệm một lần cho biết. Quý vị thử uống thật nhiều sữa bò, tới khi quý vị đổ mồ hôi thì sẽ thấy mồ hôi của mình có mùi sữa bò. Xem ra chín lỗ nói trên thường tiết ra chất bất tịnh, vậy chúng còn gì là hay là đẹp nữa? Quán sát như vậy gọi là “quán thân bất tịnh.”

Thứ hai, hãy quán thọ là khổ. Thọ có nghĩa là hưởng thọ, lãnh thọ. Bất cứ quý vị nhận thứ gì của ai, lãnh thọ hay hưởng thọ một thứ gì, cái “thọ” đó là khổ. Sự vui sướng, tức là “lạc,” cũng là nguyên nhân của khổ.

Thứ ba là quán tâm vô thường. Tâm của chúng ta, niệm niệm đổi thay, chẳng bao giờ ngưng nghỉ, nó là vô thường.

Thứ tư, quán pháp vô ngã. Tất cả các pháp đều không có “ngã.” Không những thế, chúng cũng không có ngã sở.

Như quán thân bất tịnh, các thứ thọ, tâm, pháp cũng đều bất tịnh. Quán thọ là khổ, các thứ thân, tâm và pháp cũng đều là khổ; quán tâm vô thường, các thứ thân, thọ, pháp cũng đều vô thường; quán pháp vô ngã, các thứ kia cũng là vô ngã. Gọi là Tứ Niệm Xứ, bốn lãnh vực để quán niệm, nhưng một là ba, ba là một; một thứ tức là bốn thứ và bốn thứ tức là một thứ.

Thời gian Phật còn tại thế thì các Tỳ-kheo an trú cùng một nơi với Phật và sau khi Phật nhập Niết Bàn thì phải an trú trong Tứ Niệm Xứ. Đó là di ngôn của Phật, lời Phật phó chúc, dạy các Tỳ-kheo chúng ta phải y theo như vậy.

Sau khi Phật vào Niết Bàn thì tất cả phải lấy giới làm Thầy. “Giới” nghĩa là “không làm các điều ác, luôn làm các điều lành”; cũng có nghĩa là “ngưng ác, ngừa quấy” (chỉ ác phòng phi), tức là chấm dứt điều ác, tu mọi điều lành, thường làm các điều phải, chấm dứt các điều quấy. Đó là giới luật. Kỳ thực nguyên ủy chẳng có gì gọi là luật cả. Nguyên do là khi Phật còn tại thế, số đệ tử rất đông, mà càng đông thì càng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Có người giữ đúng quy củ, nhưng cũng có kẻ không chịu theo phép tắc gì cả. Mỗi khi gặp một nhân duyên nào đó, Phật mới đưa ra một quy lệ, rồi lâu ngày các quy lệ đó gom lại thành giới luật. Tỳ kheo có 250 điều giới, Tỳ kheo ni có 348 điều giới, Bồ tát thì có 10 giới trọng và 48 giới khinh, Sa di có 10 giới, còn cư sĩ tại gia thì hoặc 8 giới, hoặc 5 giới.

Các giới đó không ngoài chủ ý khuyên mọi người giữ quy củ. Giữ được quy củ thì xã hội sẽ có những phần tử tốt, ưu tú, hiền lương, có thể mang lại trật tự an lành cho tất cả, không còn điều gì phiền hà trong cuộc sống. Bởi vậy giới luật là nền tảng của một thế giới an bình. Đó là lý do mà các Tỳ-kheo phải lấy giới làm Thầy.

“Tôi nghe như vầy”. Vào ngày Tôn giả A-nan kết tập kinh điển, lúc Tôn giả vừa ngồi vào pháp tọa, chỗ thường ngồi của Phật khi thuyết pháp, người ta bỗng thấy hiện ra nhiều tướng trạng tốt lành. Đại chúng chứng kiến đều lấy làm lạ, trong lòng nảy sinh ba mối nghi hoặc. Thứ nhất, người ta nghi rằng vị tôn giả đó chẳng phải là A-nan thật, mà là Đức Phật Thích-ca sống lại; bởi họ thấy rõ vị tôn giả xưng là A-nan lúc bấy giờ cũng có ba mươi hai tướng tốt cùng tám mươi vẻ đẹp, nên hoài nghi rằng Phật đã hồi sanh.

Thứ hai, họ nghi rằng đây là một vị Phật ở cõi khác đến thế giới Ta-bà để thuyết pháp, bởi nếu chẳng vậy thì làm sao có được những hiện tướng tốt lành đó?

Thứ ba, họ nghi rằng Tôn giả A-nan đã chứng Phật quả, đã thành Phật.

Bởi có những điểm nghi ngờ như vậy nên ai nấy đều bàng hoàng, chưa biết rõ sự thể ra sao. Tới khi Tôn giả A-nan cất tiếng tụng: “Tôi nghe như vầy” (bốn chữ đó có nghĩa là “Đây! Pháp như vầy là do chính tôi, A-nan, được nghe Đức Thích-ca Mâu-ni Phật thuyết giảng”), thì mọi người mới thức tỉnh và mọi nghi ngờ mới tiêu tan.

Ngay đến hàng A-la-hán, khi nghe thấy ngài A-nan kết tập kinh điển còn khởi lên ba mối nghi như vậy; thì nói gì chúng ta ngày nay, nghe tới kinh này, tâm chúng ta bèn khởi lên chẳng phải chỉ có ba mà có thể tới cả hàng ngàn hàng vạn mối nghi nữa, tỷ như có ý nghĩ rằng: “Kinh này có thật hay không?”, “Có phải do Phật nói ra chăng?”, “Lấy gì làm bằng chứng?”... Cái máy điện toán trong thân thể này--không phải là điện não (computer), mà là “nhân não” (our brain)--một khi mở máy thì cả ngàn, cả vạn mối nghi xuất hiện. Xem như vậy thì học Phật Pháp chẳng phải là dễ. Chúng ta học Phật mà chẳng có thành tựu gì, chính là do cái tâm nghi ngờ đó tác quái!

Có câu rằng: “Tu đạo cần đừng có tâm nghi”, nghĩa là người tu đạo đừng nên có tâm nghi ngờ. Nói thế này, thì quý vị không tin; nói thế kia, quý vị cũng không tin; nói điều chân thật cũng không tin; song nói điều hư dối thì quý vị lại tin ngay! Đó là điên đảo!

Câu tiếp theo là: “Tâm nghi vừa khởi lạc đường mê”, nghĩa là một khi quý vị khởi tâm nghi tức là quý vị đi ngay vào con đường lầm lạc. Bởi vậy người học Phật phải theo đúng châm ngôn “sáng như vậy, chiều cũng như vậy” (triêu ư tư, tịch ư tư), ngày ngày tu học, từng giờ, từng khắc đều phải tu học, đinh ninh trong dạ, chớ không phải làm cho qua chuyện mà được.

Tại Vạn Phật Thánh Thành này, bất cứ là người xuất gia hay hàng cư sĩ, nếu muốn học Phật thì phải ráng đọc tụng cho thuộc bộ Kinh Lăng Nghiêm. Nhớ và thuộc lòng bộ kinh này thì công phu học Phật sẽ không bị uổng phí. Thực vậy, trong kinh này Phật giảng đến chỗ tột cùng, rất là chính xác, phô bày hết cái dở của hàng ngoại đạo, lột trần bổn tướng của họ. Bởi vậy nếu chúng ta hiểu thấu Kinh Lăng Nghiêm, thì thiên ma ngoại đạo sẽ phải khiếp sợ đến dựng lông tóc. Nay quý vị muốn thực lòng hộ trì Tam Bảo, hoằng dương Phật Pháp, thì phải mau mau nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm, đọc tụng Lăng Nghiêm, giảng giải Lăng Nghiêm, tối thiểu là phải như vậy!

Việc học Kinh Lăng Nghiêm, nghe Kinh, tụng Kinh, đòi hỏi một sự nhẫn nại, không được sanh lòng chán nản. Quý vị phải biết cái cây kia, mỗi ngày một lớn, hằng ngày quý vị phải lấy nước tưới cho cây, thì cây mới trổ hoa, mới có màu sắc đẹp đẽ như vậy. Các trẻ nhỏ phải ngày ngày được dạy dỗ, lớn lên đi học cũng phải ngày ngày đọc sách. Học Phật Pháp thì cũng phải bỏ chút ít thời gian để hằng ngày nghiên cứu, học tập Phật Pháp.

Quý vị học Phật Pháp còn tốt hơn là mang tiền gửi tại ngân hàng nữa. Về phương diện huệ mạng và Pháp thân thì việc học Phật lại càng trọng yếu hơn nữa. Chớ nên coi tiền tài trên thế gian này là thật. Học Phật Pháp mang lại pháp tài để quý vị sử dụng tại thế gian. Nó là công đức pháp tài cho pháp xuất thế gian. Quý vị không thể coi nhẹ vấn đề này, không thể làm một cách qua loa cho xong việc! Bận rộn cả ngày mà cũng dành được chút thời gian để nghe kinh, nghiên cứu Phật Pháp, như vậy là tốt lắm!

Chớ có nghĩ rằng: “Ồ! Giảng kinh thì ngày nào cũng chỉ chừng đó! Nghe hoài phát chán!” Vậy chớ, công việc của quý vị bận rộn mà quý vị vẫn phải ăn, vẫn phải mặc quần áo, vẫn phải ngủ nghỉ thì sao? Như nghe kinh mà người ta cũng coi trọng như ăn, mặc, ngủ nghỉ thì hay biết bao!

“Như vầy,” ý nói rằng pháp như vầy. Pháp đó có thể tin được, pháp đó có thể tu theo, pháp đó có thể tu thành Phật được. Pháp đó phải tu tập, chúng ta phải tin theo, chúng ta phải gắng sức tu một cách chân thành. Từ ngữ “như vầy” là chỉ về pháp, biểu tượng cho ý nghĩa thành tựu của bộ kinh về chữ “tín”.

Phàm là kinh thì phải thỏa mãn sáu điều kiện cần thiết, gọi là sáu thành tựu. Thứ nhất là thành tựu về tín. Nếu quý vị tin được, có nghĩa là niềm tin đã thành tựu, mà tín có thành tựu thì mới có lợi ích. Nếu không tin thì chẳng có lợi ích gì. Lấy thí dụ như cơm mà chúng ta ăn. Chúng ta tin rằng ăn cơm vào thì sẽ được no bụng, bằng không ăn thì chẳng no được. Pháp cũng vậy, tuy Pháp đó có thể dẫn tới Phật quả, nhưng quý vị không tin, không tu, thì Pháp đó chẳng có hiệu quả gì đối với quý vị cả. Pháp chẳng phải nói suông, thực hành Pháp mới là đạo. Quý vị phải thực sự tu hành, y theo Pháp mà tu tập, như vậy mới có lợi lạc. Quý vị có tin thì mới có sự thành tựu, nếu không tin thì không thể nào có sự thành tựu được. Có được niềm tin rồi, thực ra, cũng cần phải có nhiều nhân duyên khác hỗ trợ mới đạt được “tín thành tựu.”

“Tôi nghe.” Từ ngữ này nói lên điều kiện cần thiết thứ hai, đó là sự nghe, hay nói cách khác là thành tựu về nghe. “Tôi nghe,” thì chữ “tôi” là chỉ Tôn giả A-nan. Ngài tự xưng mình là “tôi”, nhưng chữ “tôi” ở đây có tính cách vô ngã, không hề có sự chấp trước, là cái “tôi” viên dung, không bị trở ngại. Cái “tôi” này thấu suốt cả vạn sự vạn vật mà lại buông bỏ hết, bởi vậy nó mới đích thực là chân ngã của tự tánh. Cái “tôi” này không mang ý nghĩa đối ngoại (như nói “tôi và người khác”),mà chính là cái “tôi” đối nội, đối với chính tâm sở của mình. Đây là cái “tôi” có trí huệ, cái “tôi” không điên đảo, cái “tôi” trong sự trạch pháp. Bởi có con mắt chọn lựa pháp (trạch pháp nhãn) nên mới tới được trình độ “thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển”. Làm sao có được con mắt trạch pháp? Chính là phải có thành tựu về tín và thành tựu về văn (nghe).

“Một thời”: Nay đã có hai sự thành tựu--có lòng tin, có ý muốn nghe--nhưng cần phải có một thời điểm để nghe, tức thời gian nghe bộ kinh Công Đức Bổn Nguyện của Đức Phật Dược Sư, mà cũng chỉ cả thời gian Tôn giả A-nan kết tập kinh tạng. Từ ngữ “một thời” chính là sự thành tựu về thời gian. Có thể quý vị sẵn lòng tin, lại muốn được nghe, nhưng vì thời gian không ăn khớp chẳng hạn, quý vị không thể đến Kim Luân Thánh Tự để tham gia pháp hội giảng kinh thuyết pháp, mà phải ở nhà, thì dầu có niềm tin và muốn nghe, quý vị cũng không thể nào nghe được. Đó là vấn đề thành tựu về thời, một trong những điều kiện cần thiết để được nghe kinh.

“Bạc Già Phạm” (Bhagavan) là một tên khác của đức Phật. Từ ngữ này có sáu nghĩa. Quý vị muốn tìm hiểu kỹ càng về từ ngữ này thì có thể tra từ điển Phật Học. Nếu không, thì chỉ cần nhớ rằng đây là tiếng Phạn và chỉ đức Phật. Từ ngữ “Bạc Già Phạm” ở đây biểu tượng cho sự thành tựu về chủ thể.

Nay các điều kiện về tín, nghe và thời đã được thành tựu, nhưng nếu không có ai giảng kinh thì quý vị đâu có nghe được gì! Các thành tựu trên đều vô dụng nếu không có sự thành tựu về chủ thể, tức là người chủ thuyết pháp.

Bây giờ tôi hỏi quý vị: Có ai nhớ sáu nghĩa của chữ “Bạc-Già-Phạm” này không?

Một đệ tử thưa: Đệ tử chỉ nhớ được bốn nghĩa.

Thượng Nhân: Cứ nói cho mọi người nghe đi! Còn hai nghĩa kia để người khác nói.

Đệ tử: Một nghĩa là “tự tại,” ngụ ý rằng đức Phật ở nơi nào cũng thoải mái, không có phiền não.

Thượng Nhân: “Tự tại” giống như ông chăng?

Đệ tử: Hoàn toàn khác.

Thượng Nhân: A! Ông làm gì mà không “tự tại”? Ông chạy đi đâu mà không “ở đây” (tự tại)?

Đệ tử: Con thường thường là hướng ngoại, truy cầu bên ngoài.

Thượng Nhân: Okay! Nghĩa thứ hai là gì?

Đệ tử: Bạc Già Phạm còn có nghĩa là “danh xứng,” ý nói rằng ai ai cũng biết đến tên của đức Phật, cũng như công đức, hạnh nguyện thanh tịnh và lòng từ bi của Ngài--tất cả mọi người đều hay đều biết. Nghĩa thứ ba là “đoan nghiêm,” tức là “đoan chánh,” không có chút gì gọi là tà vạy, không có vọng tưởng, tóm lại là rất trang nghiêm, rất chân chánh. Nghĩa thứ tư là “xí thịnh,” ý nói rằng công đức của Ngài rất trang nghiêm, thật là viên mãn, có tính cách sáng rực như một ngọn lửa phát ra ánh sáng, vô cùng mỹ lệ, rất hay, ai ai cũng muốn xem, muốn ngắm nhìn ánh sáng của ngọn lửa.

Thượng Nhân: Trong số quý vị đây, có ai biết được ông ấy nói đúng hay sai chăng? Bốn danh xưng vừa nói có nằm trong sáu nghĩa của chữ Bạc Già Phạm không? Có ai biết ông ấy có nói sai hay không? Mau nói thử coi! Ông ấy nói đúng ư? Quý vị hãy lên tiếng cho biết đi! Chữ đó còn hai nghĩa nữa, tôi không muốn gọi tên ai cả, người nào biết thì hãy mau mau nói ra. Nếu chẳng ai nói cả thì chứng tỏ rằng quý vị đã quên, không một người nào ghi nhớ hết. Quả Huệ thì sao? Có biết không?

Quả Huệ: Có một nghĩa là “cát tường.”

Thượng Nhân: Còn gì nữa? Quả Nhã có biết không?

Quả Nhã: Có một nghĩa là “tôn quý.”

Thượng nhân: Còn bốn nghĩa mà vừa rồi có người đã kể ra thì có đúng không?

Quả Nhã: Một nghĩa là “trang nghiêm,” nhưng vừa rồi nói là “đoan chánh.”

“Cát tường”! Người Trung Hoa thích chữ “cát tường” lắm! Nhất là người Quảng Đông, cứ mỗi lần sang năm mới, người ta chỉ nói: “Như ý cát tường! Như ý cát tường!” Họ muốn “cát tường như ý” mà không chịu niệm Phật, chỉ đi kiếm nơi đánh “mạt-chược”, hoặc đi khiêu vũ! Quý vị muốn được “cát tường như ý” thì quý vị phải niệm Phật, sống trong quy củ, theo đúng phép tắc. Đánh mạt-chược ư? Cát tường làm sao được? Chỉ có thua bạc thôi! Thua tới thua lui, thua đến cháy túi; quý vị bảo như vậy là cát tường ư?

“Tôn quý”! Phật là tôn quý nhất! Do đó muốn được tôn quý, chúng ta phải theo gương Phật, học tập tấm gương rất tôn quý, rất hoàn chỉnh của Ngài, một tấm gương trong sáng, không còn tập khí, không còn vọng tưởng tạp niệm, hoàn toàn vượt xa cảnh giới A-la-hán.

Nói về A-la-hán, trong phần mở đầu của Kinh Pháp Hoa có chép:

“Tôi nghe như vầy: Một thời Phật tại núi Kỳ-Xà-Quật, thuộc thành Vương Xá, cùng các vị đại Tỳ-kheo, một vạn hai ngàn người, đều là A-la-hán . . .” A-la-hán là những người như thế nào? Họ là những người “đã dứt sạch lậu hoặc”(chư lậu dĩ tận), dứt hết các điều xấu, các tập khí, lìa mọi vọng tưởng, thoát khỏi vòng sanh tử. Các ngài “đã làm xong mọi việc mà họ phải làm”(sở tác dĩ biện), hoàn thành mọi thứ, không còn hướng ra ngoài để mong cầu điều gì. Bởi không rong ruổi tìm kiếm bên ngoài nữa nên mới dứt sạch các lậu hoặc.

“Lậu” là thế nào? Như ham nói chuyện chẳng hạn, đó là lậu. Thích ngắm nhìn là lậu, thích nghe thanh âm cũng là lậu. Có người nói: “Bảo tôi đừng nghe, đừng nhìn, đâu có thể như vậy được! Học Phật Pháp để đi tới chỗ không được nghe, không được nhìn, thì làm sao tôi chịu nổi?” Thì bởi vậy cho nên đến nay quý vị vẫn chưa thành Phật được đấy mà! Chính vì quý vị chịu không nổi nên toàn là hướng ra ngoài để tìm kiếm, không biết trở về, không thể hồi quang phản chiếu!

Một khi đã dứt hết các thứ lậu thì bất cứ thói hư tật xấu gì cũng không còn--lúc đó quý vị chẳng còn tham, chẳng còn tranh, chẳng mong cầu, chẳng ích kỷ, chẳng tự lợi. Chừng nào quý vị còn tham, là còn lỗi lầm, còn “bệnh”; còn tranh, còn cầu, còn ích kỷ, là còn “bệnh.” Tự lợi là một “bệnh” nặng. Tình ái cũng là “bệnh,” và “bệnh” nặng nhất chính là dục niệm. Khi dứt sạch lậu thì hết dục niệm, hết các ý nghĩ dâm dục, hết sự khát khao, vọng tưởng, niệm gì cũng không còn; đó chính là “dứt sạch các lậu hoặc” vậy.

Bậc A-la-hán thì “không có phiền não”(vôphục phiền não) vì phiền não đã hết, và các bậc A-la-hán cũng “đã tìm được lợi lạc cho chính mình”(đãi đắc kỷ lợi), đã có trí huệ chân chánh, tức xem như đã gặt hái được kết quả chân chánh của việc tu học Phật. Như tôi đã từng nói với quý vị, Phật chính là một vị đại trí huệ. Ai có trí huệ chân chánh thì người đó sẽ không điên đảo và có thể thành Phật. Chừng nào quý vị còn điên đảo, tâm còn tham không biết chán, không bao giờ vừa lòng biết đủ, luôn luôn tranh đua với người khác, chỉ biết ích kỷ, tự lợi, thì quý vị không thể nói tới sự lợi ích của Phật Pháp được. Chỉ khi nào quý vị dứt hẳn lòng ham muốn ngoại vật, như tiền bạc, châu báu, xa rời các thứ về sắc, thanh, hương, vị, xúc--khi tất cả các cảnh giới này đều không lay chuyển được mình, lúc đó quý vị mới thật sự hưởng được những lợi lạc chân chánh của chính mình.

Bậc A-la-hán đã thoát hết mọi thứ ràng buộc.”Lúc này các tập khí đã hết, các thứ trói buộc không còn nữa, nên các ngài hoàn toàn được tự do. “Tâm được tự tại.”Trong cảnh giới này, tâm mới thật sự tự tại.

Còn Phật thì sao? Cảnh giới của Phật còn siêu việt hơn nhiều lắm, bởi vậy Phật mới là tôn quý bậc nhất.

Nếu chúng ta muốn học theo Phật thì bước đầu phải học tính cách “không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi.” Chẳng phải trong lòng thì nghĩ đến việc đi ăn cướp mà ngoài miệng thì cứ nói: “Tôi không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi!” Đó là quý vị đã dối người, dối mình. Quý vị thực sự không có tâm tranh ư? Thì quý vị sẽ để cho mọi sự diễn tiến một cách tự nhiên. Quý vị không tham ư? Thì quý vị cũng sẽ để cho mọi sự tự nhiên phát triển. Đến tình trạng “không cầu” thì có câu: “Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu,” nghĩa là còn mong cầu thì còn ưu sầu, hết mong cầu thì chẳng còn gì phải ưu sầu nữa. Quý vị còn phải dứt bỏ tâm ích kỷ, tức là không nghĩ riêng cho mình. Chuyện phiền phức trên thế gian này là do mọi người có tâm ích kỷ, mà ích kỷ phát sinh là vì dục niệm. Không ích kỷ còn bao gồm cả lòng không mong cầu và không còn vướng vào vòng yêu thương nữa. Không tự lợi là không tìm cái lợi riêng cho mình, không tìm cái khoái cảm riêng cho mình, các thứ đó phải dứt bỏ hết! Nếu loại bỏ được hết các lỗi lầm kể trên thì quý vị sẽ thành Phật.

Sáu nghĩa của từ ngữ “Bạc Già Phạm” quan trọng như vậy, chúng ta là người học Phật, phải nhớ cho kỹ; bằng không thì cũng như không nhận biết được Phật. Như quý vị quen biết một người nào, thì quý vị nhận biết diện mạo, hình dáng bên ngoài của người đó, thậm chí còn nhận biết cả giọng nói của người đó nữa. Như vậy mới gọi là quen biết thực sự. Quý vị chẳng cần phải nhìn thấy tận mặt, chỉ cần nghe giọng nói của người đó là đã nhận ra ngay người quen. Nhận biết Phật cũng cùng một ý nghĩa như vậy. Nếu quý vị học Phật mà không ghi nhớ hết các nghĩa của danh từ “Bạc-Già-Phạm,” thì quý vị quả là kẻ học Phật hồ đồ!

Bởi vậy quý vị phải nhớ điều này đặng lần sau, khi được hỏi đến thì có thể trả lời được. Quý vị xem! Tôi đã mất nhiều hơi sức giảng cho quý vị mà quý vị lại quên hết, như gió thoảng qua tai, thật là đáng tiếc biết bao! Bây giờ tôi giảng được chừng nào, quý vị phải cố gắng ghi nhớ, lần sau nhất định tôi sẽ hỏi lại, ai không trả lời được tức là kẻ đó đã ngồi ngủ gục.

Vậy, một thuở nọ, Đức Phật “đi hóa độ các nước, đến thành Quảng Nghiêm, Ngài dừng lại dưới cây âm nhạc”: Phật giáo hóa các chúng sanh không phải chỉ giới hạn trong một nước mà tại hết thảy các nước có duyên với Phật Pháp, cũng như những chúng sanh ở một nước nào hữu duyên thì Ngài cũng tới đó để giáo hóa. Bởi vậy mới nói là “đi hóa độ các nước.” Trên đường du hóa, Phật tới một thành phố lớn tên là Quảng Nghiêm (Vaisali). Ngài đã dừng lại tại một gốc cây âm nhạc, ngồi xuống trong thế kiết già và thuyết pháp cho đại chúng.

Các từ ngữ “thành Quảng Nghiêm,” “dưới cây âm nhạc,” nói lên ý nghĩa của “xứ thành tựu”. Phần trên chúng ta đã thấy những sự thành tựu về tín, văn, thời và chủ. Thành tựu về chủ tức là nói về chủ thể của sự giảng kinh. Tuy nhiên, đã có người giảng kinh rồi thì lại cần phải có địa điểm giảng nữa. Cũng giống như nay giảng Kinh Dược Sư mà không có giảng đường thì giảng làm sao được? Bởi vậy phải có yếu tố địa điểm, tức là nói về xứ thành tựu.

Đoạn sau kinh văn nói đến các Tỳ-kheo và Bồ tát, tức đề cập tới chúng thành tựu. Vậy là đã có chủ thể giảng kinh, có địa điểm, nay lại có người nghe kinh. Phật thuyết pháp mà nếu chẳng có ai nghe, Phật thuyết cho Phật nghe thì chẳng còn ý nghĩa gì. Tất phải có sự hiện diện của chúng sanh thì Phật mới có đối tượng thuyết pháp.

Chúng sanh trong các pháp hội đều là những người có duyên với Phật Pháp. Như quý vị tới đây nghe kinh, chính là đã có sẵn nhân duyên rồi. Không có nhân duyên thì dầu muốn tới cũng không thể tới được. Đừng tưởng đây là chuyện bình thường. Kỳ thực nó không đơn giản như vậy. Chính quý vị đã từng gieo trồng căn lành từ bao nhiêu kiếp trước, nên nay mới có cơ hội mỗi ngày đến đây nghe kinh; có điều là quý vị không nhận biết được điều đó mà thôi. Bởi không hiểu duyên lành này nên có lúc quý vị sanh tâm lười biếng, rồi lấy cớ rằng: “A! Sư Phụ chưa tới, ta có thể chạy đi tiêu khiển chút xíu”. Rồi thì, quý vị bèn chạy đi xem kịch, coi phim, đi nhảy đầm, đi uống rượu, mở “party,”… phung phí sức lực và tinh thần vào những chuyện vô ích.

Mỗi lần đến đây nghe kinh, một là quý vị được nghe pháp âm, đủ khiến cho lòng vơi bớt những phiền não, vọng tưởng trần lao của thế tục; hai là quý vị được thêm trí huệ vì những gì kinh điển nói ra đều là trí huệ, đều là pháp Bát-nhã.

Có người bảo rằng: “Tôi hiểu kinh cũng khá lắm rồi!” Vậy hiểu thêm nữa không phải càng tốt hay sao? Quý vị sợ quá nhiều ư? Quý vị đến ngân hàng gửi tiền, có khi nào quý vị thốt ra câu: “Trương mục của tôi quá nhiều tiền, nhiều quá đi thôi! Nhiều quá đi thôi!”? Nhiều bao nhiêu đi nữa quý vị cũng chẳng ngại, càng nhiều càng tốt mà! Vậy có thêm trí huệ, biết thêm Phật Pháp chân chánh mà quý vị lại ngại nhiều ư? Chẳng phải như vậy là điên đảo hay sao? Chẳng qua quý vị không biết suy tính, nên mới bỏ gốc mà tìm ngọn, bỏ cái trước mắt mà tìm cái xa vời, bỏ lỡ việc học hỏi Phật Pháp, để uổng phí hết thời gian!

“Cùng với tám ngàn vị đại Bí-sô”:Đại Bí-sô hay Tỳ-kheo là chỉ các bậc xuất gia. Chữ “đại” ngụ ý rằng các vị này đều là bậc trưởng lão, là những Tỳ-kheo đã xuất gia từ trên hai mươi tới ba mươi năm. Không gọi bằng chữ “lão” (già) mà gọi bằng chữ “đại” vì họ là những bậc Tỳ-kheo lớn, đầy đủ đức hạnh, trí huệ viên mãn, phẩm cách tuyệt vời.

“Tỳ kheo” nguyên là tiếng Phạn, bao hàm ba nghĩa. Vị nào hay nghe kinh, ắt đã được nghe nhiều lần ba nghĩa này: thứ nhất là nghĩa “khất sĩ”, thứ hai là “bố ma”, thứ ba là “phá ác”.

1. Khất sĩ, chỉ người đi xin ăn. Những người đi đến từng nhà để xin cơm ăn còn gọi là kẻ hành khất, nhưng khất sĩ thì không phải là hạng hành khất bình thường, đi xin với tâm phân biệt, không bình đẳng—hễ được cho nhiều thì vui thích, cho ít thì buồn phiền. Đối với vị Tỳ kheo khất sĩ thì khác—cho đồ ngon hay không ngon, họ cũng chẳng chú ý; hoặc cho nhiều cho ít, họ cũng không quan tâm--họ chỉ biết mang cơ duyên đến để mọi người được gieo phước, ai cho thì người đó gieo nhân và gieo nhiều nhân lành thì gặt hái nhiều phước, họ chẳng khởi phiền não, vô minh.

Trên đường đi khất thực, mắt vị Tỳ kheo không nhìn ngang nhìn ngửa hoặc quay đầu ngắm nghía, mà luôn giữ thái độ nghiêm chỉnh uy nghi, theo đúng pháp “túc cung trai.” Đã là người xuất gia, mỗi khi đi ra đường cũng không ngó ngang ngó dọc, luôn luôn giữ cặp mắt nhìn xuống mũi, mũi chiếu xuống miệng, miệng thì quán tâm. Phàm thứ gì hay sự việc gì không đúng với lễ nghi, thì mắt không nhìn, tai không nghe, miệng không nói, thân không vọng động.

Khất sĩ đi khất thực trong sự yên lặng, không nói năng, chớ không giống như người hành khất đến trước cửa nhà người ta thì nói những câu: “Thưa ông! Thưa bà! Chúc ông bà phát tài, phát phúc!” toàn là những từ ngữ tán dương, khách sáo. Tỳ kheo đi khất thực thì không nói gì cả, ai bố thí thứ gì thì nhận lấy, không bố thí thì tiếp tục đi, trong tâm không có phiền não. Cho nên, khất sĩ và người hành khất không giống nhau.

2. Bố ma, là nghĩa thứ hai của chữ “Tỳ-kheo”. Vì Tỳ kheo đoan nghiêm có chánh khí nên thiên ma, ngoại đạo trông thấy thì đều kinh hãi, các loại tà ma quỷ quái thì phải lánh xa. Tại sao vậy? Bởi vì bậc Tỳ kheo có chánh khí, có thể lấy chánh để hàng phục tà.

3. Phá ác, là nghĩa thứ ba. Người thường rất khó phá trừ các tập khí xấu của bản thân, không giống như các bậc Tỳ-kheo tu đạo là những người chuyên việc phá trừ tập khí, chuyên sửa các lỗi lầm của chính họ, cải sửa điều ác thành điều thiện, do đó họ được gọi là “phá ác.”

Trên đây là ba nghĩa của từ ngữ “Tỳ-kheo.” Vậy, tổng cộng có bao nhiêu vị đại Tỳ-kheo như thế ở trong pháp hội này? Tất cả có tám ngàn vị đại Tỳ-kheo.

“Ba vạn sáu ngàn Bồ-tát Ma-ha-tát”: Danh từ “Bồ-tát” cũng là tiếng Phạn và rất phổ biến tại Trung Hoa. Hai chữ này ai ai cũng quen thuộc, nhưng khi hỏi mọi người, kể cả hàng Phật tử, rằng: “Bồ tát là gì?”; thì đa số đều không biết, chỉ nói: “Thì… Bồ-tát là Bồ-tát thôi!” Còn hỏi đến ý nghĩa như thế nào thì họ lại cũng: “Không biết!”

Chúng ta phải nhớ rằng hai chữ “Bồ tát” chính là chỉ một vị thánh trong Phật giáo Đại thừa. Nói cho đủ thì đó là danh từ “Bồ-đề tát-đỏa”; còn tiếng Anh là “Bodhisattva,” và dịch nghĩa là “giác hữu tình”. Chữ “hữu tình” là chỉ chúng sanh, và “Bồ tát” là một chúng sanh trong chín Pháp giới, là một thánh nhân trong bốn Pháp giới thánh.

“Giác hữu tình” nghĩa là gì? Đó là ngụ ý rằng các vị này sử dụng trí huệ giác ngộ của mình để độ thoát các chúng sanh hữu tình. Phàm loại gì có khí huyết thì gọi là hữu tình, không có khí huyết thì gọi là vô tình. Như các giống thực vật, tuy thuộc loại vô tình, nhưng chúng lại có “tánh” (hữu tánh) và chúng đều được sanh ra và được nuôi dưỡng trong đại quang minh tạng của Phật.

Bồ tát gọi là “giác hữu tình” nhưng cũng là một “hữu tình giác”. Tại sao nói vậy? Bởi Bồ tát cũng là người như chúng ta, cũng là một chúng sanh, chỉ khác là Bồ tát đã giác ngộ. Giác ngộ điều gì? Giác ngộ ý nghĩa “chư ác bất tác, chúng thiện phụng hành” (các việc ác không làm, các việc lành thì làm). Một khi đã giác ngộ thì dụng công phá trừ tập khí, tu tập trí huệ vô thượng. Như vậy đây là một vị giác ngộ trong giới hữu tình. “Giác” là đối nghịch với “mê”, nên Bồ tát là một chúng sanh không còn mê muội; vì bởi không còn mê muội nên trong hành động không còn vô minh nữa.

Chúng ta bây giờ phàm làm việc gì cũng là hành động trong sự vô minh, bởi lý do chúng ta không có trí huệ chân chánh. Gặp việc là chúng ta không biết xử trí cách nào cho đúng, tiến chẳng biết tiến, thoái chẳng biết thoái. Chúng ta không phải là kẻ đã tự giác; còn hàng Nhị thừa thì tuy đã tự giác rồi, hành động không còn hồ đồ nữa, nhưng họ không đem các pháp môn giác ngộ đó nói cho mọi người biết để tất cả đều được giác ngộ. Bồ tát thì không những đã được tự giác, lại còn truyền bá trí huệ giác ngộ đó cho hết thảy mọi người, khiến cho những ai thực lòng mong ước giác ngộ, đều có thể theo phương pháp đó mà đạt được kết quả. Vậy là Bồ tát đã tự giác lại còn đi giác ngộ người khác, tức là tự giác, giác tha. Tuy nhiên sự giác ngộ của Bồ tát vẫn chưa tới chỗ viên mãn.

Phật thì sao? Phật thì tự giác, giác ngộ chúng sanh, sự giác ngộ của Phật lại đạt tới độ viên mãn-ba hạnh giác ngộ đều viên mãn, do đó có câu “tam giác viên, vạn đức cụ”, cả vạn đức hạnh đều toàn vẹn, như vậy mới gọi là Phật.

Chỗ này đương nói về Bồ tát. Vậy nếu Bồ tát vẫn giữ bước tiến tu thì cũng sẽ chứng được quả Bồ tát Đẳng giác, chỉ thua Phật một bậc. Hàng Bồ tát cũng có nhiều bậc, có Bồ tát Sơ địa, Bồ tát Nhị địa, Tam địa, Tứ địa,… cho đến Bồ tát Thập địa. Bồ tát Thập địa gọi là Bồ tát Đẳng giác. “Đẳng” là ngang hàng, ý nói ngang với độ giác ngộ của Phật, nhưng vẫn còn kém thua một chút.

Trong pháp hội của Đức Phật Dược Sư có các hàng Bồ tát như trên. Bồ tát Ma-ha-tát tức là Đại Bồ tát. Gọi là “đại” tức là chỉ nguyện lực lớn, trí huệ lớn, công phu tu hành và đạo nghiệp tu hành đều lớn. Số Bồ tát như thế hiện diện trong pháp hội Dược Sư là ba vạn sáu ngàn vị.

“Các quốc vương, đại thần”:Một số quốc vương cũng có mặt trong Pháp hội. Họ là vua một nước, lo việc trị vì để mang lại hạnh phúc cho toàn dân. Bên cạnh có các vị đại thần, họ là những người phụ tá của vua để lo việc trị nước.

“Các Bà-la-môn”:Bà-la-môn là một giai cấp quý tộc ở Ấn. Nước Ấn độ có bốn giai cấp-hai giai cấp tôn quý và hai giai cấp hạ tiện. Bà-la-môn là một hàng quý tộc và cũng là một loại ngoại đạo theo pháp tu khổ hạnh. Họ cũng ăn chay, nhưng họ cầu sanh về cõi trời, tâm tham hãy còn, tâm sân chưa hết, tâm si và vọng tưởng cũng chưa hàng phục được. Họ chỉ là những người tu khổ hạnh thanh tịnh, đại loại giống như hàng đạo sĩ ở Trung Hoa, tuy hình tướng chẳng giống nhau, nhưng tôn chỉ tu hành chẳng sai khác. Bà-la-môn chính là những người tu ngoại đạo tại Ấn độ. Trong hàng Bà-la-môn cũng đã có khá nhiều người tu đạo đạt được đôi chút công phu.

“Các cư sĩ”:Đây là một danh xưng, dùng trong việc xưng hô. Người khác xưng hô mình như vậy chớ không phải chính mình tự xưng là “cư sĩ”. Tôi thấy có một số người, dĩ nhiên không phải hàng xuất gia, nhận mình là cư sĩ, rồi cho in lên tấm danh thiếp tên của mình với danh xưng cư sĩ; nói chuyện với ai cũng tự xưng tôi là cư sĩ tên này, cư sĩ tên kia chẳng hạn. Như vậy là kém hiểu biết.

Lối xưng hô phổ thông tại Trung Hoa là dùng hai chữ “tiên sinh”. Người khác có thể dùng hai chữ đó để xưng hô ta, chớ ta không thể tự xưng là tiên sinh được. Thí dụ tôi hỏi: “Ông là ai?” Anh trả lời: “Tôi là Triệu tiên sinh, là Lý tiên sinh, hoặc Tiền tiên sinh v.v..” Trả lời như vậy tức là chẳng biết tiếng Trung Hoa.

Chữ “tiên sinh” thường dùng để xưng hô đối với những vị có học vấn, hoặc lớn tuổi và có đức hạnh, hoặc những người lịch lãm. Chữ “cư sĩ” là dành cho những ai đủ mười loại mỹ đức. Nếu quý vị chẳng được như vậy thì không xứng đáng với danh xưng này. Lại nói đến mấy chữ “Pháp sư” nữa, phải để cho người khác gọi ta, chớ ta không thể tự xưng mình là Pháp sư được, bởi như vậy có khác gì tự mình tán tụng mình, tự mình xưng mình là hoàng đế? Chữ “hoàng đế” cũng phải để người khác tung hô, như tung hô: “Hoàng đế vạn tuế!” Tự mình không thể xưng hô như vậy! Dùng chữ “cư sĩ” để xưng hô là có ý cung kính, cung kính người khác, chớ không phải cung kính chính mình. Anh đối với chính anh, trong lòng cung kính, điều này nên lắm, nhưng không cần biểu lộ ra ngoài. Về văn hóa Trung Hoa, vấn đề học vấn là vô cùng tận. Sai một ly đi một dặm. Trên đây chỉ là những điều thường thức, chẳng có gì là thâm sâu, nhưng chúng ta phải lưu ý.

“Tám bộ trời rồng” (Thiên Long Bát Bộ): Đạo tràng của chúng ta hiện nay đều có các vị thiên long che chở. Chắc mọi người còn nhớ thời gian mới dọn tới Kim Luân Thánh Tự và khi bắt đầu tu sửa, ở lưng trời người ta thấy có đức Bồ tát Quán Âm hiện ra. Ngài đặt chân trên lưng con rùa và thị hiện ở không trung.

Một chuyện khác là hồi đó, có người cho tôi hay rằng ngay tại góc đường phía đông của khu này có một quán rượu. Trong quán có đủ thứ trò quỷ quái, nào ma túy, nào rượu, nào thoát y vũ, đi vào đi ra toàn là hạng ăn chơi trụy lạc. Đương lúc chúng ta sửa soạn để khai quang cho đạo tràng thì quán rượu này bị cảnh sát ra lệnh đóng cửa. Khu này ngày trước uế tạp nay trở thành khang trang sạch sẽ. Đó chính là nhờ tám bộ Thiên long ủng hộ cho đạo tràng nên mới có sự cảm ứng như vậy.

Chỗ đạo tràng này nguyên là một ngôi giáo đường (nhà thờ) cũ. Cư dân đa số là hỗn tạp, họ ăn ở thiếu sạch sẽ, khi ăn khi uống tùy tiện xả rác, thành thử loài chuột kéo đến rất đông. Chúng ta đến đây để hoằng dương Phật Pháp, nên bổn phận của bát bộ thiên long tất phải hộ trì đạo tràng, do đó họ phải đuổi loài chuột đi nơi khác. Thực ra, tôi chẳng có vấn đề gì với loài chuột, nhưng có chuột thì thiếu vệ sinh, khiến cho những ai đến đây đều có cảm tưởng nơi này là dơ bẩn. Bởi vậy chúng ta phải cầu sự giúp đỡ của thiên long bát bộ, xin các vị ấy hãy làm nhiệm vụ ủng hộ đạo tràng, bằng cách xua đuổi chuột cùng các thành phần bất hảo ra khỏi nơi này.

“Tám bộ” (bát bộ) là chỉ trời, rồng, dạ xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già và ca-lâu-la. Các vị này đều hộ trì đạo tràng. Hôm nay, nhân dịp tôi giảng tới chỗ này mà nhắc tới các vị thiên long. Vậy xin các vị hãy làm nhiệm vụ của mình, nhất định sẽ ra tay hộ trì cho đạo tràng của Phật.

Các chư thiên ở trên cõi trời trong quá khứ đã từng phát nguyện ủng hộ đạo tràng của Phật.

Rồng thuộc loài linh vật, cũng là một chúng sanh. Tại sao lại làm thân rồng? Trong quá khứ họ đã tu đạo, nhưng tu theo kiểu “thừa cấp giới hoãn”, nghĩa là tu các thừa thì gấp gáp, mà trì giớithì trễ nãi. Chữ “thừa” ở đây là chỉ Tiểu thừa, Đại thừa. Họ nguyện tu các pháp Đại thừa, nguyện tinh tấn, dũng mãnh, nhưng lại muốn đi đường tắt cho mau, muốn được thần thông. Do đó họ đi khắp nơi tìm Phật Pháp, kiếm Mật tông và chuyên tu theo tông này. Cách thức họ tu như thế nào? Họ không chú trọng giới luật, không giữ giới. Những người giữ giới phải luôn luôn theo đúng câu: “Việc ác thì tránh, việc lành thì làm”, trong khi đó, họ ăn cắp đầu lâu của xác chết để luyện công, niệm chú. Có khi họ ăn cắp bài vị tổ tiên của gia đình người ta, rồi biến các vong linh đó làm quỷ để sai khiến. Chữ “thừa cấp” là nói về sự tinh tấn, dũng mãnh của họ trong việc luyện công, đặng có thể tiến bộ mau như hỏa tiễn vậy. “Giới hoãn” là nói họ không coi trọng giới luật, mặc sức hành động; kể cả các giới như giết hại, ăn cắp, dâm dục, họ đều không tuân thủ. Vậy thì còn nói gì nữa! Quý vị coi! Họ ăn cắp đầu lâu, ăn cắp bài vị tổ tiên của nhà người ta, lấy cả mấy cây trồng trên mộ phần để luyện phép; vì tu pháp với tâm tham như vậy, do đó mới có câu “thừa cấp, giới hoãn”.

Vì thế mà phải đọa mang thân rồng, tuy có thần thông, nhưng vẫn là loài súc sinh. Tuy nhiên, rồng cũng là loại linh vật, có thể thu nhỏ, có thể hiện lớn, khi ẩn khi hiện vô chừng. Có điều chúng rất sợ ánh sáng mặt trời, bởi một khi có ánh sáng chiếu tới chúng cảm thấy khổ sở như bị lửa đốt thân, khiến chúng phải đổ mưa xuống, giống như người ta tắm gội vậy.

Dạ xoa còn gọi là “tiệp tật quỷ”, nghĩa là con quỷ chạy nhanh. Có loại chạy trên không, gọi là không hành; có loại chạy dưới đất gọi là địa hành; cũng có loại đi dưới nước gọi là thủy hành. Chúng chạy nhanh hơn xe hơi, hơn cả máy bay, có thể so với hỏa tiễn, nhưng hỏa tiễn cũng không thể thần tốc bằng dạ xoa, chỉ cần một niệm là ngàn dặm, vạn dặm cũng tới được.

Dạ xoa cũng có nhiều chủng loại, kể cả ngàn vạn thứ khác nhau, giống như các loại chư thiên và rồng, không thể kể hết được. Loài người chúng ta cũng có loài da trắng, da đen, da vàng chẳng hạn, rồi trong số này lại phân chia thành quý vị ở phương bắc, tôi ở phương nam, người này ở đông, kẻ kia ở tây. Trong số rồng thì có rồng xanh, rồng vàng, rồng lửa, rồng trắng, rồng đen v.v.. Mỗi loài chúng sanh đều chia thành nhiều hạng. Trên thế giới này có biết bao nhiêu loại chúng sanh, rồi mỗi loại lại phân thành ngàn vạn giống có hình tướng khác nhau, đa dạng vô cùng, đó chính là điều kỳ diệu của thế gian.

Không ai hiểu được sự bí mật của tạo hóa. Có người bảo rằng: “Ngày nay người ta đã lên tới cung trăng, vậy chuyện gì con người cũng sẽ làm được cả, chẳng có gì là không biết được”. Quý vị nên nhớ rằng dẫu từ địa cầu này quý vị có thể lên tới các tinh cầu khác, nhưng có biết đâu, chỉ cần một trái bom nguyên tử hay bom khinh khí nổ tung, một trận động đất hay núi lửa bộc phát, dù đó là thiên tai hay do con người tác động, thì nguy cơ hủy diệt nhân loại vẫn có thể xảy ra. Càng ngày bí mật của thế giới càng được khám phá, các vấn đề lần lượt được sáng tỏ, nhưng khi sáng tỏ đến cực điểm thì màn hắc ám lại trở lại. Tôi nói một tỷ dụ: buổi ban mai chúng ta thức dậy, trời rạng sáng, rồi tới khi sáng đến cực điểm thì dần dần về chiều; trời tối, chúng ta đi ngủ và nhắm mắt đi vào giấc mơ với đầu óc mù mờ. Trong thế gian này, chuyện lớn chuyện nhỏ tất cả đều đi theo cái vòng tuần hoàn này.

Càn-thát-bà là loại biết âm nhạc, tấu nhạc hay vô cùng. Mỗi khi chúng cử nhạc thì tất cả chư thiên thượng giới đều chú ý lắng nghe đến say mê túy lúy như người uống rượu, không còn biết đến chuyện gì chung quanh. Tuy nhiên không dễ gì bảo chúng tấu nhạc cho chúng ta nghe. Chúng có một nhược điểm là ưa ngửi mùi hương. Ở đâu có mùi hương thì dầu xa xôi cả ngàn vạn dặm chúng cũng tới ngay được để thưởng thức hương thơm. Vua trời có một thứ hương, chuyên dùng để chiêu dụ càn-thát-bà. Có mùi hương thì càn-thát-bà liền tới, rồi ở đấy nhảy múa, ca hát, tấu nhạc, nên càn-thát-bà còn được gọi là “khứu hương thần”, nghĩa là thần ngửi hương.

Ở trên đã nói qua về loài rồng. Vậy trong loài rồng có tám vị long vương (vua rồng), loài càn-thát-bà thì có bốn càn-thát-bà vương.

A-tu-la là loài hay nổi giận. Người nào hay tức giận đều ít nhiều có hạt giống a-tu-la. Tại thiên giới, a-tu-la được gọi là loài không có rượu (vô tửu), bởi chúng không có rượu để uống. Chúng còn được gọi là loại phi thiên, tức không phải là dân thuộc thiên giới. Tại chốn này chúng chỉ là kẻ cư ngụ bất hợp pháp, tuy rằng a-tu-la cũng được xếp vào hàng chúng sanh của một cõi lành (thiện đạo) trong sáu cõi của dục giới. Tại thiên giới chúng thường giao tranh với các thiên tướng, thiên binh, để lật đổ ngôi vua trời đặng có thể trở thành Thích-đề-hoàn-nhân (Đế thích).

A-tu-la cũng có bốn loại. Chúng có thiên phước mà không có thiên quyền, nghĩa là chúng ở trên thiên giới và được hưởng phước nơi đây, nhưng lại chẳng có quyền hành như chư thiên; đại loại như các cư dân sống bất hợp lệ ở nước Mỹ, tuy được hưởng các tiện nghi của nước Mỹ (đó là phước báo của họ), nhưng họ không có quyền tham gia vào việc điều hành của quốc gia này.

Ca-lâu-la là giống chim đại bàng cánh vàng, có thể biến thành lớn, thành nhỏ, khi ẩn, khi hiện. Cánh chim trải rộng ra có thể tới ba trăm ba mươi do-tuần. Mỗi do-tuần dài chừng 40 miles (dặm), vậy ba trăm ba mươi do-tuần thì quý vị tưởng tượng nó xa tới đâu! Mỗi khi chim bằng vỗ cánh, nước biển bị quạt hết thì cung điện loài rồng đâu còn nữa! Rồng lớn, rồng nhỏ đều bị nuốt hết. Quý vị bảo: “Ghê gớm như vậy ư!”. Cũng chưa ghê gớm lắm đâu!

Ca-lâu-la thần thông quảng đại, nên loài rồng rất sợ ca-lâu-la. May là chúng đã quy y Phật, sống hòa bình không còn tàn sát các giống khác. Ca-lâu-la cũng có bốn loại, muốn biết thêm chúng có những tên gì, thì hãy xem trong “Phẩm Tựa” của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở đấy nói rất rõ ràng.

Thần thông biến hóa của loại đại bàng cánh vàng này thật là không thể nghĩ bàn. Chúng vỗ cánh một cái thì nước biển bị tát cạn, vỗ cánh hai cái là núi bị bạt đi, lấp bằng đáy biển. Đó là thần thông dời núi lấp biển của ca-lâu-la.

Khẩn-na-la thì như thế nào? Chúng cũng biết âm nhạc, còn được gọi là “nghi thần” bởi vì hình dáng giống người, ngoại trừ trên đầu có một cái sừng. Chúng chơi âm nhạc rất giỏi.

Ma-hầu-la-già là một loại trăn lớn.

Nói chung, thiên long bát bộ đều xuất thân từ các hạng yêu ma quỷ quái, rồi về sau cải tà quy chánh, theo về Phật, trở thành một giới hộ pháp. Ngẫm lại, người bạc ác mà biết hồi đầu, đều biết làm các điều thiện, cho nên có câu nói: “Bể khổ không bờ, quay đầu là bến”. Phạm những tội thập ác, ngũ nghịch, nhưng biết sửa lỗi lầm thì vẫn có thể trở thành người tốt.

Tám bộ quỷ thần này tự cảm thấy nhiều lỗi lầm trong quá khứ, bởi đã phá hoại pháp Phật, làm tổn thương Phật giáo. Tới khi lương tâm nhận ra điều này, chúng đã phát nguyện làm hộ pháp.

“Người và chẳng phải người”:“Người” là chỉ những người phát tâm đến hộ trì Phật giáo. “Chẳng phải người” tức là không phải loài người, chỉ các loài chúng sanh khác cũng phát tâm hộ trì Tam Bảo.

“Vô lượng đại chúng, thảy đều cung kính vây quanh nghe Phật thuyết pháp.”:Đông không kể xiết, cả thảy đều cung kính vây quanh nghe Phật thuyết pháp.

Lúc đó đại chúng trong pháp hội rất đông, không thể kể gồm bao nhiêu người, tất cả cung kính vây kín xung quanh đức Bạc-già-phạm, và Ngài thuyết pháp cho các chúng sanh trong pháp hội cũng như các chúng sanh trong đời vị lai.

Lúc bấy giờ, con của đấng Pháp Vương là ngài Mạn-Thù-Thất-Lợi, nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch một vai áo, gối phải quỳ sát đất, hướng về Bạc-Già-Phạm, cúi mình chắp tay, bạch rằng: “Thế Tôn! Xin Ngài diễn thuyết về tướng loại như thế, những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn cùng những công đức thù thắngcủa chư Phật, cho những người nghe đều hết nghiệp chướng, và vì sự lợi lạc của các hữu tình khi Tượng Pháp chuyển”.

Nhĩ thời Mạn Thù Thất Lợi Pháp vương tử, thừa Phật uy thần, tòng tòa nhi khởi, thiên đản nhất kiên, hữu tất trước địa, hướng Bạc Già Phạm, khúc cung hợp chưởng, bạch ngôn: “Thế tôn! Duy nguyện diễn thuyết, như thị tướng loại chư Phật danh hiệu, cập bổn đại nguyện thù thắng công đức, linh chư văn giả, nghiệp chướng tiêu trừ, vi dục lợi lạc, Tượng pháp chuyển thời, chư hữu tình cố”.

“Lúc bấy giờ, con của đấng Pháp Vương là ngài Mạn Thù Thất Lợi…” Ngài Mạn Thù Thất Lợi hay Văn Thù Sư Lợi, còn được gọi là “Pháp Vương tử,” nghĩa là con của đấng Pháp Vương. Phật là Pháp Vương, các Bồ tát là con của Pháp Vương, nhất là ngài Văn Thù Sư Lợi lại là một vị Bồ tát Đẳng giác, sắp sửa thành Phật.

Vậy, lúc bấy giờ ngài Văn Thù Sư Lợi“nhờ oai thần của chư Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch một vai áo …” Bên vai nào? Chính là vai bên phải. Để lộ bên vai phải là có ý nghĩa gì? Thứ nhất, theo phong tục của người Ấn, khi khí trời nóng nực, họ trật một bên vai áo để hơi nóng ở trong mình thoát ra. Thứ hai, hở vai bên phải là cách thức tỏ bày sự cung kính, cung kính bằng cả thân và tâm. Một bên là tùy thuận thế tục, một bên là cầu pháp xuất thế, nên biểu thị sự cung kính. Chân nhưng không ly tục, tục chẳng ly chân, hai thứ chẳng chướng ngại nhau.

Ngài “gối phải quỳ sát đất, hướng về Bạc Già Phạm--hướng tới Phật--rồi cúi mìnhchắp tay”(biểu thị thân và tâm đều cung kính, ba nghiệp đều thanh tịnh), và “bạch rằng…” Ngài thưa vớiPhật rằng:

“Thế Tôn! Xin Ngài diễn thuyết về tướng loại như thế”:ý nói rằng chúng con, tất cả chỉ có một nguyện ước, là được nghe Phật nói cho biết những tướngnhư thế, những loạinhư thế. Tướng loại gì? Chính là “những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn cùng những công đức thù thắngcủa chư Phật”. “Bổn nguyện” là chỉ các nguyện lớn đã lập trong đời quá khứ, trong thời gian Ngài hành đạo Bồ tát, công đức tích lũy như thế nào mà được thù thắng.

“Cho những người nghe đều hết nghiệp chướng”: nghĩa là khiến cho những ai nghe đến nguyện lực, công đức vô lượng đó đều có thể giải trừ nghiệp chướng mà được thanh tịnh.

“Và vì sự lợi lạc của các hữu tình khi Tượng Pháp chuyển”:đây lại còn vì lợi ích của cả các loài hữu tình vào thời Tượng Pháp trong tương lai. Trong thời Tượng Pháp, mọi người đều chú trọng việc xây chùa, mà không chú trọng việc tu tập. Chùa miếu chẳng qua là một nơi có tượng của Phật, còn người tu chân chính thì rất là ít. Nói chúng sanh hữu tình là nói loài có khí, có huyết, còn như không có khí và huyết thì gọi là chúng sanh vô tình, tức các loài thảo mộc.

Bấy giờ Thế Tôn tán thán đồng tử Mạn Thù Thất Lợi rằng: “Hay lắm! Hay lắm! Mạn Thù Thất Lợi! Ông lấy lòng đại bi, khuyên mời Ta nói về danh hiệu và công đức bổn nguyện của chư Phật, để dẹp cho hết nghiệp chướng ràng buộc loài hữu tình, để cho lợi ích an lạc các loài hữu tình khi Tượng Pháp chuyển.Các ông hãy nghe kỹ, tư duy cho khéo, nay Ta sẽ nói cho các ông nghe”.

Mạn Thù Thất Lợi bạch rằng: “Xin vâng! Xin Thế Tôn nói, chúng con rất thích nghe”.

Nhĩ thời Thế Tôn tán Mạn Thù Thất Lợi đồng tử ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Mạn Thù Thất Lợi! Nhữ dĩ đại bi, khuyến thỉnh ngã thuyết chư Phật danh hiệu, bổn nguyện công đức, vi bạt nghiệp chướng sở triền hữu tình, lợi ích an lạc, Tượng Pháp chuyển thời, chư hữu tình cố. Nhữ kim đế thính, cực thiện tư duy, đương vi nhữ thuyết”.

Mạn Thù Thất Lợi ngôn: “Duy nhiên! Nguyện thuyết, ngã đẳng nhạo văn”.

“Bấy giờ Thế Tôn tán thán đồng tử Mạn Thù Thất Lợi rằng”:Lúc bấy giờ, Phật khen ngợi đồng tử Văn Thù Sư Lợi. Gọi là “đồng tử” là vì Ngài nhập đạo lúc còn là trẻ thơ, sau đó tu hành đạo Bồ tát, để rồi thành bậc thượng thủ trong hàng Bồ tát. Phật khen như thế nào? “Thiện tai! Thiện tai! Mạn Thù Thất Lợi!” Đức Phật khen Ngài rằng: “Hay lắm! Hay lắm! Ông thực là một vị Bồ tát tốt!Vì lẽ gì mà Phật đưa ra những lời khen tặng như vậy?

Bởi vì “Ông lấy lòng đại bi, khuyên mời Ta nói về danh hiệu và công đức bổn nguyện của chư Phật”. Phật nói: “Ông đã vận dụng một tâm lượng đại bi rộng lớn, hướng tới hết thảy mọi chúng sanh, dầu họ có duyên hay không có duyên với Phật Pháp, và đã thỉnh Ta nói về danh hiệu của chư Phật cùng những công đức bổn nguyện của các Ngài”.

“Để dẹp cho hết nghiệp chướng ràng buộc loài hữu tình, để cho lợi ích an lạc các loài hữu tình khi Tượng Pháp chuyển.”Nghĩa là nhằm dẹp bỏ các nghiệp chướng đương trói buộc các loài hữu tình, những nghiệp chướng đã đưa họ vào ba đường ác, đẩy họ vào bể khổ; vì sự lợi ích cứu độ các hữu tình trong thời Tượng pháp, mang cho họ sự tự do, an lạc, hết phiền não.

Bây giờ, “các ông hãy nghe kỹ, tư duy cho khéo, nay Ta sẽ nói cho các ông nghe.

Mạn Thù Thất Lợi bạch rằng: “Xin vâng! Xin Thế Tôn nói, chúng con rất thích nghe”. Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Xin vâng! Chúng con ước mong Phật nói, chúng con rất thích nghe”.

Phật bảo Ngài Mạn Thù Thất Lợi: “Về phía đông kia, cách đây nhiều Phật độ bằng mười lần số cát sông Căng-già, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly, đức Phật cõi ấy danh hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạc Già Phạm.

Ông Mạn Thù Thất Lợi! Khi đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, còn đương hành đạo Bồ tát, Ngài đã phát ra mười hai nguyện lớn, khiến cho các loài hữu tình cầu gì cũng được”.

Phật cáo Mạn Thù Thất Lợi: “Đông phương khứ thử quá thập Căng Già sa đẳng Phật độ, hữu thế giới danh Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạc Già Phạm.

Mạn Thù Thất Lợi! Bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, bổn hành Bồ tát đạo thời, phát thập nhị đại nguyện, linh chư hữu tình, sở cầu giai đắc”.

Phật bảo Ngài Mạn Thù Thất Lợi--Đức Phật nói với Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Về phía đông kia, cách đây nhiều Phật độ bằng mười lần số cát sông Căng-già, cách thế giới Ta-bà một số Phật độ bằng mười lần số cát sông Căng Già,có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly.” “Căng Già” (Ganga) tức là Hằng hà; “Phật độ” tức là Phật quốc; “thế giới Tịnh Lưu Ly” là ngụ ý một thế giới thanh tịnh trong suốt như lưu ly.

“Đức Phật cõi ấy danh hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.Ngoài ra, giống như các đức Phật khác, Ngài cũng có mười danh hiệu, kể ra là: Như Lai; Ứng Chánh Đẳng Giác(có nghĩa là Chánh Đẳng Chánh Giác); Minh Hạnh Viên Mãn (tức sự tu hành và trí huệ của Ngài đạt tới chỗ viên mãn); Thiện Thệ Thế Gian Giải(trí huệ cao vời và hiểu biết hết mọi sự của thế gian); Vô Thượng Sĩ; Điều Ngự Trượng Phu; Thiên Nhân Sư(thầy của trời và người); Phật; Bạc Già Phạm(Thế Tôn).

“Ông Mạn Thù Thất Lợi! Khi đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, còn đương hành đạo Bồ tát, Ngài đã phát ra mười hai nguyện lớn.” Theo lời Phật nói với Ngài Văn Thù Sư Lợi thì trong thời gian chưa thành Phật, tức thời kỳ nhân địa, đang tu đạo Bồ tát, đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã lập mười hai đại nguyện. Phàm người tu hành đều cần phải phát nguyện, phát những lời nguyện chân chánh, phát xuất từ trong tâm, rồi theo đó mà thực hành.

Đức Thế Tôn Dược Sư phát nguyện là để “khiến cho các loài hữu tình cầu gì cũng được”. Ngày nay chúng ta tu hành tương đối dễ dàng hơn so với đức Thích Ca, vì Ngài đã phải trải qua ba kiếp lớn a-tăng-kỳ, nghĩa là vô lượng kiếp, tu hành mới thành được quả Phật. Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cũng vậy. Còn như chúng ta hiện nay chỉ cần nương nhờ vào nguyện lực của các Ngài và di sản của các Ngài để lại cho chúng ta, ý nói đó là Phật Pháp chứa đựng trong Ba tạng mười hai phần kinh.

Liệu chúng ta có thể nhận di sản này để thừa hưởng chăng? Điều đó còn phải hỏi lại, xét xem chúng ta có phải là Phật tử chân chánh hay không? Giả tỷ công đức của chúng ta chưa đủ, chúng ta chưa thực tâm muốn thành Phật tử chân chánh thì chẳng thể nào thừa hưởng được di sản của Phật, loại Pháp bảo vô thượng này.

Nay Phật Lưu Ly Quang đã phát mười hai điều nguyện lớn, nên hết thảy mọi chúng sanh hữu tình có thể cầu thứ gì được thứ ấy. Quý vị căn cứ vào câu kinh “sở cầu giai đắc”(cầu gì cũng được), thì sẽ thấy bất luận điều gì mà quý vị mong cầu, quý vị sẽ được toại lòng xứng ý, quý vị sẽ chóng thành Phật. Các vị Phật trong quá khứ đã từng phát nguyện như vậy và, nhờ vào nguyện lực đó, chúng ta dụng công ít mà thành tựu nhiều, chúng ta đạt quả vị cao mà công sức không nhiều lắm. Do đó gặp được pháp này, chúng ta phải hết sức tinh tấn, sanh tâm hoan hỷ lớn và đạt được niềm pháp hỷ sung mãn.

Nguyện lớn thứ nhất: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì tự thân ta sáng trưng rực rỡ, chiếu soi tất cả vô lượng vô số vô biên thế giới, có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ tùy hình, trang nghiêm thân ta, khiến cho các loài hữu tình đều được như ta không khác.

Đệ nhất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thời, tự thân quang minh, xí nhiên chiếu diệu, vô lượng vô số vô biên thế giới, dĩ tam thập nhị đại trượng phu tướng, bát thập tùy hình, trang nghiêm kỳ thân, linh nhất thiết hữu tình, như ngã vô dị.

Chư Phật và chư Bồ tát trong quá khứ đã từng lập vô lượng vô biên nguyện lớn để lợi ích cho chúng sanh, tới khi các ngài thành Phật thì các nguyện lực đó đều thành hiện thực, do đó hết thảy chúng sanh trong mười phương đều được thâu nhiếp. Nguyện lực có thể ví như cục đá nam châm, còn chúng sanh ví như chất sắt. Nguyện lực lớn thì sức hút mạnh, khiến cho bao nhiêu chúng sanh trong khắp mười phương, dầu nghiệp chướng nặng nề đến chừng nào, cũng đều bị nguyện lực thâu hút.

Do nguyện ý của Ngài là muốn giúp đỡ các chúng sanh, nên giữa hai đàng có nhân duyên đặc biệt với nhau. Bởi vậy, tuy chúng sanh bị vô minh che lấp, nhưng linh tri và linh giác của họ có thể cảm nhận được nhân duyên này.

Lúc xưa, Dược Vương Bồ tát đã từng tự thiêu để cúng dường Phật, hy sinh thân mình như vậy, còn chúng ta ngày nay, đừng nói tự thiêu toàn thân, ngay đến thiêu một ngón tay cũng chưa dám thực hiện.

“Nguyện lớn thứ nhất”:Dược sư Lưu Ly Quang có lời nguyện đầu tiên như thế nào?

“Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì...”. Ngài nói Ngài hy vọng rằng trong đời tương lai, khi Ngài chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là thành quả vị Phật; lúc đó “tự thân ta sáng trưng rực rỡ, chiếu soi tất cả vô lượng vô số vô biên thế giới.”Thân Ngài sẽ sáng chói, rực rỡ, chiếu soi tới tận vô lượng, vô số, vô biên thế giới; “có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ tùy hình, trang nghiêm thân ta.”Khi ấy, có đủ cả ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ đẹp, trang nghiêm trên thân Ngài.

“Khiến cho các loài hữu tình đều được như ta không khác.”“Khiến cho hết thảy các loài hữu tình cũng được như ta, không khác,” tức là thân hình của chúng hữu tình cũng đủ các tướng trang nghiêm như ta và cũng sáng trưng chiếu khắp vô lượng, vô số, vô biên thế giới. Nguyện lực của ta là như vậy đó, ta không muốn chỉ riêng mình thành Phật, riêng mình sáng trưng, mà muốn rằng các chúng sanh được ta chiếu soi tới cũng sẽ có được thân thể giống như ta.

Nhân vì Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang đã có lời phát nguyện đó, cho nên ngày nay khi nghe tới công đức bản nguyện này, chúng ta thấy được cơ hội có thể có được một tấm thân sáng trưng như Ngài. Chúng ta không nên tự coi thường mình. Quý vị bảo rằng quý vị chẳng cần có thân thể sáng chói, sáng hay không sáng cũng chẳng có ích lợi gì. Vậy chớ thân hình không sáng thì có ích lợi hay sao?

Nguyện lớn thứ hai: Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo Bồ-đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, sạch không vết nhơ, sáng sủa rộng lớn, công đức cao vời, thân khéo an trú, lưới sáng trang nghiêm, sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng. Chúng sanh ở nơi tối tăm, đều được sáng bừng, đâu cũng làm được, mọi sự như ý.

Đệ nhị đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, thân như lưu ly, nội ngoại minh triệt, tịnh vô hà uế, quang minh quảng đại, công đức nguy nguy, thân thiện an trú, diệm võng trang nghiêm, quá ư nhật nguyệt, u minh chúng sanh, tất mông khai hiểu, tùy ý sở thú, tác chư sự nghiệp.

“Nguyện lớn thứ hai: Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo Bồ-đề, thân ta như ngọc lưu ly.”Nguyện lớn thứ hai là khi ta thành Phật, thân ta sẽ giống như lưu ly. “Trong ngoài sáng suốt”, nghĩa là trong suốt từ trong ra ngoài; “sạch không vết nhơ”, bên trong không có vết, không có chỗ nhơ, bên ngoài cũng vậy, hoàn toàn trong sạch; “sáng sủa rộng lớn”, không thể nói là sáng rực tới độ nào, chỉ biết là sáng sủa rộng lớn; “công đức cao vời”, công đức thì cao vời; “thân khéo an trú (thân thiện an trú), thân thể của ta an ổn, không một bệnh tật gì; “lưới sáng trang nghiêm”, trang nghiêm bằng một thứ lưới sáng rực; “sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng”, sáng hơn cả mặt trời, mặt trăng. “Chúng sanh ở nơi tối tăm”, các chúng sanh ở nơi tối tăm; “đều được sáng bừng”, đều được sáng rực như vậy; “đâu cũng làm được”, tùy ý muốn đến chỗ nào thì được chỗ ấy; “mọi sự như ý”, việc gì cũng thành tựu, mọi sự như ý nguyện.

Chúng ta thấy quả là Phật hết sức thông cảm cho các chúng sanh, dầu một chi tiết nhỏ có thể lợi ích cho chúng sanh Phật cũng không bỏ sót. Không ai quan tâm và thân thiết với chúng ta bằng Phật.

Nguyện lớn thứ ba: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Bồ-đề, ta dùng vô lượng vô biên phương tiện trí tuệ, khiến cho chư hữu tình đều được mọi vật thọ dụng vô cùng, chẳng để chúng sanh có chỗ thiếu sót.

Đệ tam đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, dĩ vô lượng vô biên trí huệ phương tiện, linh chư hữu tình, giai đắc vô tận sở thọ dụng vật, mạc linh chúng sanh hữu sở phạp thiểu.

“Nguyện lớn thứ ba”:Đức Dược Sư phát lời nguyện lớn này khi Ngài còn là một Tỳ-kheo trong đời quá khứ. Thuở ấy, Ngài cũng giống như quý vị, như tôi hay các chúng sanh khác, chỉ không giống là ở chỗ Ngài tự phát ra lời nguyện lớn, nên Ngài đã sớm thành Phật. Còn như chúng ta, thì quả là ích kỷ, tự lợi, tham lam, truy cầu, tranh chấp nhau, không muốn lập nguyện lớn. Bởi vậy, cho đến nay chúng ta chưa thành Phật được.

Ngài nói: “Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Bồ-đề, ta dùng vô lượng vô biên phương tiện trí tuệ”: Ta nguyện đời sau, khi ta thành Phật, ta sẽ lấy những phương tiện trí huệ, vô số kể và vô bờ bến - đây là phương tiện trí huệ, chẳng phải là phương tiện ngu si. Phương tiện trí tuệ là thế nào? Là những pháp có lợi ích cho người, pháp đó chẳng nhất thiết lợi ích cho ta, cứ loại nào có lợi ích cho người khác thì mang ra để giáo hóa. Còn phương tiện ngu si thì sao? Đó là những loại không hợp với thiện pháp, trái với thiện pháp, mà hợp với ác pháp, tương ưng với ác pháp.

Tương ưng với ác pháp là như thế này: ta lấy thí dụ khi bị muỗi cắn, ta vô ý đập chết con muỗi, rồi tự bào chữa rằng đó là “phương tiện”, không đáng kể, không phạm sát giới, không phải là phá giới. Cũng như trường hợp mỗi khi thấy ai có thứ gì hay thì ta động lòng tham, đợi đến khi người ta không chú ý bèn lấy cắp mang đi, rồi lại tự bảo rằng: “Đây không phải là ăn cắp, phương tiện mà! Người khác dùng cũng như ta dùng, có gì đâu mà phân biệt?” Kỳ thực, lấy trộm của người là không hợp pháp, tương ưng với ác pháp, vậy mà còn bảo là “phương tiện”, không có gì là quan trọng!

Về tà dâm chẳng hạn, ai cũng biết vợ chồng một khi đã kết hôn chính thức với nhau thì sự tư tình của chồng sẽ làm cho vợ không vui. Khi đã phạm điều tà dâm rồi lại còn cho rằng chuyện đó chẳng can hệ gì, chỉ là “phương tiện” thôi! Biết rõ thế nào là tà dâm nhưng vẫn cố bao che, viện hết lý lẽ để bênh vực mình, cứ một mực nghĩ rằng: “Có gì là can hệ lắm đâu? Ai mà biết được!”

Quý vị thử nghĩ coi! Nói dối, uống rượu cũng lý luận tương tự như vậy đó!

- “Ồ! Uống chút xíu rượu, uống chơi cho vui thôi! Có gì là quan trọng đâu, tôi đâu có say!”

- “Nói dối như vậy thì có gì đâu mà sợ! Có chết ai đâu mà nghiêm trọng quá vậy!”

Đây chỉ là cách tự giành lẽ phải cho mình, đó gọi là những phương tiện ác, phương tiện ngu si. Trở về kinh văn, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nói Ngài dùng phương tiện trí huệ“khiến cho chư hữu tình đều được mọi vật thọ dụng vô cùng”;nghĩa là khiến cho hết thảy các loài hữu tình đều được mọi vật thọ dụng, bất cứ thứ gì, cần gì được nấy. Chúng ta thấy Phật có tâm bố thí rất mực rộng lớn, Ngài dùng nguyện lực này để thỏa mãn các ước muốn của chúng sanh, những gì chúng sanh mong cầu, “chẳng để chúng sanh có chỗ thiếu sót”, không để cho chúng sanh thiếu thốn một thứ gì, cái gì cũng đầy đủ hết, khiến ai nấy đều xứng ý thỏa lòng, mọi sự tốt đẹp.

Nếu quý vị muốn mọi mong cầu của mình đều được thành tựu thì hãy mau mau niệm danh hiệu của Ngài hay tụng Kinh Công Đức Bổn Nguyện Của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, quý vị sẽ được toại nguyện.

Có người nói rằng: “Tôi biết rồi! Tôi niệm danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai rồi tôi đến sòng bạc tại Reno. Tôi mà thắng được một triệu đồng thì về sau tôi sẽ không đánh bạc nữa. Tôi cầu xin như vậy”. Nếu quý vị thực lòng thì rất có thể quý vị sẽ được toại nguyện; nhưng nếu quý vị nửa tin, nửa ngờ, thì quý vị sẽ không thể dối gạt được Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

Nguyện lớn thứ tư: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Bồ-đề, nếu có những hữu tình tu hành tà đạo thì ta sẽ khiến họ an trú trong đạo Bồ-đề, còn nếu tu hành hạnh Thanh văn, Độc giác thì đều an lập nơi pháp Đại thừa.

Đệ tứ đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, hành tà đạo giả, tất linh an trú Bồ-đề đạo trung, nhược hành Thanh văn, Độc giác thừa giả, giai dĩ Đại thừa nhi an lập chi.

“Nguyện lớn thứ tư”:Trong điều nguyện thứ tư này, Ngài nguyện cho hết thảy các loài hữu tình đều bỏ tà quy chánh, bỏ mê về giác, lìa khổ hưởng vui; nguyện cho ai tu Tiểu thừa đều hướng về Đại thừa, phát tâm Bồ-đề chân chánh, để tương lai thành tựu quả Phật.

Ngài nguyện rằng: “Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Bồ-đề”, tức là khi phát nguyện thì Ngài chưa thành Phật; Ngài nói về đời sau này, khi Ngài chứng quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác. “Nếu có những hữu tình”“tu hành tà đạo”, tức ám chỉ người tu pháp ngoại đạo, không cầu chánh pháp. Nói đến các loại như bùa ếm, đầu độc, cầu cơ, đồng bóng v.v.. thì người ta tin ngay; còn giảng kinh, nói pháp thì họ chẳng thấy hay ho gì. Nếu bảo họ rằng: “Anh sẽ gặp tai nạn như thế này. Muốn tránh được, anh phải làm việc này, việc kia”, nói vậy là họ tin ngay, còn giảng cho họ Phật Pháp thì chẳng ai muốn nghe. đây là bao quát hết thảy các chúng sanh. Nói chung, trong số các chúng sanh, kẻ có chánh tri chánh kiến thì rất ít, mà kẻ có tà tri tà kiến thì lại rất nhiều: nói đến chánh pháp, ít người thông hiểu, chịu tiếp thu và thực hành. Ngược lại, nói tới tà pháp, loại bàng môn tả đạo, hoặc thứ gì có vẻ huyền bí, có vẻ dễ dàng thì tức khắc người ta đổ xô tới để theo. Bởi vậy mới nói

“Thì ta sẽ khiến họ an trú trong đạo Bồ-đề”. Tuy họ tu theo tà đạo, nhưng Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cũng cố gắng dùng các pháp phương tiện, khiến họ bỏ đường mê để quay về lối giác, bỏ tà quy chánh, dứt đường sanh tử, phát tâm Bồ-đề rộng lớn, an trú trong đạo Bồ-đề. An trúở đây có nghĩa là bỏ tà quy chánh, không còn trở lại đường tà để an ổn trú nơi đường giác. Đường giác là đường trí huệ. Quý vị có trí huệ, quý vị sẽ đi con đường chánh pháp; quý vị không có trí huệ - ngu si - quý vị sẽ đi vào con đường nhỏ, con đường của loại bàng môn, ngoại đạo. Nay, kẻ bàng môn ngoại đạo được Phật Dược Sư Lưu Ly Quang dùng phương tiện để quay về đường chân chánh của Phật giáo.

“Còn nếu tu hành hạnh Thanh văn, Độc giác”. Thanh văn là những pháp Tứ đế, gồm các món Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Còn Độc giác là chỉ về pháp tu Thập nhị nhân duyên; pháp đó tóm tắt như sau: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử. Hết thảy các chúng sanh đều do mười hai nhân duyên này mà sanh, do mười hai nhân duyên này mà diệt; như trong câu: “các hành là vô thường, đó là pháp sanh diệt; sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui” (chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp; sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc). Nếu chứng ngộ được pháp tu Mười hai nhân duyên, tức bỏ mê quay về giác, rồi sau đó bỏ tiểu mà hướng tới đại. Bỏ tiểu hướng tới đại chính là tu pháp môn Lục độ.

Thập nhị nhân duyên:

Do vô minhmà chúng ta sanh ra đời, tức là từ cái chỗ mê mờ mà sanh ra. Vô minh là gốc của phiền não, gốc của sanh tử, cũng là gốc của mọi sự phiền hà, hết thảy mọi vấn đề rắc rối. Tu là tu cái gì? Tu chính là phá vô minh. Vô minh làm cho quý vị mờ tối, không hiểu rõ việc mình làm. Hành động trong sự hồ đồ; hành động mà không hiểu, không hiểu mà vẫn hành động, đó gọi là vô minh. Vô minh chi phối hành động của quý vị, khiến quý vị thành điên đảo, mơ hồ, sống trong mơ, chết trong mộng, tham đắm các thứ như tiền của, sắc dục, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy).

Khi đã có vô minh thì nó thể hiện bằng hànhvi. Hànhvi gì? Tức là làm cái điều mà quý vị không hiểu rõ, hoăc chỉ hiểu một chút chứ không hiểu tất cả ngành ngọn. Đã có hành vi thì sẽ có dấu vết, sẽ có hình tướng lưu lại. Có hành động, tức có sự tướng, có sự tướng tất có cái tên.

Khi đương hành động thì tâm chưa khởi lên sự phân biệt. Hành động xong rồi, mới có thức, tức là tâm phân biệt, gọi là cái biết, cái tri thức. Đã biết phân biệt rồi thì sẽ có ngay bốn thứ tướng: nhân tướng, ngã tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Thức này là ý thức và tác dụng của nó mang lại danhsắc, tức là nói tới vật thể. Vật thể thành hình hài gồm có lục nhập(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý).

Bằng lục nhập, hình hài tiếp xúcvới ngoại giới; lúc đó xúc sẽ mang lại thọ(sự cảm thọ); nhờ có tâm phân biệt mà xúc đưa tới cảm thọ dễ chịu hay khó chịu, khoái cảm hay không khoái cảm, từ đó tâm ái, cái tham ái xuất hiện. Bởi vậy mới nói là “xúc duyên thọ, thọ duyên ái”, một tiến trình đi theo thứ tự đó.

Khi đã có ái, tức có ngay hữu, ý muốn chấp hữu, hướng về tự kỷ, cái ta, do đó mà dẫn tới đời sau (sinh); rồi, theo trình tự, tiến tới già và chết (lão tử).

Mười hai nhân duyên nói trên đã kể ra đủ hết tiến trình của hết thảy mọi chúng sanh trong sự luân hồi sanh tử.

Độc giác là những người ngộ lý nhân duyên này. Họ thấy các nhân duyên nối kết với nhau thành một vòng, không có đầu mối, không có chỗ đứt đoạn, do đó họ tu để ra khỏi vòng sanh tử, thoát cảnh luân hồi.

Thanh Văn và Duyên giác, tức Độc giác là hai thừa trong Phật giáo, gọi chung là Nhị thừa.

Hai thừa này thực ra chưa phải là chỗ cùng tột (cứu cánh). Ai tu và chứng được hàng Nhị thừa thì giải quyết xong vấn đề “phân đoạn sanh tử”, nhưng vẫn chưa dứt được “biến dịch sanh tử”. Bởi vậy trong kinh, đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang đã từng phát nguyện “thì đều an lập nơi pháp Đại thừa”, nghĩa là Ngài nguyện độ cho họ từ Tiểu thừa mà tiến tu Đại thừa, đặng họ phát tâm tu thành Phật đạo, tới bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nguyện lớn thứ năm: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Bồ-đề, nếu có vô lượng vô biên hữu tình, tu hành phạm hạnh trong pháp của ta, thì hết thảy đều được giới chẳng thiếu, đủ giới tam tụ; nếu có ai đã trót phạm giới, nghe tên ta rồi, lại trở về thanh tịnh, chẳng vào đường ác.

Đệ ngũ đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược hữu vô lượng vô biên hữu tình, ư ngã pháp trung, tu hành phạm hạnh, nhất thiết giai linh đắc bất khuyết giới, cụ tam tụ giới, thiết hữu hủy phạm, văn ngã danh dĩ, hoàn đắc thanh tịnh, bất đọa ác thú.

Chúng ta ngày nay sở dĩ không bị đọa vào ba đường ác là nhờ danh hiệu của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã cứu chúng ta. Giả tỷ tên của Ngài không có trên thế gian này thì e rằng tất cả mọi người đã bị đọa vào địa ngục, làm loài quỷ đói, làm súc sanh, khó mà được làm thân người. Thực vậy, với nguyện lực của Ngài thì dầu quý vị có phạm mười điều ác, ăn mặn phá giới, không làm điều lành, song nếu được nghe đến hồng danh vạn đức hạnh của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì quý vị sẽ được tiêu trừ hết tội nghiệp, lìa khổ, được vui, thoát vòng sanh tử.

Nguyên do là ngay từ thuở Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai gieo nhân tu đạo Bồ tát, Ngài đã sớm biết đa số chúng ta ngày nay không giữ giới luật, ở trong cảnh thiện ác hỗn tạp, chẳng rõ ràng, ví như nước với đất lẫn lộn, thành một chất bùn nhơ. “Nước” là trí huệ, “bùn” là vô minh. Giữ giới luật là trở về nguồn cội, là khôi phục lại trí huệ sẵn có của mình; không giữ giới luật tức là làm đục nước trí huệ bằng chất bùn vô minh vậy.

Tuy nhiên, giữ được giới luật chẳng phải là điều dễ dàng. Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai vốn biết trước tập khí và lỗi lầm của các chúng sanh là như vậy, nên trong “Nguyện lớn thứ năm”, Ngài đã nói:

“Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Bồ-đề”, đến đời sau này, khi ta thành Phật, “nếu có vô lượng vô biên hữu tình”(tức là nói hết tất cả - tôi và quý vị cũng đều nằm trong số vô lượng vô biên hữu tình đó), “tu hành phạm hạnh trong pháp của ta…”“Trong pháp của ta,” tức là Phật pháp, pháp chung của chư Phật; “tu hành phạm hạnh,” tức là tu hạnh thanh tịnh, hay nói khác là nghiêm trì giới luật. “Thì hết thảy đều được giới chẳng thiếu,”đối với bất cứ ai tu Phật pháp thì nguyện lực của ta là khiến cho tất cả giữ được giới hạnh đầy đủ, viên mãn giống như vầng mặt trăng không bị khuyết hãm; “đủ giới tam tụ”, đầy đủ giới tam tụ. Tam tụ giới gồm các giới như sau:

1. Trì nhiếp chúng sanh giới.

2. Nhiếp thiện pháp giới.

3. Nhiếp luật nghi giới thanh tịnh.

Giữ được mấy giới này quả là một sự khó khăn, cho nên nguyện của Ngài là “nếu có ai đã trót phạm giới, nghe tên ta rồi, lại trở về thanh tịnh, chẳng vào đường ác.”Nếu phạm giới chẳng hạn, sau khi nghe đến tên ta, liền được thanh tịnh trở lại, không bị đọa vào đường ác như địa ngục, ngạ quỷ hay súc sanh.

Tại sao gọi là giới tam tụ (Tam tụ tịnh giới)? “Tụ” nghĩa là tụ tập, và chữ “tụ” nói lên ý nghĩa rằng các giới này không cùng một loại. Thí dụ, nói về nhiếp luật nghitức là nói tới ba trăm lễ nghi, ba ngàn oai nghi. Chữ “nhiếp” có nghĩa là bao quát, gồm thâu hết thảy luật nghi và oai nghi. Thí dụ nói nhiếp thiện pháp, tức nói bao gồm hết thảy các thiện pháp, kể ra thì là vô lượng vô biên, chẳng phải chỉ một loại thiện pháp, như trong câu “không làm các điều ác, luôn làm các điều lành”. Còn nhiếp chúng sanhcũng là nghĩa bao gồm hết thảy các chúng sanh, và theo giới này là độ các chúng sanh thành Phật, nhiếp thâu hết tất cả không trừ một ai.

Giới tam tụ quả là nhiều, không dễ gì mà giữ được trọn vẹn. Vậy phải làm sao nếu trót lỡ phạm giới? Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã nguyện rằng nếu người nào phạm giới luật mà nghe đến danh hiệu của Ngài thì sẽ được thanh tịnh trở lại và người đó sẽ khôi phục lại tình trạng như lúc chưa phạm giới, không còn lo sợ bị đọa vào đường ác.

Quý vị nghĩ xem. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đối với mỗi người trong chúng ta quan tâm đến như vậy, chu đáo đến như vậy, chúng ta không lẽ không đáp ứng lòng từ bi của Ngài, để cố gắng tu hành, giữ gìn giới luật? Chúng ta có lý nào lại bảo rằng: “Đâu cần giữ giới làm gì, ta cứ việc phá giới! Đằng nào đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cũng đã phát nguyện cứu giúp nếu chúng ta phạm giới mà!” Nghĩ như vậy là sai lầm. Chúng ta không thể cố ý phá giới rồi ỷ lại vào Ngài như vậy.

Nguyện lớn thứ sáu:Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, mang thân hèn kém, mọi căn chẳng đủ, xấu xa ngu ngốc, mù điếc ngọng câm, què quặt lưng còng, phong hủi điên cuồng, bao nhiêu bệnh khổ, nghe đến tên ta, hết thảy đều được đoan chánh sáng suốt, mọi căn hoàn toàn, không mọi tật khổ.

Đệ lục đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, kỳ thân hạ liệt, chư căn bất cụ, xú lậu ngoan ngu, manh lung ấm á, luyến tích bối lũ, bạch lại điên cuồng, chủng chủng bệnh khổ, văn ngã danh dĩ nhất thiết giai đắc đoan chính hiệt tuệ, chư căn hoàn cụ, vô chư tật khổ.

Bộ kinh này nói về những lời nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, những lời nguyện trong đời quá khứ, trong thời kỳ tạo nhân, hay gọi là nhân địa, lúc đó Ngài đã nguyện những gì? Đến nay, những nhân đó kết thành quả gì? Hiệu lực của chúng ra sao?

Chúng ta phát nguyện cũng vậy, đó là gieo nhân, tới khi kết thành quả thì nhân gì tạo ra quả ấy, nhân lành thành quả lành, nhân ác sẽ thành quả ác.

Thế nào gọi là nguyện lành? Đó là những lời nguyện chẳng nhằm lợi ích cho mình. Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nguyện cho hết thảy mọi chúng sanh. Chẳng khi nào Phật lại phát nguyện đại khái như: “Ta nguyện khi nào thành Phật, ta sẽ hưởng phước như thế này, khoái lạc như thế kia” và quên hết các chúng sanh. Phật không bao giờ làm như vậy. Niềm vui nhất Phật chứng được, Phật không muốn hưởng một mình mà muốn chia sẻ cùng tất cả chúng sanh. Phật phát nguyện thành tựu thiện nghiệp như vậy, đời đời kiếp kiếp thực hành đạo Bồ tát, lợi mình lợi người, giác ngộ cho mình rồi giác ngộ người, độ mình độ người, tóm lại là những lời nguyện đại Bồ-đề. Các Bồ tát phát thiện nguyện chính là những lời nguyện đó, nguyện thành tựu thiện nghiệp, nguyện thành đạt thiện quả và thiện quả chính là thành Phật. Thành Phật chẳng phải là “duy ngã độc tôn”, ngự trên đỉnh cao chót vót; thành Phật chỉ là có trí huệ vượt trên chúng sanh, bỏ mê quay về giác ngộ, lìa hết mọi thứ vọng tưởng điên đảo.

Còn chúng sanh như chúng ta thì mỗi hành động là một lần tạo nghiệp, lại là nghiệp xấu chẳng phải nghiệp thiện. Thản hoặc có một vài niệm tốt, nhưng mức độ của chúng chẳng lấn át được niệm xấu, thành thử nghiệp của chúng ta là một thứ hỗn độn, thiện ác lẫn lộn với nhau. Nếu có thể dùng máy điện toán mà liệt kê ra thì ác nhiều hơn thiện. Vậy cho nên đời này nối đời kia, mỗi đời một kém đi, thêm một sự trôi dạt, sự tình gặp gỡ chẳng được xứng ý. Bởi đâu ra nông nỗi đó? Bởi chẳng tạo nghiệp thanh tịnh, chẳng phát thiện nguyện như Phật, chẳng tu thiện nghiệp để tương lai kết thành thiện quả. Chúng ta cũng muốn phát nguyện mà ngặt vì lòng vị kỷ tác quái, nên chỉ lo cho mình, không lo cho người khác. Có thể có một số nào đó lo việc chung, nhưng kỳ thực họ mua chút hư danh, chỉ mong cầu người khác biết đến tên mình mà thôi, do đó mà họ tạo ra loại nghiệp hỗn tạp. Nghiệp xấu nặng hơn nghiệp tốt nên chiêu cảm thành những quả xấu. Vì những lẽ đó, chúng ta sanh ra đời, được hưởng chút khoái lạc, nhưng cũng chịu thống khổ, và tựu chung thì thống khổ nhiều hơn khoái lạc.

Nói cho đúng, đây chẳng phải là thứ khoái lạc chân chánh. Phải là Thường Lạc Ngã Tịnh phát xuất từ trong tự tánh mới gọi là chân chánh. Còn như cái lạc của chúng ta nó không kéo dài, nó không có tính cách thường; cái ngã của chúng ta cũng bất thường, cái tịnh cũng bất thường. Thường Lạc Ngã Tịnh là thứ khoái lạc của sự thanh tịnh, chẳng phải khoái lạc của kẻ khiêu vũ, của người uống rượu, hay của người đi coi hát, một thứ khoái lạc của kẻ bội giác hiệp trần- quay lưng với giác ngộ và hướng về trần tục - tóm lại là điên đảo.

Có người nói: “Pháp sư nói như vậy thì trong thế gian này không có khoái lạc ư? ” Quý vị hãy nghĩ cho kỹ đi! Thế nào là khoái lạc thực sự? Hãy nói về cái ăn và mặc. Ai cũng muốn mặc đồ đẹp, một bộ đồ đắt tiền, quý giá, kỳ thực nó là cái gì? Nó là cái gông cái cùm, khiến cho ta đi đứng không tự nhiên, ngồi nằm không tự nhiên. Vì lý do gì vậy? Bởi lúc nào ta cũng phải lo chăm sóc và giữ gìn cho bộ đồ đẹp đó. Con người là vạn vật chi linh, là hạng siêu việt trong muôn loài mà lại làm kẻ nô lệ cho đồ áo quần chăng?

Nói về ăn thì ăn thứ này ngon, ăn thêm thứ kia ngon, ăn cho đến bội thực, nôn mửa! Còn ở thì như người ta nói: “Nhà lớn ngàn gian, ngủ chẳng quá tám thước; ruộng tốt vạn thửa, ăn chẳng quá ba bữa một ngày”. Vậy thì cuộc đời với ăn mặc và trú ngụ có gì là khẩn trương lắm đâu để chúng ta phải bận bịu suốt ngày, không còn thời gian ngơi nghỉ? Vô thường chợt tới, chết tới rồi, lại bảo: “Công việc của tôi chưa làm xong, chưa lo hết việc! Xin Diêm Vương hoãn cho tôi một kỳ, để thủng thẳng rồi tôi sẽ đi, có được không? ” Quỷ vô thường sẽ lắc đầu bảo: “Không được đâu! Ta chẳng thể để cho ngươi sống thêm giây phút nào nữa.” Thế là hết đời! Quý vị thử coi! Kết cục còn có gì là hay nữa đâu? Chẳng qua vì chúng ta không nhận ra mọi sự việc cho rõ ràng, cho nên mới chạy theo cái hư vọng, cái danh cái lợi đều hư vọng, cho nên trong tâm lúc nào cũng đầy rẫy phiền não. Đó là điều mà chúng ta khác với Phật.

Đối với Phật, mọi sự tình đều được nhận thức rõ ràng, Phật nhìn ra hết rồi buông bỏ hết nên luôn luôn được tự tại. Vừa nhận ra xong là Phật phát nguyện, những nguyện đó nhằm lợi ích cho các chúng sanh, nhằm thực hành đạo Bồ tát.

Bởi vậy, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mới phát các nguyện lớn. Nguyện lớn thứ sáu của Ngài - “đệ lục đại nguyện” - là “Nguyện đời sau này”, nguyện rằng trong tương lai, tới đời sau này. . . Một số người không tin có đời sau. Nếu thực tế không có đời sau thì quý vị cứ việc đi giết người, đi đốt nhà người ta, tha hồ muốn làm gì thì làm. Kỳ thực, bởi có kiếp sau và mọi việc đều phát sinh hậu quả, nên quý vị không thể làm bậy được mà phải hành động cho hợp lẽ, chớ không thể bạ cái gì làm cái đó, không kể gì đến kết quả về sau. Quý vị hỏi rằng: “Sao tôi chẳng hiết gì về đời quá khứ của tôi và kiếp sau của tôi? ” Quý vị không biết ư? Vậy chớ khi quý vị ngủ, quý vị có biết gì về thời gian lúc quý vị thức không? Quý vị không biết. Bởi vậy trong đời này quý vị đâu có nhớ gì về những sự tình của kiếp xưa.

Phật dạy rằng:

Yếu tri tiền thế nhân

Kim sinh thọ giả thị

Yếu tri lai thế quả

Kim sinh tố giả thị

Nghĩa là muốn biết nhân của kiếp trước ra sao, hãy xem kiếp này ta lãnh thọ cảnh ngộ nào, vì cái mà ta đương lãnh thọ chính là cái quả, do nhân kiếp trước đã gieo trồng. Muốn biết kiếp sau ra sao, hãy xem những điều ta làm trong kiếp này như thế nào, vì gieo nhân trong kiếp này thì sẽ có kết quả trong kiếp sau. Đó là luật nhất định, không sai trái.

Phật biết rõ đạo lý này nên phát nguyện rằng đời sau khi Ngài “khiđắc đạo vô thượng Bồ-đề”, tức là chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩa là thành Phật; “nếu những hữu tình”, nếu những chúng sanh, bao quát hết cả những loài có khí huyết; “mang thân hèn kém”, thân thể hèn kém, ý nói những ai có hình dung xấu xí, khó coi.

Có những người, trông diện mạo không bình thường, mắt, tai, mũi, miệng chẳng hạn, không mọc đúng chỗ, trông thật kỳ cục, xấu xí. Quý vị bảo: “Tôi chưa hề thấy người nào như vậy”. Quý vị chưa thấy lần nào ư? Mà quý vị cũng chẳng nên bắt chước họ làm gì. Tóm lại, có kẻ mang tướng mạo của loài chó, có kẻ tướng mèo, tướng chuột, tướng gấu, tướng ngựa, tướng con nai, đủ cả như vậy đó! Nhiều lắm, trông thấy mà ghê! Đó là các tướng hạ liệt, hèn kém.

Lại chẳng phải chỉ có vậy, còn những loại “mọi căn chẳng đủ”, các căn không đầy đủ, hoặc giả chỉ có một mắt, chỉ một tai, mũi có một lỗ; hoặc giả tay chân không cử động bình thường; hoặc giả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không điều hợp được với nhau, cũng gọi là các căn không đủ; hoặc giả chúng có đủ nhưng coi như không có vậy.

Sợ chúng ta không hiểu hết ý của câu kinh “mang thân hèn kém, mọi căn chẳng đủ”nên đoạn kế tiếp còn nói rõ hơn nữa; “xấu xa ngu ngốc”. Xấu tức là không ưa nhìn, khó coi và ngu ngốc là đần độn, nói gì cũng không hiểu. Quý vị bảo cho biết hai với hai là bốn thì kẻ ngu trả lời rằng một với hai là ba, sao có thể thành bốn được. Tóm lại là hết sức ngu si.

“Mù điếc ngọng câm” (Manh lung ấm á). Manhlà mù, lunglà điếc, có tai có mắt mà không nghe không thấy. Ấmlà ngọng, khi nói thì thanh âm như mắc lại trong cổ họng, nghe như tiếng muỗi kêu, nói chẳng ai hiểu gì; còn như álà câm hoàn toàn. Những người mù, điếc, ngọng, câm quả là khổ không biết chừng nào! Quả báo ra sao mà đến nỗi như vậy? Cũng tại trong kiếp trước đã tỏ ra hoài nghi khi nghe giảng Phật Pháp, không chịu lắng tai nghe nên nay thành điếc tai. Gặp Phật Pháp mà không nhận ra nên thành mù. Bảo học Phật Pháp mà không nghe lời nên thành ngọng, nặng hơn nữa là biến thành câm, các bệnh trên đều do quả báo.

“Què quặt lưng còng” (Luyến tích bối lũ), “luyến” là tay bị quắp lại, không duỗi thẳng ra được, các ngón tay thì nắm lại cũng không thể xoè ra; “tích” là bị tê liệt; “bối lũ” là còng lưng.

“Phong hủi điên cuồng” (Bạch lại điên cuồng), “bạch lại” là khi có những nám trắng hay đỏ, giống như những miếng vá trên mặt; “điên cuồng” thì đó là bệnh của những đứa trẻ bị ngược đãi, bệnh của kẻ tự cắn xé chính mình, hành hạ mình, chửi rủa mình. Nguyên do bởi trước họ phỉ báng kinh Hoa Nghiêm, phỉ báng kinh Đại thừa, phỉ báng Phật Pháp. Tóm lại “bao nhiêu bệnh khổ”những loại bệnh khổ như vậy.

“Nghe đến tên ta” sau khi nghe tên ta “hết thảy đều được đoan chánh”thì tất cả đều được trở lại đoan chánh, hình dung không còn xấu xí, khó coi nữa; “sáng suốt”tức là thông minh, có trí tuệ; “mọi căn hoàn toàn”các thứ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cả sáu căn đều đầy đủ và thông lợi.

“Không mọi tật khổ”, mọi tật bệnh, mọi sự thống khổ đều được giải trừ, khỏi cần phải dùng thuốc thang, khỏi cần y sĩ cứu chữa. Quý vị coi, như vậy có phải là thần diệu không? Mà chỉ cần nghe đến danh hiệu của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là tất cả các tật bệnh, các thống khổ đều tiêu tan. Phật Dược Sư đối với nhân loại quý giá như vậy đó! Mỗi hành động, cử chỉ của Ngài đều hướng về lợi ích cho các chúng sanh, không hề có điều gì bất lợi cho mọi người, không muốn chúng sanh phải gặp quả báo, những điều Ngài phát nguyện chỉ cốt cho hết thảy được vừa lòng, được vui sướng, ý của Ngài là như vậy.

Nguyện lớn thứ bẩy: Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị bệnh bức thiết, không ai cứu giúp, không chỗ nương thân, không thầy không thuốc, không người thân thích, không cửa không nhà, bần cùng khốn khổ, một khi tên ta, nghe lọt vào tai, mọi bệnh đều hết, thân tâm yên vui, gia quyến tiền của, thảy đều phong túc, cho đến chứng được vô thượng Bồ-đề.

Đệ thất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, chúng bệnh bức thiết, vô cứu vô quy, vô y vô dược, vô thân vô gia, bần cùng đa khổ, ngã chi danh hiệu, nhất kinh kỳ nhĩ, chúng bệnh tất trừ, thân tâm an lạc, gia thuộc tư cụ, tất giai phong túc, nãi chí chứng đắc vô thượng Bồ-đề.

Nhiều vị đến đây nghe kinh vẫn chưa biết đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang là ai. Tiện đây, tôi xin giảng thêm một chút. Ngài chính là một đại y vương. Bởi là vua trong giới thầy thuốc, Ngài chữa bệnh chẳng cần dùng thuốc. Hết thảy các chúng sanh chỉ cần nghe đến danh hiệu của Ngài thì mọi bệnh khổ đều tiêu tan.

Các y sĩ thường hay nói tới vọng, văn, vấn, thiết, trong nghề chuẩn bệnh. Vọng là xem bệnh bằng cách ngắm nhìn; văn là nghe tiếng nói; vấn là hỏi xem bệnh tình có những triệu chứng nào, đau đầu chăng? đau chân? đau răng? Mắt, mũi có đau không? Hỏi những thứ đó; thiết tức là coi mạch.

Cách chữa bệnh cũng có mức độ như thần, thánh, công, xảo. Thần thì siêu việt, chẳng thể nghĩ bàn; thánh kém hơn một chút, nhưng cũng chẳng thể nói bàn; công là nói tới dùng công phu, còn xảo là sự khéo léo. Ngắm nhìn mà biết bệnh (vọng) thì quả là thần; nghe tiếng (văn) mà biết là thánh; hỏi bệnh (vấn) mà biết là công; bắt mạch (thiết) mà biết là xảo.

Bình thường các y sĩ đều phải áp dụng cả bốn cách nói trên và còn tham bác tám nguyên tắc chuẩn bệnh (tứ chẩn bát cương). Đối với Phật Dược Sư, các phương cách vừa kể đều không cần thiết. Một khi quý vị xưng danh hiệu của Ngài, bệnh liền tiêu tan, do đó điều này phải kể là điểm đặc biệt trong bổn nguyện của Ngài nhằm lợi ích các chúng sanh. Sự thần diệu đó phát sinh từ “Đệ thất đại nguyện”, lời nguyện lớn thứ bẩy của Ngài. Lời nguyện như sau:

“Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị bệnh bức thiết”, ta nguyện đời sau này khi ta thành Phật, nếu những hữu tình - bao gồm hết thảy các hữu tình - bị bệnh tật bức bách làm cho đau đớn; “không ai cứu giúp,không chỗ nương thân (vô cứu vô quy)không ai cứu được, không người giúp đỡ, “vô quy” nghĩa là không có nơi nương thân; “không thầy không thuốc”không có y sĩ chữa trị cho, không có thuốc; “không người thân thích, không cửa không nhà”, không có thân thích, gia quyến; “bần cùng khốn khổ”, hết sức nghèo hèn khổ sở; lúc đó chỉ cần “một khi tên ta, nghe lọt vào tai”, tên của Ngài, được lọt vào tai, tức danh hiệu “Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật”thì “mọi bệnh đều hết”, mọi tật bệnh đều được giải trừ.

Quý vị thấy đó! Không phải uống thuốc, không phải chích thuốc, chẳng cần quang tuyến X, chẳng cần phóng xạ, hay chạy điện, không dùng đến ngải hay kim để châm cứu, vậy mà mọi bệnh đều tiêu tan hết! “Thân tâm yên vui”, thân và tâm đều được an lạc.

Các y sĩ nghe đến đoạn kinh văn này e rằng không được vui. Họ sợ nghề nghiệp của mình bị cướp đoạt. Quý vị đó cứ yên tâm, không sợ mất khách đâu!

“Gia quyến tiền của, thảy đều phong túc”, vật dụng của gia đình cùng quyến thuộc đều được phong túc, không bị thiếu thốn; “cho đến chứng được vô thượng Bồ-đề” cuối cùng lại còn chứng quả vô thượng Bồ-đề nữa, tức là thành Phật.

Cần nhắc lại là Phật giáo chủ trương rằng hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả đều có khả năng thành Phật. Phật không hề nói: “Chỉ có ta là Phật chứ không ai có thể thành Phật”. Đạo Phật là bình đẳng, Phật cũng như chúng ta, nhưng hơn ta là có trí huệ. Phật là một bậc đại trí huệ, nên không nói những lời hồ đồ. Chúng ta học Phật, chính là học để trở thành không điên đảo, không hồ đồ, không làm những điều chỉ có lợi cho mình mà tổn hại đến người khác, không làm bại hoại xã hội, thành tâm giữ đúng quy củ, phép tắc, học để làm người lương thiện, sau này mới đủ trí huệ chứng thành quả Phật. Quý vị không giữ quy củ, tuyệt đối quý vị không thể có trí huệ. Có trí huệ mới biết giữ quy củ. Bằng không có trí huệ thì dầu có bảo quý vị giữ quy củ, quý vị sẽ phản đối ngay.

Nguyện lớn thứ tám: Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu có thân gái, thấy trăm khổ não, sinh lòng chán ngán, muốn bỏ thân gái, nghe tên ta rồi, thảy đều chuyển được thân gái thành trai, đủ tướng trượng phu, cho đến chứng được vô thượng Bồ-đề.

Đệ bát đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược hữu nữ nhân, vị nữ bách ác chi sở bức não, cực sinh yếm ly, nguyện xả nữ thân, văn ngã danh dĩ, nhất thiết giai đắc chuyển nữ thành nam, cụ trượng phu tướng, nãi chí chứng đắc vô thượng Bồ-đề.

Tại sao lại cần chuyển nữ thành nam vậy? Chúng ta đừng hiểu lầm. Nói như vậy chẳng phải coi phụ nữ là xấu. Ở xứ này, có một số hoạt động trong phong trào giải phóng phụ nữ bài xích đức Phật A-di-đà, cho rằng Ngài theo chủ nghĩa trọng nam, bởi trên thế giới Cực Lạc của Ngài chỉ có nam mà không có nữ. Nói như vậy là không đúng. Đức Phật A-di-đà không “chấp tướng” về nam hay về nữ, Ngài không phân biệt nam nữ, chẳng phải là không biết, chỉ là không có tướng phân biệt mà thôi.

Vậy sao không có nữ giới ở thế giới Cực Lạc mà chỉ toàn là nam giới ở đây? Số là thân thể của phụ nữ đôi khi không được thanh tịnh, và vào những thời điểm đó, họ chịu lắm thứ đau đớn, mà đau đớn thì rất là bất tiện. Bởi vậy người ta không muốn mang thân nữ chính vì các sự bất tiện này, cũng gọi là “bách ác”. Nói là một trăm thứ ác, kỳ thực có khi nhiều hơn nữa, nói một trăm chỉ để biểu trưng cho số nhiều đó thôi, tức là rất nhiều vấn đề phiền toái, rất nhiều lúc thân thể không thanh tịnh. Vì những lẽ đó, nhiều lúc người tu hành cảm thấy mang thân nữ rất là phiền phức, muốn mang thân nam giới cho tiện lợi hơn.

Nữ giới, mỗi lần đến kinh kỳ thường không được thoải mái. Có người thì đau trước kỳ kinh, có người đau sau khi có kinh, có khi đau không chịu nổi. Hoặc giả gặp trường hợp kinh kỳ rầm rề không dứt, hoặc giả kinh kỳ tắt, tức là đủ thứ bệnh tật. Những hoàn cảnh đó mang lại bao nhiêu sự bất tiện, thành thử người ta muốn làm thân nam là vì lẽ đó.

Hơn nữa, lại còn phải kể đến vấn đề dục niệm giữa nam nữ nữa. Thời đại bây giờ xẩy ra lắm chuyện kỳ quặc, yêu ma quỷ quái đều xuất hiện, kéo theo nhiều chuyện rắc rối, nhất là cái việc đồng tính luyến ái!

“Đệ bát đại nguyện”, nguyện lớn thứ tám, đức Phật Dược Sư nguyện rằng: “Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề ”, ta nguyện đời sau này, khi ta thành Phật; “nếu có thân gái, thấy trăm khổ não, sinh lòng chán ngán, muốn bỏ thân gái ”, nếu những người nữ, thấy trăm thứ khổ não bức bách, sinh lòng chán ngán, muốn bỏ thân gái; “nghe tên ta rồi, thảy đều chuyển được thân gái thành trai, đủ tướng trượng phu”khi nghe tên ta rồi, thảy đều chuyển được từ thân gái thành thân trai, đủ tướng trượng phu; “cho đến chứng được vô thượng Bồ-đề”, cuối cùng chứng được quả Phật.

Nguyện lớn thứ chín: Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, khiến những hữu tình, thoát lưới loài ma, thoát được hết thảy ngoại đạo ràng buộc, nếu lạc vào các rừng rậm ác kiến, ta sẽ dẫn dắt lên đường chánh kiến, rồi tu tập dần, mọi hạnh Bồ tát, chóng chứng được đạo vô thượng Bồ-đề.

Đệ cửu đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, linh chư hữu tình, xuất ma quyến võng, giải thoát nhất thiết ngoại đạo triền phược, nhược đọa chủng chủng ác kiến trù lâm, giai đương dẫn nhiếp trí ư chánh kiến, tiệm linh tu tập chư Bồ tát hạnh, tốc chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

“Đệ cửu đại nguyện” – nguyện lớn thứ chín. Trong nguyện lớn thứ chín, đức Phật Dược Sư nhằm phá các loại lưới của bọn Ma vương và ngoại đạo. Ngài nói: “Nguyện đời sau này khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề”, nguyện đời sau này, khi ta thành Phật; “khiến những hữu tình, thoát lưới loài ma”, khiến cho các loài hữu tình, thoát lưới loài ma; chúng ta ra đời ở thế giới ngày nay chính là gần với Ma vương, mà cách Phật thật là xa vời. Làm Ma vương thì chúng ta muốn làm lúc nào cũng được. Tuy nhiên, muốn thành Phật thì chúng ta phải phá trừ các loại ác kiến, tà tri tà kiến, phải tu chánh tri chánh kiến, chúng ta mới thoát ra khỏi của lưới của loài ma được. Lưới của loài ma rất khó phá, nó vi tế nhưng rất bền chặt, một khi lọt vào rồi sẽ khó thoát ra rồi từ đó trở thành quyến thuộc của Ma vương và A-tu-la.

Nếu như chúng ta hay nổi giận, để cho ngọn lửa vô minh thiêu đốt, tức là chúng ta đã hãm mình trong lưới ma đó. Như chúng ta đi câu cá chẳng hạn, mỗi lần cá lọt lưới chúng ta reo vui: “Ồ! Bắt được con cá lớn, được một bữa ăn rồi!”. Loài ma cũng vậy, khi ta bị mắc lưới của nó, nó cũng sung sướng và tự bảo rằng: “Lại thêm một người bị mắc lưới để cho ta sử dụng”. Muốn thoát khỏi lưới ma ư? Có một cách đơn giản vô cùng, tức là đừng có nổi giận, không nổi nóng, không đốt lên ngọn lửa vô minh. Ma vương khéo dùng tà thuật khống chế đầu óc của ta khiến ta mất chánh tri chánh kiến, đó là lý do người ta khó thoát khỏi lưới của loài ma. Nay may mắn là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai có nguyện lớn, giúp chúng ta có thể thoát được lưới của Ma vương này.

“Thoát được hết thảy ngoại đạo ràng buộc”, thoát khỏi sự trói buộc của ngoại đạo. Ngoại đạo là họ hàng của loài thiên ma. Ngoại đạo chuyên nghề khống chế mọi người, làm người ta mất tự do vì những tà thuật của họ. Thậm chí, chúng bắt người ta phải dùng những chú nguyện độc ác, những lời thề độc, để người ta không bao giờ đi sai đạo của chúng hay phản bội chúng, vì sợ những lời đe dọa, nào thiên lôi đánh, nào hỏa tai v.v.. Quý vị biết rõ chúng sai trái mà không dám phản kháng. Sự trói buộc chính là ở chỗ đó. Nó giống như một sợi dây trói buộc người ta, quý vị muốn cởi trói mà không cởi được.

“Nếu lạc vào các rừng rậm ác kiến”, nếu lạc vào các rừng rậm ác kiến, tức bao gồm các loại tà tri tà kiến. Các loại này quá nhiều, giống như một khu rừng rậm rạp, khống chế quý vị, không để cho quý vị chút nào tự do cả.

Phật giáo là không bao giờ khống chế ai. Tôi đã từng nói với một nhóm Phật tử, trước mặt cả Hồng y Paul Yubin rằng: “Nếu quý vị thấy Phật giáo quá cổ hủ, lòng muốn theo một tôn giáo khác, hợp thời hơn, thì nay quý vị đã có cơ hội rồi đó! Quý vị có thể tùy tiện đổi tín ngưỡng của quý vị, bởi Phật giáo không phải là một ngục tù, một cái gì gò bó, quản thúc quý vị.” Nói xong tôi quay lại hỏi Hồng y Yubin: “Ông có dám nói như vậy với tín đồ của ông không?” Ông lắc đầu nói: “Không dám”.

Tại sao không dám? Bởi tôn giáo của họ khống chế môn đồ, không cho môn đồ tự do. Ai bỏ đạo sẽ bị coi là kẻ phạm tội tầy trời. Cái đó gọi là rừng rậm ác kiến, trong đó không có ánh sáng, vì toàn là tà tri tà kiến, không thể đưa ra để thảo luận một cách công khai.

Đối với loại bị tà tri tà kiến như vậy thì lời nguyện của đức Phật Dược Sư là “ta sẽ dẫn dắt”, Ngài sẽ dẫn dắt; “lên đường chánh kiến”, dạy cho chánh kiến; “rồi tu tập dần mọi hạnh Bồ tát”, dần dà khiến cho tu tập pháp Lục độ và thực hành đạo Bồ tát; “chóng chứng được đạo vô thượng Bồ-đề”, đặng chứng mau chóng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là quả Phật.

Nguyện lớn thứ mười: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị pháp luật trị, trói buộc đánh đập, giam cầm lao ngục, hoặc bị tử hình, và còn rất nhiều tai nạn khác nữa, nhục nhã bi sầu, thân tâm chịu khổ, nghe danh hiệu ta, vì sức oai thần, công đức của ta, đều được giải thoát, hết thảy lo khổ.

Đệ thập đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, vương pháp sở lục, phược lục tiên thát, hệ bế lao ngục, hoặc đương hình lục, cập dư vô lượng tai nạn lăng nhục, bi sầu tiên bức, thân tâm thọ khổ, nhược văn ngã danh, dĩ ngã phước đức uy thần lực cố, giai đắc giải thoát, nhất thiết ưu khổ.

“Đệ thập đại nguyện”, trong nguyện lớn thứ mười, Ngài nói: “Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị pháp luật trị”, đời sau khi ta thành Phật, nếu những hữu tình bị mắc nạn vương pháp, tức là bị pháp luật trừng trị; giả tỷ quý vị chẳng làm nên tội gì, chỉ bị người ta vu cáo; hoặc giả quý vị bị oan uổng, hay vì vô tâm mà phạm pháp, chớ chẳng phải cố ý; đến khi mắc nạn pháp luật, quý vị bị bắt, bị trừng phạt, bị giam vào ngục, như trong kinh nói “trói buộc đánh đập (phược lục tiên thát), “phược” là trói, trói tay hay trói chân; “lục” là lấy khẩu cung, ghi vào hồ sơ, trong đó nói rõ tội trạng; “tiên” là cái roi; “tiên thát” là đánh đập bằng roi, bằng gậy.

“Giam cầm lao ngục (Hệ bế lao ngục): “hệ” là cùm lại, tại ba nơi, cổ thì có gông, hai tay và hai chân thì bị cùm, cốt không cho phạm nhân trốn thoát; phạm nhân bị giam lại trong lao ngục, trong ngoài không tương thông được với nhau.

“Hoặc bị tử hình (Hoặc đương hình lục): Chữ “lục” ở đây nghĩa là giết (tru lục), tức tội tử hình, hoặc giả bị chặt đầu rồi bêu đầu trước công chúng, có khi bị đánh chết, có khi lên ghế điện v.v…

“Và còn rất nhiều tai nạn khác nữa, nhục nhã” (Cập dư vô lượng tai nạn lăng nhục), cho đến vô vàn các thứ trừng phạt, vô lượng các tai nạn khác do trời giáng thiên tai, do người gia hại. “Lăng nhục” là bị khinh khi và bị nhục nhã; “bi sầu tiên bức, thân tâm thọ khổ”, bi ai và sầu khổ, giống như bị người bị nung nấu bức bách , khiến cho thân và tâm đều khổ sở; “nghe danh hiệu ta”, nếu nghe tên ta - danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai - “vì sức oai thần, công đức của ta”, phước đức và sức oai thần của ta; “đều được giải thoát, hết thảy lo khổ”, tất cả đều được giải thoát khỏi các cảnh lo âu, sầu khổ, lìa khổ được vui.

Nguyện lớn thứ mười một: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị đói khát khổ, vì việc kiếm ăn, tạo mọi nghiệp ác, khi nghe tên ta, chuyên tâm trì niệm, trước tiên ta cho, ăn uống rất ngon, để no thân đã, rồi sau ta mới cho ăn pháp vị, để lập thành người, rốt ráo yên vui.

Đệ thập nhất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, cơ khát sở não vị cầu thực cố, tạo chư ác nghiệp, đắc văn ngã danh, chuyên niệm thọ trì, ngã đương tiên dĩ thượng diệu ẩm thực, bão túc kỳ thân, hậu dĩ pháp vị tất cánh an lạc nhi kiến lập chi.

“Nguyện lớn thứ mười một: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị đói khát khổ”, đây là lời nguyện thứ mười một, Ngài nguyện đời sau này khi thành Phật, nếu những chúng sanh - nói hết thảy mọi chúng sanh - bị khổ vì đói khát, tức là không có cơm ăn, không có nước uống, cũng có thể có cơm mà không ăn được, có nước mà không uống được; “vì việc kiếm ăn, tạo mọi nghiệp ác”, vì cầu miếng ăn, đói khổ quá phát cuồng, chẳng kể phương tiện nào, hoặc đi cướp, hoặc ăn cắp, hoặc giết người, miễn sao được no và từ đó mà tạo nên bao nhiêu nghiệp ác.

Vậy phải làm sao? “Khi nghe tên ta, chuyên tâm trì niệm (chuyên niệm thọ trì), nếu như nghe được danh hiệu của ta, chuyên tâm trì chí, niệm tụng danh hiệu của ta, và thọ trì, thân thì thọ mà tâm thì trì; “trước tiên ta cho, ăn uống rất ngon”, lúc đó ta hóa phép tạo ra các món ăn, thức uống thật ngon lành, cấp cho ăn uống; “trước tiên ta cho, ăn uống rất ngon”, khiến cho được no nê, hết đói khổ; “sau ta mới cho ăn pháp vị”, sau đó nói pháp cho nghe, cho được nếm mùi vị thần diệu của Phật pháp; “tất cánh an lạc nhi kiến lập chi”, để cuối cùng đưa cho họ vào chỗ an lạc.

Nguyện lớn thứ mười hai: Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, nghèo không áo mặc, ruồi muỗi bức riết, khổ suốt đêm ngày, khi nghe tên ta, chuyên tâm trì niệm, thì tâm muốn gì, liền được đủ thứ, áo mặc thật đẹp, được cả đồ dùng, quý báu trang nghiêm, đeo hoa ướp hương, trống nhạc các loại, tùy tâm thích gì, đều được đầy đủ.

Đệ thập nhị đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, bần vô y phục, văn manh hàn nhiệt, trú dạ bức não, đắc văn ngã danh, chuyên niệm thọ trì, như kỳ sở hiếu, tức đắc chủng chủng thượng diệu y phục, diệc đắc nhất thiết bảo trang nghiêm cụ, hoa man đồ hương, cổ lạc chúng kỹ, tùy tâm sở ngoạn, giai linh mãn túc.

Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai chắc chắn đã từng gặp hoàn cảnh bần cùng khốn khổ, do đó Ngài phát nguyện giải trừ các cảnh khổ đó cho các chúng sanh. Trong “Nguyện lớn thứ mười hai”, Ngài nói: “Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, nghèo không áo mặc”, ta nguyện đời sau này, khi ta thành Phật, nếu những hữu tình - kể tất cả các chúng sanh, bất luận ở nước nào, thuộc dân tộc nào - không có quần áo mặc, tức là nghèo khổ lắm, đương nhiên chẳng đủ cơm ăn.

Nguyện thứ mười một trên nói về những ai bị đói ăn, đoạn này nói tới những người nghèo không có áo mặc, nên họ chịu cảnh “ruồi muỗi bức riết, khổ suốt đêm ngày”, tức bị ruồi muỗi cắn, không có gì che thân khi trời nóng lạnh, khiến cho ngày đêm bị các thứ khổ đó bức riết.

“Khi nghe tên ta”, nếu nghe đến danh hiệu của ta mà “chuyên tâm trì niệm (chuyên niệm thọ trì), chuyên tâm niệm, chớ không phải nghe đến danh hiệu rồi bỏ qua chẳng hạn, phải chuyên một lòng, nghĩ tới chẳng quên, sớm tối đều niệm, lãnh thọ ở tâm, chuyên trì ở thân, dụng công như vậy.

“Thì tâm muốn gì, liền được đủ thứ”, những điều lâu nay ưa thích, những gì làm cho thỏa ý vừa lòng, thì đều có được cả; tỷ như “áo mặc thật đẹp (thượng diệu y phục), quần áo thuộc loại thượng hạng; “được cả đồ dùng, quý báu trang nghiêm”, lại còn có hết thảy các thứ trang sức quý giá làm bằng bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, ngọc đỏ, mã não; “đeo hoa ướp hương, trống nhạc các loại”, vòng đeo kết bằng hoa cùng hương quý, các loại âm nhạc; “tùy tâm thích gì, đều được đầy đủ”, tùy tâm ý, sở thích, muốn thứ gì đều được như ý.

Ông Mạn Thù Thất Lợi! Thế là mười hai nguyện rất nhiệm mầu của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, đã phát ra khi Ngài còn đương hành đạo Bồ tát.

Mạn Thù Thất Lợi! Thị vi bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, hành Bồ tát đạo thời, sở phát thập nhị vi diệu thượng nguyện.

“Mạn Thù Thất Lợi!”hay Văn Thù Sư Lợi, là cách dịch âm ra tiếng Trung Hoa, còn dịch nghĩa thì gọi là “Diệu Cát Tường”. Đây là vị Bồ tát có trí huệ vào loại bậc nhất, có đạo tràng tại Trung Hoa là Ngũ Đài Sơn. Ở đấy quanh năm có tuyết, lạnh vô cùng, Ngài chọn nơi này làm đạo tràng, chắc vì Ngài thích khí hậu lạnh hoặc giả thích những người ở chỗ lạnh lẽo này tu hành. Ngũ Đài Sơn cũng được nhắc tới trong Kinh Hoa Nghiêm.

Trong Kinh Dược Sư này, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã xưng tên Ngài Văn-Thù Sư Lợi để giảng kinh chính bởi vì những ai không đủ trí huệ không thể hiểu được nguyện lực của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, mà phải là những bậc đại trí huệ như Ngài VănThù Sư Lợi mới hiểu được.

“Thế là mười hai nguyện rất nhiệm mầu (vi diệu thượng nguyện)của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác”:“Thế Tôn” cũng như “Ứng Chánh Đẳng Giác” là hai trong mười danh hiệu của Phật.

“Đã phát ra khi Ngài còn đương hành đạo Bồ tát”:Trong thời gian nhân địa, đức Phật Dược Sư thực hành đạo Bồ tát, Ngài đã phát ra những lời nguyện thần diệu thượng đẳng như vậy. Các lời nguyện tuy không nhiều, nhưng trọng yếu ở chỗ chúng bao quát hết mọi vấn đề của chúng sanh, dầu họ khổ, họ vui, chẳng kể đó là kẻ trí hay người ngu, bởi vậy mới nói là “thượng nguyện”, tức là nguyện thượng đẳng.

Lại nữa, Ông Mạn Thù Tất Lợi! Những nguyện lớn của Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ngài đã phát ra khi Ngài còn đương hành đạo Bồ tát, và những công đức trang nghiêm ở bên cõi nước của Ngài, nếu ta nói ra đến hết một kiếp, hay hơn một kiếp, cũng không hết được.

Phục thứ Mạn Thù Thất Lợi! Bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, hành Bồ tát đạo thời, sở phát đại nguyện, cập bỉ Phật độ công đức trang nghiêm, ngã nhược nhất kiếp, nhược nhất kiếp dư, thuyết bất năng tận.

“Lại nữa, Ông Mạn Thù Tất Lợi!”Đức Phật Thích-ca lại bảo Bồ tát Văn Thù Sư Lợi; “Những nguyện lớn của Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ngài đã phát ra khi Ngài còn đương hành đạo Bồ tát”, khi đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đương trong thời gian thực hành đạo Bồ tát; “sở phát đại nguyện”, những lời nguyện lớn Ngài đã phát ra; “và những công đức trang nghiêm ở bên cõi nước của Ngài”“nếu ta nói ra đến hết một kiếp, hay hơn một kiếp, cũng không hết được”, nếu ta thuyết trong suốt một kiếp, hay hơn một kiếp, cũng không thể nào nói cho hết được. cùng quốc độ của Ngài, tức thế giới Lưu Ly nơi Đông phương; “công đức trang nghiêm”, công đức và sự trang nghiêm quốc độ của Ngài;

Nhưng nước Phật ấy, một mầu thanh tịnh, không có nữ nhân, không có ác thú, và những tiếng khổ, mặt đất chỉ thuần là ngọc lưu ly, đường đi chăng dây, dây làm bằng vàng, thành khuyết lâu đài, hiên song có lưới, làm bằng bẩy báu, như ở Tây phương thế giới Cực Lạc, công đức trang nghiêm, giống in không khác.

Nhiên bỉ Phật độ, nhất hướng thanh tịnh, vô hữu nữ nhân diệc vô ác thú, cập khổ âm thanh, lưu ly vi địa, kim thằng giới đạo, thành khuyết cung các, hiên song la võng, giai thất bảo thành, diệc như Tây Phương Cực Lạc thế giới, công đức trang nghiêm, đẳng vô sai biệt.

“Nhưng nước Phật ấy, một mầu thanh tịnh”, Nhưng tại nước Phật ấy chỉ có một mầu thanh tịnh, không có ô nhiễm, trong sáng như lưu ly.

“Không có nữ nhân”, tại đây không có nữ giới. Có một số người trong phong trào giải phóng phụ nữ đề xướng vấn đề nữ quyền, họ lên tiếng bài xích thế giới Cực Lạc của đức Phật A-di-đà. Họ nêu câu hỏi: “Ở đó không có phụ nữ, vậy phải chăng đức Phật A-di-đà đã coi khinh phụ nữ? Phải chăng nam nữ không bình đẳng? Phải chăng là có ý trọng nam khinh nữ?”

Điều này sai hoàn toàn. Số là thế giới Ta-bà được gọi là “ngũ trược ác thế”, một thế giới xấu có năm thứ trược, năm thứ không trong sạch. Đó là kiếp trược, ý nói khoảng thời gian chúng ta trú tại cõi Ta-bà là một thời kỳ không trong sạch; kiến trược, bởi những gì chúng ta thấy đều không trong sạch; phiền não trược, vì chúng ta ai cũng có nhiều phiền não; chúng sanh trược, vì lẽ do tình dục giữa nam và nữ mà có chúng sanh ở đây. Chẳng phải riêng nhân loại mới có như vậy. Nói chung tất cả các loài có khí, có huyết cũng đều do sắc dục mà sanh ra, kể cả các chúng sanh vi tế như vi khuẩn. Phàm có dục tức là không thanh tịnh, do đó mới gọi là chúng sanh trược.

Mạng trược, bởi sinh mạng của chúng ta cũng như của các chúng sanh đều từ môi trường không trong sạch mà sanh ra. Tầng trời chẳng hạn, là nơi không có bụi dơ, ở cõi Cực Lạc phương Tây thì đất là vàng, ở cõi Lưu Ly phương Đông thì đất là lưu ly, không nơi nào có bụi bặm, dơ bẩn. Chỉ có cõi Ta-bà của chúng ta là lắm thứ phiền hà. Những gì mắt chúng ta thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân đụng chạm, tâm tưởng, chẳng có gì là trong sạch, bởi vậy mới gọi Ta-bà là ngũ trược ác thế.

Chúng sanh tại cõi Cực Lạc thì không có dục. Họ được hóa sanh ở đây do nguyện lực của đức Phật A-di-đà. Cõi Lưu Ly là do nguyện lực của đức Phật Dược Sư hóa thành. Bởi không có dục, tất cả đều hóa sanh nên ở đây không có nữ giới. Điều này không có nghĩa là nam nữ không được đối xử bình đẳng, hay trọng nam khinh nữ; chúng ta sinh làm thân nữ đều nên hiểu rằng thế giới Ta-bà là nơi mà khổ đau nung nấu, là thế giới của vạn ác sung mãn, chẳng có gì hay ho để chúng ta thương tiếc, không có gì đáng giá để mọi người lưu luyến, hoàn toàn là một nơi không trong sạch. Vì ý nghĩa đó nên các cõi Cực Lạc và Lưu Ly đều không có nữ giới.

“Không có ác thú ”:Ác thúlà nẻo đường ác. Tại cõi Lưu Ly không có ba đường ác, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; “và những tiếng khổ”, những tiếng kêu đau khổ cũng không có, những loại âm thanh bi ai, làm cho người nghe phải mủi lòng, khóc lóc, chẳng hạn, tất cả đều không có.

“Mặt đất chỉ thuần là ngọc lưu ly”, mặt đất làm bằng lưu ly, bởi vậy mới nói đây là thế giới Lưu Ly tại phương Đông; “đường đi chăng dây, dây làm bằng vàng”, dây vàng làm thành lan can để phân ranh giới các đường đi; “thành khuyết cung các”, thành là thành trì, khuyết là cửa khuyết xây trên mặt thành, các cung điện và lầu các.

“Hiên song có lưới”: hiên là chỉ từng gian phòng một; song là cửa sổ, sáng sủa, không chút bợn dơ; các lớp la võng, tức là lưới như gồm bẩy hàng cây, bẩy lớp lưới.

“Làm bằng by báu”, Tất cả những thứ kể trên đều làm bằng bảy thứ báu, vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não; “như ở Tây phương thế giới Cực Lạc, công đức trang nghiêm, giống in không khác”, công đức và trang nghiêm hoàn toàn giống như cõi Cực Lạc ở phương Tây, không có gì sai khác.

Câu nói “Đông A-súc, Tây Di-đà” chính là chỉ đức Phật A-súc, hay còn gọi là đức Phật Dược Sư, ở phương Đông và đức Phật A-di-đà ở phương Tây. Phật A-súc trông coi Kim Cang bộ, như đã từng nói đến trong chú Lăng Nghiêm, còn Phật A-di-đà thì thuộc Liên Hoa bộ. Đức Phật A-di-đà là giáo chủ cõi Cực Lạc phương Tây, và Phật Dược Sư Lưu Ly Quang là giáo chủ cõi Lưu Ly phương Đông.

Bởi vậy, tại Vạn Phật Thánh Thành, cứ mỗi buổi sáng chúng ta niệm danh hiệu đức Lưu Ly Quang Như Lai, đó là để hồi hướng công đức cho các vị hộ pháp tại đây được giải trừ tai nạn và được thọ mạng lâu dài. Buổi trưa, chúng ta niệm đức Phật Thích-ca, bởi Ngài đã truyền lại Phật Pháp cho chúng ta, nên chúng ta phải niệm Ngài để báo ơn Phật. Buổi tối, chúng ta niệm đức Phật A-di-đà, vị giáo chủ cõi Cực Lạc phương Tây, nhằm mục đích tối hậu là được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ở nơi này không có ba đường ác, không có các thứ khổ, chỉ có các thứ vui. Nơi đó, không ưu không sầu, không phiền não. Còn như, cảnh Ta-bà thì không ngày nào là không có rắc rối, biết bao nhiêu phiền não xâm chiếm khiến cho tâm của quý vị phát sinh bao nỗi bất bình. Thế giới Cực Lạc và thế giới Lưu Ly đều không có những vấn đề như vậy.

Tại Vạn Phật Thánh Thành, tôi áp dụng nghi thức niệm các danh hiệu khác nhau vào ba buổi như vậy là có lý do. Đây là một đạo tràng mới lập nên, không giống như các đạo tràng cũ tại Trung Hoa đại lục, hay tại Hương Cảng, Đài Loan, Tân Gia Ba, Việt Nam v.v.. những nơi này đều theo lề lối xưa của Phật giáoTrung Hoa, sớm, trưa, tối, cả ba thời đều niệm Phật A-di-đà. Do đó, từ các nơi ấy có một số các vị xuất gia đi ra nước ngoài, đến thăm Vạn Phật Thánh Thành, cho rằng chúng ta là sai, không đúng nghi thức.

Không phải Vạn Phật Thánh Thành tự cho mình là đúng, có điều buổi sáng sớm chúng ta nên theo lời nguyện tiêu tai diên thọ của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đặng chúng ta được bồi bổ thêm sinh khí, chẳng phải loại sinh khí của những người nổi nóng, mà là loại vượng khí của buổi ban mai, giúp cho cây cỏ tươi tốt, cho dòng suối tuôn trào. Buổi sớm thức dậy, ai nấy đều cảm thấy nguồn sinh lực dồi dào, mọi thứ đều cát tường như ý. Tới trưa, chúng ta phải tỏ lòng thành kính tri ân đức Phật Thích-ca vì Ngài đã để lại cho thế gian Phật Pháp và Kinh điển. Đó là lúc niệm Thích-ca Mâu-ni Phật. Buổi tối, chúng ta quy hướng về thế giới Cực Lạc, nơi vãng sanh, lìa cõi Ta-bà, do đó chúng ta niệm đức Phật A-di-đà.

Đó là các khóa trình áp dụng tại Vạn Phật Thánh Thành, không hoàn toàn giống như tại các đạo tràng khác.

Lâu nay, mọi người cứ tưởng rằng khóa trình các nơi khác cũng vậy, cũng giống như cách thức áp dụng tại đây. Kỳ thực Vạn Phật Thánh Thành tổ chức khác hẳn. Có những lề lối mà người ta không thấy tại các chùa ở Trung Hoa. Tỷ như, tại Vạn Phật Thánh Thành, tại Kim Sơn Tự, Kim Luân Tự, cứ mỗi lần giảng pháp thì trước đó phải có nghi thức thỉnh pháp. Tại các đạo tràng khác quý vị không thấy có nghi thức này. Quý vị chưa được nhiều lần chứng kiến các nghi thức trong Phật giáo, nên không biết thế nào là đúng thế nào là sai, nên hôm nay, nhân tiện tôi kể rõ cho quý vị nghe.

Trong quý vị đây có ai có ý kiến gì về đoạn kinh tôi vừa giảng không? Hoặc thấy có chỗ nào tôi giảng chưa được thỏa ý? Nếu có kiến giải gì khác, cứ nói cho tôi hay, bởi chúng ta học Phật Pháp thì phải làm sao để trong lòng có sự tin phục, không có điểm nào hồ nghi nữa mới được. Nếu quý vị không đồng ý với ý nghĩa của đoạn nào trong kinh, thì cứ việc giải bầy.

Thực sự không có vọng tưởng tức là vãng sanh nơi thế giới Cực Lạc; thực sự không có dục niệm chính là giáo hóa các chúng sanh.

Ai bảo quý vị có vọng tưởng? Ai bảo quý vị có dục niệm? Nếu không có ai cả thì những thứ đó là hư vọng, là giả; nếu quả có người bảo thì đó là ai? Chính quý vị hay là người khác? Nếu chính quý vị bảo quý vị thì sao ngay lúc vọng tưởng đến, quý vị chẳng biết gì hết? Thế là thế nào?

Quý vị không có vọng tưởng ư? Quý vị đương ở Tịnh độ đó! Nào! Thoải mái biết bao nhiêu! Thống khoái biết bao nhiêu! Chỉ là thâu dọn hết các vọng tưởng là có ngay cảnh Cực Lạc. Quý vị không có vọng tưởng tức quý vị chẳng bị phiền não; không có phiền não tức có ngay khoái lạc, tức ở cảnh Cực Lạc, còn phải chạy đi đâu nữa!

Pháp môn Tịnh độ nói rất rõ, chẳng qua chúng ta không chú ý đó thôi! Pháp môn Tịnh độ nói rằng: “Sanh thì nhất định là sanh, vãng thì thực không có vãng” (Sanh tắc nhất định sanh, khứ tắc thật bất khứ). Sanh, tức là nói sanh nơi Tịnh độ, mà sanh Tịnh độ tức làm hiển lộ tự tánh sáng rỡ của mình, như câu nói “duy tâm tịnh độ, tự tánh Di-đà”. Vậy thì chẳng cần kiếm ở đâu bên ngoài. Còn như chạy ra ngoài tìm kiếm thì đó là lối suy tưởng của phần đông chúng ta. Nếu quý vị thực tình muốn tu, muốn hiểu Phật Pháp, quý vị phải hiểu rõ một điều là cõi Cực Lạc hay cõi Ta-bà chẳng lìa khỏi cái niệm tức thời này, ngay đó là Cực Lạc! ngay đó là Ta-bà! Tâm quý vị để ô nhiễm, quý vị có Ta-bà; tâm quý vị thanh tịnh quý vị có Cực Lạc. Bởi vậy, bất tất phải “có đầu lại đội thêm đầu”, chớ có chấp rằng quý vị nhất định phải giáo hóa chúng sanh; chớ chấp rằng quý vị nhất định phải vãng sanh Cực Lạc. Chúng ta niệm Phật thì cứ việc niệm, đừng hỏi có sanh hay không sanh? Chỉ cần chúng ta thành tâm tu hành là đủ. Như quý vị không bị phiền não, tức đó là Cực Lạc, nó hiện hành ngay trước quý vị! Quý vị có phiền não, tức quý vị ở cõi Ta-bà, cái thế giới của khổ đau, nói không hết được!

Trong nước có hai vị đại Bồ Tát, một vị gọi là Nhật Quang Biến Chiếu, một vị gọi là Nguyệt Quang Biến Chiếu, đứng đầu tất cả vô số vô lượng các vị Bồ tát, hai Ngài lần lượt sẽ lên ngôi Phật, đều giữ vững được kho báu chánh pháp của đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Này ông Mạn ThùThất Lợi! Bởi thế cho nên, những thiện nam tử và thiện nữ nhân, có tín tâm rồi thời nên phát nguyện sanh sang thế giới của đức Phật kia.

Ư kỳ quốc trung hữu nhị Bồ tát ma-ha-tát, nhất danh Nhật Quang Biến Chiếu, nhị danh Nguyệt Quang Biến Chiếu, thị bỉ vô lượng vô số Bồ tát chúng chi thượng thủ, thứ bổ Phật xứ, tất năng trì bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chánh pháp bảo tạng, thị cố Mạn Thù Thất Lợi, chư hữu tín tâm, thiện nam tử thiện nữ nhân đẳng, ưng đương nguyện sinh bỉ Phật thế giới.

“Trong nước ấy”: Đức Phật Thích-ca không khởi tâm phân biệt đức Dược Sư hay đức A-di-đà, cũng như cõi Lưu Ly hay cõi Cực Lạc, nhưng ở đây Ngài nói về quốc độ của thế giới Lưu Ly. Ở đây “có hai vị đại Bồ Tát”, đều là những thượng thủ đại Bồ tát; “một vị gọi là Nhật Quang Biến Chiếu, một vị gọi là Nguyệt Quang Biến Chiếu”, một vị là Nhật Quang Biến Chiếu, một vị là Nguyệt Quang Biến Chiếu; “đứng đầu tất cả vô số vô lượng các vị Bồ tát”, trong số vô lượng vô số Bồ tát ở đây, hai vị này là những thượng thủ. “Thượng thủ” nghĩa là lãnh tụ, làm công việc trợ giúp đức Phật Dược Sư để giáo hóa chúng sanh.

“Hai Ngài lần lượt sẽ lên ngôi Phật”(Thứ bổ Phật xứ), hai Ngài nói trên sẽ lần lượt lên ngôi Phật. Khi Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thoái vị thì Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu sẽ lên thay thế, cho đến khi Ngài Nhật Quang thoái vị thì Bồ tát Nguyệt Quang sẽ lên thay.

“Đều giữ vững được kho báu chánh pháp của đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”, Sau khi hai Bồ tát nói trên lên ngôi Phật, các Ngài sẽ y chiếu theo những lời nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, sẽ tự trang nghiêm bằng công đức và trang nghiêm của Phật Dược Sư. Các Ngài cũng sẽ y đúng phương pháp giáo hóa của vị tiền nhiệm mà giáo hóa chúng sanh. Các Ngài thọ trì và đọc tụng nguyện lực và cách thức tu hành để giữ gìn kho báu chánh pháp của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

“Bởi thế cho nên, những thiện nam tử và thiện nữ nhân, có tín tâm rồi”, Ông Mạn Thù Thất Lợi ơi! Bởi vậy cho nên các thiện nam tử, thiện nữ nhân, những ai có lòng tin; “thời nên phát nguyện sanh sang thế giới của đức Phật kia”, tất cả đều nên phát nguyện sanh nơi thế giới Lưu Ly, gặp đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, tương lai sẽ chóng thành Phật.

Bấy giờ Thế Tôn lại bảo đồng tử Mạn Thù Thất Lợi:Này ông Mạn ThùThất Lợi! Có những chúng sanh, chẳng biết thiện ác, vì ôm cái lòng tham lam keo bẩn, chẳng biết bố thí, và những quả báo về hạnh bố thí, ngu si không trí, thiếu mất tín căn, chứa nhiều của báu, chăm giữ lấy mãi, thấy người đến xin, tâm họ chẳng mừng. Nếu bất đắc dĩ mà phải bố thí, thì họ coi như cắt miếng thịt họ, rất là đau tiếc. Lại có lắm kẻ tham lam keo xẻn, thích giữ tiền của, đến ngay thân họ, chẳng muốn tiêu dùng, huống lại dám cho cha mẹ vợ con, tôi đòi sai khiến và kẻ đến xin. Những hữu tình ấy, đến lúc mệnh chung, sanh làm ngạ quỷ, hoặc làm bàng sanh, nhưng vì thuở xưa, đã từng tạm nghe danh hiệu của đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên nay đương ở trong vòng ác thú, được tạm nhớ đến danh hiệu của Ngài, ngay khi nghĩ tới, liền được ra khỏi, trở về làm người, nhớ được túc mạng, sợ khổ ác thú, chẳng ham dục lạc, ưa làm bố thí, khen người bố thí, mình có những gì đều không ham tiếc, dần dà đem cả đầu, mắt, chân, tay, máu thịt của mình, cho kẻ cầu xin, huống là tài vật.

Nhĩ thời Thế Tôn phục cáo Mạn Thù Thất Lợi đồng tử ngôn: Mạn Thù Thất Lợi! Hữu chư chúng sanh, bất thức thiện ác, duy hoài tham lận, bất tri bố thí, cập thi quả báo, ngu si vô trí, khuyết ư tín căn, đa tụ tài bảo, cần gia thủ hộ, kiến khất giả lai, kỳ tâm bất hỷ, thiết bất hoạch dĩ, nhi hành thí thời, như cát thân nhục, thâm sinh thống tích; phục hữu vô lượng san tham hữu tình, tích tập tư tài, ư kỳ tự thân, thượng bất thọ dụng, hà huống năng dữ phụ mẫu thê tử, nô tỳ tác sử, cập lai khất giả. Bỉ chư hữu tình, tòng thử mệnh chung, sanh ngạ quỷ giới, hoặc bàng sinh thú, do tích nhân gian, tằng đắc tạm văn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh cố, kim tại ác thú, tạm đắc ức niệm, bỉ Như Lai danh, tức ư niệm thời, tòng bỉ xứ một, hoàn sinh nhân trung, đắc túc mệnh niệm, úy ác thú khổ, bất nhạo dục lạc, hiếu hành huệ thí, tán thán thí giả, nhất thiết sở hữu tất vô tham tích, tiệm thứ thượng năng dĩ đầu mục, thủ túc, huyết nhục, thân phận, thí lai cầu giả, huống dư tài vật.

“Bấy giờ Thế Tôn lại bảo đồng tử Mạn Thù Thất Lợi”: Lúc bấy giờ đức Thích-ca lại bảo Bồ tát Văn Thù Sư Lợi; “Này ông Mạn ThùThất Lợi! Có những chúng sanh, chẳng biết thiện ác”, có những chúng sanh không hiểu thế nào là thiện hay ác; “vì ôm cái lòng tham lam keo bẩn, chẳng biết bố thí”, chỉ biết một thứ là lòng tham lam và keo bẩn, không biết bố thí, không biết giúp đỡ người.

Bố thí nghĩa là mình lấy đồ của mình để cho người trong lúc người ta không có. Có ba loại bố thí là tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí là bố thí bằng của cải hay bằng hiện vật. Pháp thí là đem những điều mình hiểu biết rõ ràng về Phật Pháp để nói cho mọi người nghe, tùy cơ duyên thích hợp mà mang pháp đến cho người, giống như y sĩ tùy theo bệnh tình của con bệnh mà cho thuốc. Còn như thấy kẻ khốn khổ gian nan, trong cơn nguy cấp, đương lúc lo sợ hãi hùng mà ta có thể mang đến cho họ sự an ủy trong lòng, khiến họ hết sợ hãi, thì đây gọi là vô úy thí .

Quý vị không có của để thực hành tài thí thì quý vị bố thí pháp; nếu quý vị không có pháp thì quý vị có thể thực hành lối vô úy thí.

“Và những quả báo về hạnh bố thí”, quý vị còn có thể “bố thí quả báo” nghĩa là giảng về hậu quả của những hành động bố thí, đại khái như trong Kinh Địa Tạng, phẩm thứ mười, có giảng về ý nghĩa của câu “xả nhất đắc vạn báo”, bỏ ra một mà sau lấy về cả muôn.

“Ngu si không trí, thiếu mất tín căn”, ngu xuẩn không có trí tuệ, thiếu lòng tin. Người không hiểu lẽ nhân quả là người ngu si, không có trí tuệ. Có trường hợp gặp được Phật Pháp mà tỏ ý hồ nghi không tin là vì duyên cớ gì? Vì tín căn không đủ, và không có “mắt chọn pháp” (trạch pháp nhãn). Quý vị nói phải thì họ cho là trái, ngược lại, nói trái thì cho là phải. Họ không đủ trí tuệ để phán đoán cái gì là đạo và cái gì không phải đạo.

“Chứa nhiều của báu”: Tích tụ cho nhiều tiền của, muốn làm nô lệ cho tiền tài; “chăm giữ lấy mãi”(cần gia thủ hộ), chăm chăm giữ của, từ sớm đến tối không lúc nào quên, rồi đêm nằm cho đến sáng không ngủ được, chỉ vì tưởng nhớ đến tiền của. Tìm mọi phương pháp để giữ của mà ăn không ngon, ngủ không yên, khốn khổ biết chừng nào!

“Thấy người đến xin, tâm họ chẳng mừng”, thấy người đến xin ăn hoặc thấy kẻ hành khất đến nhà thì cảm thấy trong lòng không vui, bảo rằng: “Sao các người lại đến đây? Thật đáng ghét!”

Nếu bất đắc dĩ mà phải bố thí”, giả thử bất đắc dĩ mà phải bố thí, chẳng hạn khi lâm vào hoàn cảnh không thể từ chối, hoặc từ chối thì sẽ gặp rắc rối, nghĩa là bị dồn vào chỗ phải bố thí, thì lúc đó họ sẽ cảm thấy “như cắt miếng thịt họ, rất là đau tiếc”, giống như người bị cắt vào da thịt, rất đau đớn và tiếc lắm!

“Lại có lắm kẻ tham lam keo xẻn”, cũng có vô số những kẻ tham lam keo kiệt; “thích giữ tiền của”, tích tụ của cải tiền tài; “đến ngay thân họ, chẳng muốn tiêu dùng”, tiêu xài cho chính mình mà cũng chưa chịu thọ dụng; “huống lại dám cho cha mẹ vợ con, tôi đòi sai khiến và kẻ đến xin”huống lại tiêu xài cho cha mẹ, con cái, nô tỳ và những kẻ hành khất đến xin.

“Những hữu tình ấy”, tức là số người tham lam keo kiệt vừa kể;“đến lúc mệnh chung, sanh làm ngạ quỷ”, một khi chết đi sẽ thành quỷ đói. Bởi tính keo kiệt, bo bo giữ của, không dám buông bỏ nên họ sẽ sanh làm thứ quỷ nghèo, quỷ đói, quỷ giữ của “hoặc làm bàng sanh”, tức làm kiếp súc sanh. Đó là điều không thể tránh khỏi.

“Nhưng vì thuở xưa, đã từng tạm nghe danh hiệu của đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”, nhân vì số chúng sanh đó, trong kiếp trước làm người, đã tình cờ được nghe người ta niệm danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai; “nên nay đương ở trong vòng ác thú, được tạm nhớ đến danh hiệu của Ngài”, nay đương ở trong ba đường ác, chợt nhớ lại danh hiệu của đức Dược Sư; “ngay khi nghĩ tới, liền được ra khỏi, trở về làm người”, ngay khi nhớ tới, bèn thoát ra khỏi kiếp ngạ quỷ hay kiếp bàng sanh, để trở lại thế gian làm người.

“Nhớ được túc mạng”, nhớ lại các sự tình trong kiếp trước, gọi là “túc mạng thông”; “sợ khổ ác thú, chẳng ham dục lạc, ưa làm bố thí, khen người bố thí”, rất sợ các quả khổ trong vòng ác đạo, không ham các dục lạc, mà ham thực hành bố thí lại còn hay khen ngợi những ai hay bố thí; “mình có những gì đều không ham tiếc”, phàm tất cả những thứ của mình, đều không tham tiếc; “dần dà đem cả đầu, mắt, chân, tay, máu thịt của mình, cho kẻ cầu xin, huống là tài vật”, dần dà còn có thể cho cả đầu, mắt, tay, chân, máu, thịt nếu có người cầu xin, huống chi là xả bỏ các thứ tiền tài và vật dụng.

Bố thí là một pháp môn tu phước. Chúng ta thử xem trên thế gian, có kẻ nghèo người giầu, tại sao vậy? Kiếp trước keo kiệt, kiếp này nghèo; kiếp trước bố thí, kiếp này giầu. Có câu nói: “Yếu xả tài năng đắc, bất xả tựu bất đắc”, nghĩa là phải bỏ tiền tài ra thì có được (tiền tài), chẳng chịu bỏ, tất chẳng được (tiền tài), đó là lẽ nhân quả, chúng ta đừng có lầm nhân quả. Nếu lầm thì sai một ly sẽ sai đi ngàn dặm.

Nhất là, chúng ta khi đã đến chùa lạy Phật, ta phải nghĩ tới lợi ích cho người và phải thực hành bố thí. Chớ có nghĩ rằng tới chùa là để kiếm chút lợi cho mình, hoặc lo ngại mình sẽ bị thiệt, thậm chí có người còn lén lấy của chùa các thứ ăn, các đồ dùng, ăn cắp thứ này thứ kia, đó chính là gieo cái nhân để rồi bị đọa vào các đường ác.

Mỗi người trong chúng ta khi về nhà mình nên bảo cho các bạn bè thân thích biết rằng khi đến bất cứ chùa miếu nào cũng đừng mang ý nghĩ kiếm lợi lộc, đừng nên ăn cắp một thứ gì của chùa, kẻo mang nghiệp tội vì các hành vi của mình. Nếu quý vị không nói, rủi họ mang tội thì quý vị cũng chịu tội một phần. Dạy cho họ đạo lý nhân quả tuần hoàn, chớ có lầm nhân quả!

Quý vị thấy Kinh của Phật chỉ dạy bố thí, chớ không nói người khác bố thí cho mình. Phật giáo là đem lợi ích cho người, nếu không như vậy thì sẽ biến thành “đức trung chi tặc”, giặc trong số người đức hạnh, là kẻ phá hoại Phật giáo. Tỷ như chúng ta đi lôi kéo mọi người hộ pháp, tưởng làm chuyện Phật sự, kỳ thực chỉ là tạo thêm tội nghiệp.

Quý vị phải nhớ kỹ! Hãy mau mau tỉnh ngộ! Mau mau hồi quang phản chiếu! Phải mau mau tỉnh thức! Có lỗi lầm thì cải sửa ngay; nếu không có thì hãy cố lên, để thành một Phật tử tốt. Chớ giả dạng Phật tử để lộn sòng, lợi dụng nước đục thả câu, toan kiếm chút lợi lộc. Chớ lấy Phật giáo để khai thác làm ăn, đó là cái nhân dẫn tới địa ngục.

Hồi trước có người đến chùa Kim Luân chỉ cốt để bán đồ trang sức, mà không biết rằng vậy là tự chuốc lấy quả báo ghê gớm. Bởi vậy, quý vị ráng cẩn thận, rủi có bị đọa tôi cũng không có cách gì cứu vớt được.

Còn nữa này ông Mạn Thù Sư Lợi! Nếu những hữu tình, tuy theo Như Lai, thọ học Phật Pháp, mà phá giới luật; lại có kẻ tuy chẳng phá giới luật, nhưng phá quy tắc; kẻ giữ được cả giới luật quy tắc, nhưng hủy chánh kiến; lại có kẻ tuy không hủy chánh kiến nhưng không cầu học hỏi; nên không hiểu rõ những điều Phật giảng thâm nghĩa khế kinh; có kẻ học nhiều lại tăng thượng mạn, vì tăng thượng mạn, che lấp tâm rồi, cho mình là phải, người khác là sai, hủy báng chánh pháp, làm bạn với ma, người ngu như vậy, tự mình đi vào con đường tà kiến, lại còn làm cho vô lượng triệu lần hữu tình bị đọa xuống hầm nguy hiểm. Những hữu tình này trôi quanh mãi mãi trong vòng địa ngục, bàng sanh quỷ thú. Nếu mà được nghe danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai liền bỏ ác hạnh, tu các thiện pháp, chẳng đọa ác thú. Dầu có kẻ nào chẳng thể bỏ được hết mọi ác hạnh mà tu thiện pháp, phải đọa ác thú, vì nhờ sức thần bổn nguyện của Phật, khiến họ hiện tiền, đã được tạm nghe danh hiệu của Phật, họ sẽ thoát thân nơi ác thú kia, lại được làm người, chánh kiến tinh tấn, khéo điều hòa được tâm ý an vui, liền bỏ được nhà, đến chốn không nhà, và thọ trì học trong pháp Như Lai, không hề hủy phạm chánh kiến đa văn, hiểu nghĩa thâm sâu, lìa tăng thượng mạn, chẳng báng chánh pháp, chẳng bạn với ma, dần dần tu hành, các hạnh Bồ tát, chóng thành viên mãn.

Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược chư hữu tình tuy ư Như Lai thọ chư học xứ, nhi phá Thi-la, hữu tuy bất phá Thi-la, nhi phá quỹ tắc, hữu ư thi la, quỹ tắc tuy đắc bất hoại, nhiên hủy chánh kiến, hữu tuy bất hủy chánh kiến nhi khí đa văn, ư Phật sở thuyết khế kinh thâm nghĩa, bất năng giải liễu. Hữu tuy đa văn, nhi tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn, phú tế tâm cố, tự thị phi tha, hiềm báng chánh pháp, vi ma bạn đảng, như thị ngu nhân tự hành tà kiến, phục linh vô lượng câu chi hữu tình, đọa đại hiểm khanh, thử chư hữu tình ưng ư địa ngục, bàng sanh, quỷ thú, lưu chuyển vô cùng, nhược đắc văn thử Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, tiện xả ác hạnh, tu chư thiện pháp, bất đọa ác thú; thiết hữu bất năng xả chư ác hạnh, tu hành thiện pháp, đọa ác thú giả, dĩ bỉ Như Lai bổn nguyện uy lực, linh kỳ hiện tiền tạm văn danh hiệu, tòng bỉ mệnh chung, hoàn sanh nhân thú, đắc chánh kiến tinh tấn, thiện điều ý lạc, tiện năng xả gia, thú ư phi gia, Như Lai pháp trung, thọ trì học xứ, vô hữu hủy phạm, chánh kiến đa văn, giải thậm thâm nghĩa, ly tăng thượng mạn, bất báng chánh pháp, bất vi ma bạn, tiệm thứ tu hành chư Bồ tát hạnh, tốc đắc viên mãn.

“Còn nữa này ông Mạn Thù Sư Lợi!”, Đức Phật Thích-ca e ngại rằng các chúng sanh không chú ý đến các nguyện lực và oai thần của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, mà chỉ nghe như gió thoảng bên tai, do đó, với đại bi tâm, Ngài liền giảng thật tường tế để chúng ta, các chúng sanh vào thời mạt pháp được lợi ích. Ngài nói:

“Nếu những hữu tình, tuy theo Như Lai, thọ học Phật Pháp”, nếu những chúng sanh tuy học tập Phật Pháp, nghiên cứu kinh điển; “mà phá giới luật”(nhi phá Thi-la), nhưng phá giới luật. “Thi-la” (Sila)là tiếng Phạn, nghĩa là giới luật. Công dụng của giới luật là ngăn điều ác, ngừa điều quấy, và những người nói trên hành động chẳng kể đến nguyên tắc này, nên họ là những người phá giới.

“Lại có kẻ tuy chẳng phá giới luật, nhưng phá quy tắc”(Hữu tuy bất phá Thi-la, nhi phá quỹ tắc), có một số tuy không phá giới, lại phá quy tắc. Quỹ tắclà những luật lệ phải tuân theo để sống chung với nhau trong một cộng đồng, coi như một thứ quy tắc.

“Kẻ giữ được cả giới luật quy tắc, nhưng hủy chánh kiến”, có một số giữ giới, không phạm quy tắc, lại hủy chánh kiến, tức là không có chánh tri chánh kiến, hành động kỳ quái, đầy những tà tri tà kiến.

“Lại có kẻ tuy không hủy chánh kiến”có một số, tuy không hủy chánh kiến; “nhưng không cầu học hỏi”, nhưng lại lười biếng không chịu khó chuyên cần học tập, để thời gian trôi qua uổng phí, bỏ phí cơ hội được học hỏi trí huệ bát nhã trong kinh điển, do đó, “nên không hiểu rõ những điều Phật giảng thâm nghĩa khế kinh”, đối với ý nghĩa thâm sâu mà Phật giảng trong khế kinh, họ không hiểu rõ. Kinh điển của Phật là những khế kinh,vì “khế” là khế hợp, trên thì hợp với lý của chư Phật, dưới thì hợp với căn cơ của chúng sanh.

“Có kẻ học nhiều lại tăng thượng mạn”, có số người, tuy đa văn lại tăng thượng mạn. Họ không phá giới, không phạm quy tắc, không phá chánh kiến, cũng không bỏ đa văn; họ chịu khó học hỏi, rộng xem kinh điển, biết nhiều Phật Pháp, nhưng trong lòng tự cho mình là giỏi, người khác không ai bằng mình, đưa cao sự ngạo mạn lên, đó gọi là cống cao ngã mạn; “vì tăng thượng mạn, che lấp tâm rồi”, do tư tưởng tăng thượng mạn mà trí huệ bị che lấp; “cho mình là phải, người khác là sai”(tự thị phi tha), tự cho mình là phải, còn người khác là sai; “hiềm báng chánh pháp”, hủy báng chánh pháp. Đối với ai đề xướng chánh pháp, những người vừa nói trên liền lên tiếng chê bai, rồi chỉ trích các lề lối thực tập tỷ như mỗi ngày ăn một bữa, đêm không nằm ngủ, không giữ tiền bạc, lại cho rằng thời Mạt pháp không ai tu được! Không hiểu họ học Phật Pháp gì mà lạ vậy!

“Làm bạn với ma”, họ trở thành bạn của loài ma, họ hàng của Ma vương, cùng một đảng với ma; “người ngu như vậy”những người như vậy “tự mình đi vào con đường tà kiến”, tự mình mang tà tri tà kiến, hành động không chánh đáng; “lại còn làm cho vô lượng triệu lần hữu tình”, lại còn khiến cho vô lượng câu chi chúng sanh, nghĩa là vô lượng số; “bị đọa xuống hầm nguy hiểm”, rơi vào những cái hầm rất khó thoát ra, rất mực nguy hiểm; “Những hữu tình này trôi quanh mãi mãi trong vòng địa ngục, bàng sanh quỷ thú”, những hữu tình ấy phải trôi nổi mãi, trong các vòng ác thú như địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, tức là những loại đã từng phạm những tội thuộc về thập ác, ngũ nghịch, phải bị đọa đầy trong cảnh địa ngục vô gián.

“Nếu mà được nghe danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”, nếu được nghe danh hiệu của Ngài Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai “liền bỏ ác hạnh, tu các thiện pháp, chẳng đọa ác thú”liền bỏ hết các hạnh xấu, sửa đổi lại các hành vi, rồi tu các điều lành, nên không bị sanh trở lại trong các vòng ác đạo, như tại địa ngục, làm quỷ đói, làm thân súc sanh hay A-tu-la.

“Dầu có kẻ nào chẳng thể bỏ được hết mọi ác hạnh”, giả tỷ họ không bỏ ngay được những hạnh xấu để “tu thiện pháp”, để thực hành các điều thiện, đại khái như giữ giới luật, học hỏi nhiều (đa văn), giữ chánh tri chánh kiến, tuân thủ các quy tắc, giả sử họ không làm được các điều này, họ “phải đọa ác thú”, tức bị đọa xuống địa ngục, làm quỷ đói hay làm súc sanh; “vì nhờ sức thần bổn nguyện của Phật, khiến họ hiện tiền, đã được tạm nghe danh hiệu của Phật”, do thần lực các bổn nguyện của đức Như Lai, khiến họ trước mắt được nghe tạm danh hiệu của Ngài, rồi từ đó “họ sẽ thoát thân nơi ác thú kia, lại được làm người”, khi hết kiếp đó, trở về làm người; “chánh kiến tinh tấn, khéo điều hòa được tâm ý an vui”, có được chánh tri chánh kiến, tinh tấn tu hành nên có khả năng điều hòa tâm ý, vĩnh viễn hoan hỷ và vui sướng trong lòng.

Tại sao họ được như vậy? Bởi họ đã hiểu rằng các thói xấu ích kỷ, tự lợi, tranh, tham và cầu là nguyên nhân đưa người ta vào các cõi ác, nên họ xả bỏ các tập khí trên. Làm được như vậy gọi là khéo điều hòa được tâm ý an vui(thiện điều ý lạc).

“Liền bỏ được nhà, đến chốn không nhà”: họ có khả năng nhận thức đúng, biết xả bỏ nên có thể bỏ lại gia đình để xuất gia tu hành.

“Và thọ trì học trong pháp Như Lai, không hề hủy phạm chánh kiến đa văn”, ở trong pháp của đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang, họ học tập, họ không phạm giới và phạm quy tắc, không hủy chánh kiến, không kiêu ngạo, họ thường có chánh kiến lại chuộng đa văn, không lười biếng, nói chung là chuyên cần học hỏi Phật Pháp; “hiểu nghĩa thâm sâu, lìa tăng thượng mạn”, họ hiểu tường tận những ý nghĩa thâm sâu trong kinh điển, họ lìa khỏi ý tưởng cống cao ngã mạn.

“Chẳng báng chánh pháp, chẳng bạn với ma, dần dần tu hành, các hạnh Bồ tát, chóng thành viên mãn”, họ không chê bai chánh pháp, không làm bạn với Ma vương, không vào đảng của loài ma, rồi dần dà tu theo các hạnh Bồ tát, mau chóng đạt được thành quả viên mãn, nghĩa là đạt được quả vô thượng Bồ-đề Chánh Đẳng Chánh Giác.

Còn nữa, này ông Mạn Thù Sư Lợi! Nếu những hữu tình, keo tham tật đố, khen mình chê người, sẽ phải đọa vào trong ba đường ác, bao nhiêu ngàn năm, chịu mọi cực khổ, chịu cực khổ rồi, ở đấy mãn hạn, rồi lên nhân gian, làm thân trâu ngựa, lừa và lạc đà, thường bị roi đánh, đói khát khổ não, lại thường mang nặng, theo đường mà đi, hoặc được làm người, vào hàng hạ tiện, làm kẻ tôi đòi, bị người sai khiến, chẳng được tự tại, nếu xưa làm người, đã từng được nghe danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, do nhân lành đó, nay còn nhớ lại, hết lòng quy y, nhờ thần lực Phật, giải thoát hết khổ, các căn thông lợi, trí tuệ đa văn, thường cầu thắng pháp, thường gặp bạn lành, dứt hẳn lưới ma, đập vỡ cái vỏ vô minh u tối, cạn dòng phiền não, giải thoát dứt hết sanh già bệnh chết, ưu sầu khổ não.

Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược chư hữu tình, san tham tật đố, tự tán hủy tha, đương đọa tam ác thú trung, vô lượng thiên tuế thọ chư kịch khổ, thọ kịch khổ dĩ, tòng bỉ mệnh chung, lai sinh nhân gian, tác ngưu mã đà lư, hằng bị tiên thát, cơ khát bức não, hựu thường phụ trọng, tùy lộ nhi hành, hoặc đắc vi nhân, sinh cư hạ tiện, tác nhân nô tỳ, thọ tha khu dịch, hằng bất tự tại, nhược tích nhân trung, tằng văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, do thử thiện nhân, kim phục ức niệm, chí tâm quy y, dĩ Phật thần lực, chúng khổ giải thoát, chư căn thông lợi, trí huệ đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường ngộ thiện hữu, vĩnh đoạn ma quyến, phá vô minh xác, kiệt phiền não hà, giải thoát nhất thiết sinh lão bệnh tử, ưu sầu khổ não.

“Còn nữa, này ông Mạn Thù Sư Lợi!”: Đức Phật Thích-ca lại bảo Bồ tát Văn Thù Sư Lợi; “Nếu những hữu tình, keo tham tật đố”, nếu những hữu tình keo kiệt, tham lam, hay ganh ghét. Keo kiệtlà nói những hạng bo bo không dám bỏ tiền ra, cam tâm làm kẻ nô lệ, làm trâu làm ngựa để giữ tiền lại cho con cháu; tham là ham lợi, ưa tích lũy tiền của, càng nhiều càng tốt, cho đến ham cả đồ rác rưởi, nghĩ rằng rác cũng có thể biến thành năng lượng; tật đốlà một loại ác tâm, tiềm tàng ở bên trong. Khi nó hiện ra ý nghĩ thì nó phát sinh thành lòng ghen tị, biểu hiện thành những hành động phương hại người khác, như đố kỵ người có tài năng, có trí thông minh, người gặp được phước báo, những ai được hưởng vui sướng, hay gặp sự tình thuận lợi.

“Khen mình chê người”, tự khen mình và chê bai kẻ khác. Trong giới luật Bồ tát, điều này được giảng rất kỹ càng. Nếu thực sự quý vị có điều hay, hà tất quý vị phải tự tán dương? Người khác cũng có con mắt tinh đời, quý vị hay hay dở người ta cũng biết, cần chi phải tự khen mình. Có người tự giới thiệu rằng: “Quý vị biết tôi không? Là một đại Bồ tát đó!”; hoặc bảo: “Quý vị biết tôi chứ? Tôi là người đã được khai ngộ”; hoặc “tôi có thần thông”. Đó là cách tự quảng cáo, tự tuyên truyền, tự tán dương mình. Còn người khác thì luôn luôn sai, không ai đúng hết. Ngay đến ông trời cũng không công bằng, đất thì thiếu từ bi, đức Phật cũng không tốt nữa!

Những người như vậy ư?

“Sẽ phải đọa vào trong ba đường ác”, đáng bị đọa vào các đường ác, xuống địa ngục, hoặc làm quỷ đói, hoặc làm thân thú vật và sẽ trải qua“bao nhiêu ngàn năm, chịu mọi cực khổ” (vô lượng thiên tuế thọ chư kịch khổ), bao nhiêu ngàn năm trong vòng ác đạo để phải chịu khổ; “kịch khổ” nghĩa là khổ đến cùng cực. Đó là quả báo của những ai khen mình chê người, keo kiệt, tham lam, tật đố. Họ có chút đỉnh đức hạnh nào, có chút phước báo nào thì đã tiêu hết nên mới bị khổ não như vậy.

“Chịu cực khổ rồi, ở đấy mãn hạn, rồi lên nhân gian”, chịu khổ não xong, hết kiếp đó, trở về nhân gian,“làm thân trâu ngựa, lừa và lạc đà”, làm thân trâu, ngựa, lạc đà, lừa. Vì lý do trong vô số kiếp, họ đã ở trong ba đường ác, khổ não vô cùng trong cảnh địa ngục, nên khi lên cõi nhân thế, các chúng sanh ấy chưa thể mang thân người được, phải làm các thân trâu, ngựa, lạc đà và lừa.

“Thường bị roi đánh, đói khát khổ não, lại thường mang nặng, theo đường mà đi”, thường bị chủ nhân dùng roi đánh đập, đói và khát làm cho khổ sở, lại thường phải mang nặng, cứ theo đường mà bước đi.

Khi quả báo đã gần xong, các chúng sanh đó “hoặc được làm người”, được sanh làm người, nhưng đầu thai vào những gia đình nghèo hèn, trong cảnh cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, không nơi trú ngụ, cái gì cũng thiếu thốn, tóm lại là nghèo mạt không ai có thể nghèo hơn, cho nên nói “sanh vào hạ tiện”; “làm kẻ tôi đòi, bị người sai khiến, chẳng được tự tại” làm thân tôi đòi , làm đầy tớ như nô bộc, tỳ nữ, bị người sai khiến, không lúc nào được tự tại.

“Nếu xưa làm người, đã từng được nghe danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”, giả sử những hữu tình ấy, trong kiếp trước làm người, tình cờ được nghe đến danh hiệu của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, “do nhân lành đó, nay còn nhớ lại”, do cái nhân lành ấy, cái chủng tử tốt ấy, mà nay nhớ lại được danh hiệu của Ngài; “chí tâm quy y”, dùng tâm chí thành khẩn thiết để quy y Ngài; “nhờ thần lực Phật, giải thoát hết khổ”, do thần lực của Ngài, tức oai lực của các nguyện lớn, tất cả các sự khổ não đều tiêu ma.

“Các căn thông lợi”, cả sáu căn đều thông lợi. Mắt thì sáng, mọi cảnh vật đều hiện ra minh bạch; tai thính nên nghe âm thanh rõ ràng; mũi phân biệt hương một cách sắc bén; lưỡi nếm biết thưởng thức mùi vị, hợp hay không hợp khẩu vị; nói về thân thì cảm giác xúc chạm rất là bén nhậy, cái giác đó là cái biết của trí huệ; sau hết là ý và đối tượng của nó là pháp - ý duyên pháp. Trong ý thì trí huệ hiện tiền, trí nhớ thì bền bỉ một cách phi thường.

“Trí huệ đa văn”, lại có trí huệ, biết nhiều đạo lý, học thức quảng bác; “thường cầu thắng pháp”, thường cầu học hỏi để thêm tiến bộ, không coi sự hiểu biết ít ỏi của mình là đủ, chớ không phải nói đại khái như: “Ồ! Với tôi thì đã đủ rồi! Nghỉ thôi!” Những ai có căn lành gặp được chúng sanh của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì họ không lười biếng, họ “thường gặp bạn lành”, gặp bạn tốt, những thiện tri thức có thể giúp đỡ họ, cuối cùng có thể “dứt hẳn lưới ma”, vĩnh viễn thoát khỏi lưới của loài ma; “đập vỡ cái vỏ vô minh u tối”, phá được cái vỏ vô minh. Điều này rất là trọng yếu đối với chúng ta, bởi mục đích của người tu hành chính là phá màn vô minh. Giống như cái vỏ trứng, ngăn cách con gà với ngoại giới, vô minh chính là một cái vỏ nhốt con người bên trong. Quý vị ở trong vỏ kín thì đâu còn biết gì chuyện bên ngoài! Quý vị hoàn toàn sống trong sự mù mờ, đầy ắp những vọng tưởng trong đầu óc, từ đó dẫn quý vị tới những hành động bất thiện.

“Cạn dòng phiền não, giải thoát dứt hết sanh già bệnh chết, ưu sầu khổ não.”, làm cho cạn con sông phiền não, thoát ly hết mọi vấn đề sanh, già, bệnh, chết, cùng những sầu bi khổ não, cho nên hằng sống trong cảnh “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh”, gọi là bốn đức của Niết bàn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn