Phần II

7/15/201100:46(View: 4833)
Phần II

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ SỢ HÃI [ON FEAR]
Lời dịch: ÔNG KHÔNG – 2009 –
HarperSanFrancisco, A Division of HarperCollinsPublishers

PHẦN 2

Brockwood Park, 1 tháng chín 1979

Có những sợ hãi giấu giếm thật sâu mà bạn không biết được, và có những sợ hãi thuộc thân thể và tâm lý rõ ràng.

Có sợ hãi không-an toàn, không có công việc làm, hay có việc làm lại sợ hãi mất chúng, sợ hãi nhiều hình thức đình công khác nhau đang xảy ra, và vân vân và vân vân. Vậy là hầu hết chúng ta đều lo lắng, sợ hãi không hoàn toàn được an toàn phần thân thể và vật chất. Rõ ràng như thế, nhưng tại sao? Có phải bởi vì chúng ta luôn luôn đang tách rời chính chúng ta như một quốc gia, như một gia đình, như một nhóm người? Có phải tiến trình tách rời chầm chậm này – người Pháp đang tách rời chính họ, người Đức cũng vậy, và vân vân – dần dần đang tạo ra không-an toàn cho tất cả chúng ta? Chúng ta có thể quan sát nó, không chỉ phía bên ngoài? Bằng cách quan sát việc gì đang xảy ra phía bên ngoài, biết chính xác việc gì đang diễn tiến, từ đó chúng ta có thể bắt đầu tìm hiểu trong chính chúng ta. Ngược lại chúng ta không có những tiêu chuẩn; ngược lại chúng ta đang dối gạt chính chúng ta. Vậy là chúng ta phải bắt đầu từ phía bên ngoài và vận dụng hướng vào phía bên trong. Nó giống như thủy triều đang đi ra và đi vào. Nó không là một thủy triều cố định, nó luôn luôn đang chuyển động ra và vào.

Sự tách rời này, mà đã là sự diễn tả bộ lạc của mỗi con người, đang gây ra sự thiếu thốn thuộc vật chất của an toàn. Nếu người ta thấy sự thật của nó như một sự kiện, và không phải sự giải thích thuộc từ ngữ hay sự chấp nhận thuộc trí năng của một ý tưởng, vậy thì người ta không lệ thuộc vào bất kỳ nhóm người nào, bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ văn hóa nào, bất kỳ tôn giáo có tổ chức nào, bởi vì tất cả chúng đều tách rời – Thiên chúa giáo, Tin lành giáo, Ấn độ giáo, và vân vân. Bạn sẽ thực hiện điều đó, như chúng ta đang bàn luận cùng nhau. Liệu bạn sẽ buông bỏ những sự việc giả dối, không là sự kiện, không có giá trị? Mặc dù chúng ta nghĩ chúng có giá trị, khi bạn quan sát, quốc tịch thực sự nuôi dưỡng những chiến tranh. Vì vậy liệu chúng ta có thể buông bỏ nó để cho thuộc vật chất chúng ta có thể tạo ra một hợp nhất của nhân loại? Và hợp nhất này chỉ có thể xảy ra qua tôn giáo, không phải tôn giáo giả tạo mà chúng ta có bây giờ. Tôi hy vọng tôi không đang xúc phạm bất kỳ người nào. Thiên chúa giáo, Tin lành giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo đều được đặt nền tảng trên tư tưởng, được sắp xếp vào chung bởi tư tưởng. Và điều mà tư tưởng đã tạo tác không là thiêng liêng, nó chỉ là tư tưởng, nó chỉ là một ý tưởng. Và bạn chiếu rọi một ý tưởng, biểu tượng hóa nó, sau đó tôn thờ nó. Trong biểu tượng đó, trong hình ảnh đó, trong nghi lễ đó, tuyệt đối không có gì là thiêng liêng. Và nếu người ta thực sự quan sát điều này, vậy thì người ta được tự do khỏi nó để tìm ra tôn giáo thực sự là gì, bởi vì việc đó có lẽ mang chúng ta lại cùng nhau.

Vậy là, chúng ta có thể thâm nhập những mức độ sâu thẳm hơn nữa của sợ hãi, mà là những sợ hãi tâm lý. Những sợ hãi tâm lý trong những liên hệ của chúng ta, những sợ hãi tâm lý liên quan đến thời gian, những sợ hãi về quá khứ – đó là, những sợ hãi về thời gian. Làm ơn, tôi không là một giáo sư, một học giả đang thuyết giảng rồi sau đó quay trở lại cuộc sống thối nát của anh ấy. Đây là cái gì đó rất, rất nghiêm túc, mà gây ảnh hưởng tất cả những cuộc sống của chúng ta, vì vậy làm ơn hãy trao trọn vẹn sự chú ý và ân cần của bạn. Có những sợ hãi trong liên hệ, những sợ hãi của không-chắc chắn, những sợ hãi của quá khứ và tương lai, những sợ hãi của không-biết, những sợ hãi của chết, những sợ hãi của cô độc, ý thức khốn khổ của một mình. Bạn có lẽ liên quan đến những người khác, bạn có lẽ có nhiều bạn bè, bạn có lẽ lập gia đình, bạn có lẽ có con cái, nhưng có ý thức của tách rời sâu thẳm này, ý thức của cô độc này. Đó là một trong những nhân tố của sợ hãi.

Cũng có sợ hãi của không thể thành tựu. Và sự ham muốn thành tựu mang theo cùng nó ý thức của thất vọng,và trong đó có sợ hãi. Có sợ hãi của không thể được tuyệt đối rõ ràng về mọi thứ. Vậy là có nhiều, nhiều hình thức của sợ hãi. Bạn có thể quan sát sợ hãi đặc biệt riêng của bạn, nếu bạn hứng thú, nếu bạn nghiêm túc. Bởi vì một cái trí sợ hãi, biết được hay không-biết được, có thể cố gắng thiền định, nhưng thiền định đó chỉ dẫn đến đau khổ thêm nữa, bại hoại thêm nữa, bởi vì một cái trí sợ hãi không thể thấy sự thật là gì. Chúng ta sẽ tìm ra liệu có thể tổng thể, trọn vẹn, được tự do khỏi sợ hãi trong tất cả chiều sâu của nó.

Bạn biết chúng ta đang thực hiện một công việc mà đòi hỏi một quan sát rất cẩn thận: quan sát sợ hãi riêng của người ta. Và bạn quan sát sợ hãi đó như thế nào là quan trọng nhất. Bạn quan sát nó như thế nào? Nó là một sợ hãi mà bạn đã ghi nhớ, rồi sau đó nhớ lại và quan sát nó? Hay nó là sợ hãi mà bạn không còn có thời gian để quan sát và thế là sợ hãi vẫn còn trong hiện tại? Hay cái trí không sẵn lòng để quan sát sợ hãi? Mà là điều đang thực sự xảy ra? Chúng ta không sẵn lòng quan sát, nhìn ngắm những sợ hãi riêng của chúng ta bởi vì hầu hết chúng ta đều không biết làm thế nào để giải quyết chúng? Hoặc chúng ta chạy trốn, tẩu thoát, hay phân tích, qua việc đó nghĩ rằng chúng ta sẽ loại bỏ được một sợ hãi, nhưng sợ hãi vẫn còn đó. Vậy là rất quan trọng phải tìm ra chúng ta quan sát sợ hãi đó như thế nào.

Chúng ta quan sát sợ hãi như thế nào? Đây không là một câu hỏi ngớ ngẩn bởi vì hoặc bạn quan sát nó sau khi nó đã xảy ra hoặc bạn quan sát nó khi nó đang xảy ra. Với hầu hết chúng ta sự quan sát diễn ra sau khi nó đã xảy ra. Lúc này, chúng ta đang hỏi liệu có thể quan sát sợ hãi khi nó nảy sinh. Đó là bạn bị sợ hãi bởi một niềm tin khác. Bạn bám vào một niềm tin rất chặt chẽ, vì vậy bạn bị sợ hãi điều này. Bạn có những niềm tin nào đó, những trải nghiệm nào đó, những quan điểm, những nhận xét, và những đánh giá nào đó. Khi người nào đó đang thách thức những điều này, liền có hoặc là sự kháng cự, dựng lên một bức tường chống lại nó, hoặc là bạn sợ hãi rằng bạn sẽ bị lật đổ niềm tin của bạn. Lúc này, liệu bạn có thể quan sát sợ hãi đó khi nó nảy sinh? Bạn đang làm nó chứ? Bạn quan sát sợ hãi đó như thế nào? Có sự công nhận của phản ứng mà bạn gọi là sợ hãi – bởi vì bạn đã có sợ hãi đó trước kia, ký ức của nó được lưu trữ lại, và khi sợ hãi nảy sinh bạn công nhận nó, đúng chứ? Vậy là bạn không đang quan sát nhưng đang công nhận.

Sự công nhận không làm tự do cái trí khỏi sợ hãi. Nó chỉ củng cố sợ hãi. Có hai nhân tố trong vận hành. Bạn cảm thấy rằng bạn khác biệt sợ hãi đó, và thế là bạn vận hành vào sợ hãi đó, kiểm soát nó, xua đuổi nó, lý lẽ nó, và vân vân. Đó có nghĩa bạn đang làm điều gì đó về sợ hãi đó, nhưng trong đó có một phân chia – cái tôi và sợ hãi đó – vậy là có xung đột trong phân chia đó. Ngược lại, nếu bạn nhìn ngắm, sợ hãi đó là bạn. Bạn không khác biệt sợ hãi đó. Nếu một lần bạn nắm được nguyên tắc rằng người quan sát là vật được quan sát, rằng sự kiện là người quan sát là sợ hãi đó, vậy thì không có sự phân chia giữa người quan sát và sợ hãi.

Vậy là, điều gì xảy ra? Chúng ta hãy theo dõi một chốc lát. Như chúng ta đã hỏi, chúng ta đang quan sát sợ hãi qua qui trình của ký ức, mà là sự công nhận, sự đặt tên? Từ đó, truyền thống nói hãy kiểm soát nó; truyền thống nói hãy chạy trốn nó; truyền thống nói hãy làm điều gì đó về nó để cho bạn không còn sợ hãi. Thế là truyền thống đã giáo dục chúng ta phải nói rằng ‘cái tôi’ khác biệt sợ hãi. Liệu bạn có thể được tự do khỏi truyền thống đó và quan sát sợ hãi đó? Liệu bạn có thể quan sát không có tư tưởng đã nhớ lại phản ứng mà đã được gọi là sợ hãi trong quá khứ? Nó đòi hỏi sự chú ý và khéo léo vô cùng trong sự quan sát. Trong quan sát, chỉ có trực nhận thuần túy, không có sự diễn giải của trực nhận đó bởi tư tưởng. Vậy thì sợ hãi là gì? Lúc này tôi đã quan sát người nào đó đang đe dọa niềm tin mà tôi giữ chặt, trải nghiệm mà tôi bám vào, sự khẳng định đã đạt được của tôi, và thế là sợ hãi nảy sinh. Trong quan sát sợ hãi đó, chúng ta đã đến được mấu chốt khi bạn quan sát mà không có sự phân chia.

Bây giờ, câu hỏi kế tiếp là: Sợ hãi là gì? Sợ hãi bóng tối, sợ hãi người chồng, người vợ, cô gái, hay bất kỳ điều gì; sợ hãi, giả dối hay thực sự, và vân vân. Tách khỏi từ ngữ, sợ hãi là gì? Từ ngữ không là sự việc. Người ta phải nhận ra điều này thật sâu thẳm. Từ ngữ không là sự việc.

Vậy là nếu không có từ ngữ, đó là gì mà chúng ta gọi là sợ hãi? Hay từ ngữ tạo ra sợ hãi? Từ ngữ tạo ra sợ hãi, từ ngữ là sự công nhận về cái gì đó đã xảy ra trước kia, mà chúng ta đã gọi là sợ hãi. Từ ngữ trở thành quan trọng. Giống như người Anh, người Pháp, người Nga, từ ngữ quan trọng cực kỳ cho hầu hết chúng ta. Nhưng từ ngữ không là sự việc. Vì vậy tách khỏi những diễn tả khác nhau của nó, sợ hãi là gì? Gốc rễ của sợ hãi là gì? Nếu chúng ta có thể tìm được gốc rễ của nó vậy thì những sợ hãi nhận biết được hay không nhận biết được có thể được hiểu rõ. Khoảnh khắc bạn có một trực nhận của gốc rễ, cái trí tầng ý thức bên ngoài và cái trí tầng ý thức bên trong không còn quan trọng. Chỉ còn trực nhận của nó. Gốc rễ của sợ hãi là gì? Sợ hãi về ngày hôm qua, một ngàn ngày hôm qua, sợ hãi về ngày mai, và về chết. hay sợ hãi về cái gì đó mà đã xảy ra trong quá khứ. Không có sợ hãi thực sự ngay lúc này. Làm ơn hãy hiểu rõ cẩn thận điều này. Nếu bỗng nhiên chết đến cho một người, nó kết thúc. Nó xong. Bạn bị một cơn đau tim và nó hết. Nhưng ý tưởng rằng một cơn đau tim sẽ xảy ra trong tương lai là sợ hãi. Gốc rễ của sợ hãi là thời gian, thời gian là một chuyển động của quá khứ, được bổ sung trong hiện tại, và tiếp tục trong tương lai? Toàn chuyển động này là nguyên nhân của sợ hãi, gốc rễ của nó?

Chúng ta đang hỏi, liệu tư tưởng, mà là thời gian, là gốc rễ của sợ hãi? Tư tưởng là chuyển động. Bất kỳ chuyển động nào đều là thời gian. Gốc rễ của sợ hãi là thời gian? Tư tưởng? Và liệu chúng ta có thể hiểu rõ toàn chuyển động của thời gian, cả tâm lý lẫn vật lý? Thời gian tâm lý là ngày mai, và vậy là ngày mai là gốc rễ của sợ hãi? Mà có nghĩa chúng ta đang nói về sống hàng ngày chứ không phải chỉ những lý thuyết. Liệu người ta có thể sống mà không có ngày mai? Hãy thực hiện nó. Đó là, nếu bạn có một đau đớn thân thể ngày hôm qua, hãy kết thúc đau đớn đó ngày hôm qua, và không mang nó sang ngày hôm nay rồi vào ngày mai. Chính mang nó sang là thời gian mới tạo ra sợ hãi.

Sợ hãi tâm lý có thể hoàn toàn kết thúc nếu bạn áp dụng điều gì đang được nói. Người đầu bếp có thể nấu món ăn tuyệt vời nhưng nếu bạn không đói, nếu bạn không ăn nó, vậy thì nó vẫn ở trên thực đơn và không có giá trị gì cả. Nhưng nếu bạn ăn nó, áp dụng nó, thâm nhập vào nó cho chính bạn, bạn sẽ thấy rằng sợ hãi tâm lý có thể kết thúc tuyệt đối, để cho cái trí được tự do khỏi gánh nặng khủng khiếp mà con người đã mang.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
2/11/2026(View: 2105)
Mặc dù con đường thức tỉnh tâm linh là một hành trình đầy thách thức nhưng cũng đầy ý nghĩa. Gần đây không biết một đại cơ duyên nào đã đến với tôi, khi tìm kiếm nghe bài giảng từ nguồn giáo lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sau khi nghe độ chục bài , tôi phát tâm phiên tả lại và sắp xếp lại cách phân đoạn cho đúng theo lời Ngài, thì chợt nhận ra có một lợi lạc vô cùng, vì khi phiên tả có những đoạn không hiểu tôi đã tìm về nguồn kinh sách mà ngày xưa mình đã học hỏi với các minh sư.
12/8/2025(View: 1733)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
10/22/2025(View: 3747)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
8/25/2025(View: 2103)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
5/31/2025(View: 3046)
“Đào tạo thanh, thiếu, đồng niên trở thành người Phật tử chân chính nhằm xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.” Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam không phải là một khẩu hiệu suông. Đó là một tuyên ngôn giáo dục – tâm linh – xã hội sâu sắc. Từng từ trong câu mục đích là một viên gạch xây nên lý tưởng và phương hướng hoạt động của tổ chức. Để thực sự thực hành đúng vai trò Huynh Trưởng, chúng ta cần thẩm thấu từng khía cạnh sau:
5/31/2025(View: 1534)
Trong đạo Phật, sự tự do nội tâm, tỉnh thức trong thực tại và giác ngộ cá nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Đức Phật không lập giáo điều, không lập giáo hội,không áp đặt niềm tin, cũng không thiết lập một cơ chế tổ chức mang tính quyền lực hay mệnh lệnh. Ngài chỉ chỉ bày con đường như ngón tay chỉ mặt trăng: Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – con đường đưa đến thân lạc tâm an, tỉnh thức mọi lúc và giải thoát khổ đau. Vì thế, tất cả những văn bản, văn kiện, định chế như Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
4/25/2025(View: 3462)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
4/22/2025(View: 3439)
Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?” Vì sao vậy ? Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
10/19/2024(View: 6230)
Thân-Khẩu-Ý (身-口-意; P: Kāya-Vacī-Mano; S: Kāya-Vak-Mana; E: Body-Speech-Thought) là 3 thứ tách biệt nơi con người, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Ý là yếu tố có sự tác động đến cả Thân và Khẩu. Nếu một hành động của Thân hay lời nói của Khẩu mà không có Ý tác động vào thì khó mà có kết quả.
10/19/2024(View: 9488)
Tứ y pháp (四依法; S: Catuḥpratisaraṇa; E: The four reliances) là 4 pháp phương tiện quan trọng theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, với mục đích giúp hành giả rõ biết pháp nào nên hoặc không nên nương tựa, nhằm thành tựu giác ngộ, giải thoát.