Bài 5: Triết học Cārvāka

4/8/201319:37(View: 7419)
Bài 5: Triết học Cārvāka

Bài 05: Triết học Cārvāka

image

Thuyết vô thần[1], hay chủ nghĩa vô thần, là một quan điểm khẳng định rằng thần thánh không tồn tại, hoặc phủ nhận “đức tin”[2] vào thần thánh. Từ “vô thần” còn được định nghĩa một cách rộng hơn là sự không có đức tin vào thần thánh, đồng nghĩa với phi thần luận (nontheism).

A. Nguồn gốc.

I. Nhận định về Vô Thần:

“Vô thần” mới xuất hiện ở châu Âu từ thế kỷ 16 tại Pháp, các quan niệm mà ngày nay được ghi nhận là vô thần đã được ghi lại từ thời cổ đại. Từ điển bách khoa Việt Nam viết:

Ở Ấn Độ, có tư tưởng về vũ trụ vô thủy vô chung, không do ai tạo ra. Ở Ai Cập, có tư tưởng hoài nghi về thế giới bên kia. Ở Trung Quốc cổ đại, có quan niệm duy vật và vô thần về khí và về năm nguyên tố hợp thành vũ trụ (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Ở Hi Lạp và La Mã cổ đại, có tư tưởng cho rằng thế giới cấu tạo từ các nguyên tố vật chất như nước, lửa, nguyên tử”.

Thuyết vô thần[1], hay chủ nghĩa vô thần, là một quan điểm khẳng định rằng thần thánh không tồn tại, hoặc phủ nhận “đức tin”[2] vào thần thánh. Từ “vô thần” còn được định nghĩa một cách rộng hơn là sự không có đức tin vào thần thánh, đồng nghĩa với phi thần luận (nontheism).

Nhiều người tự nhận là vô thần[3] có thái độ hoài nghi với tất cả những gì siêu nhiên, với lý do là không có bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của thần thánh. Những người khác lập luận ủng hộ thuyết vô thần trên cơ sở triết học, xã hội và lịch sử. Nhưng trong tư tưởng đưa đến nhận thức nhằm đạt sự đồng thuận đối với định nghĩa của các từ như “thần” hay “chúa” (deitygod) vẫn còn một khoảng cách khá xa đối với lập luận hay biện chứng.

Về các hiện tượng bị phủ nhận, chủ nghĩa vô thần có thể chống lại bất cứ thứ gì từ sự tồn tại của một vị chúa trời tới sự tồn tại của bất cứ khái niệm tâm linh, siêu nhiên, hay siêu việt nào, chẳng hạn như các khái niệm của Ấn Độ giáo và Phật giáo[4].

II. Khái quát về vô thần:

Cơ sở lý luận vô thần là phân biệt giữa vô thần thực tiễn và vô thần lý thuyết. Mỗi hình thức khác nhau của vô thần lý thuyết xuất phát từ một cơ sở lý luận hay luận cứ triết học cụ thể nào đó. Ngược lại, vô thần thực tiễn không đòi hỏi một luận cứ cụ thể và có thể bao gồm sự không quan tâm và không biết về ý niệm thần thánh.

1. Vô thần lý thuyết:

Về khía cạnh lý thuyết, hoặc tu hành, chủ nghĩa vô thần thừa nhận một cách tường minh các luận cứ chống lại sự tồn tại của thánh thần, phản ứng lại các luận cứ hữu thần như luận cứ mục đích hoặc thuyết đánh cược của Pascal (Pascal's Wager). Các lập luận lý thuyết cho việc phủ nhận thần thánh dựa trên các dạng thức tâm lý học, xã hội học, siêu hình học và nhận thức luận đa dạng.

2. Vô thần thực tiễn:

Trong thuyết vô thần “thực tiễn”, hay “thực dụng”, các cá nhân sống như thể không có thần thánh và họ giải thích các hiện tượng tự nhiên mà không dùng đến những khái niệm có tính chất thần thánh. Sự tồn tại của thần thánh không bị phủ nhận, nhưng có thể được xem là không cần thiết hoặc vô ích; thần thánh không mang lại mục đích sống, cũng không gây ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày. Nói một cách khác khái niệm của họ khác vớikhoa học tự nhiên phương pháp luận (methodological naturalism). Chủ nghĩa vô thần thực tiễn có nhiều hình thức khác nhau:

2.1/ Thiếu động cơ tôn giáo để tạo nên đức tin vào thần.

2.2/ Chủ động loại bỏ các vấn đề về thần thánh và tôn giáo ra khỏi hoạt động tìm kiếm tri thức hay các hoạt động thực tiễn.

2.3/ Không quan tâm đến các vấn đề thần thánh và tôn giáo.

2.4/ Không có bất cứ ý niệm nào về thần thánh.

III. Xác Định chủ nghĩa nhận thức:

1. Tư tưởng của người Ấn qua các thời kỳ:

* 1500 TCN - Vệ ĐàÁo nghĩa thư

* 500 TCN - Jaina, Phật, Bhagavad Gita, Manu Smriti

* 300 TCN - sự phát triển của nền triết học Ấn giáo (Darshanas) chính thống

* 200 SCN - Long Thọ và sự phát triển của trường phái Đại thừa

* 600 SCN - Shankaracharya và sự phát triển của Vedanta

* 900 SCN - sự phát triển của các trường phái: Visishtadvaita, Dvaita, v.v...

2. Khái niệm Vô thần theo hai quan điểm:

Như vậy theo dòng thời gian, người Ấn đã thay đổi rất nhiều về nhận thức khi cuộc sống trở nên phong phú, trái đất được thu hẹp trong tầm tay thì khái niệm về vô thần cũng được phân chia ranh giới trong khái niệm khá rõ:

a) Vô thần trong trạng thái chưa từng nghĩ đến niềm tin vào thần thánh. Và mơ hồ với khái niệm vào thần thánh.

b) Vô thần có ý thức không xác định về đức tin thần thánh. Và họ chủ động khẳng định rằng thần thánh không tồn tại.

trangthaivothuc

Các nhà triết học như Ludwig Feuerbach[5] và Sigmund Freud lập luận rằng Chúa Trời và các đức tin tôn giáo khác là các phát minh của con người, được tạo ra để thỏa mãn các nhu cầu hay ý muốn đa dạng về tâm lý hoặc tình cảm. Đây cũng là quan điểm của nhiều Phật tử[6]. Chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của Feuerbach, Karl Marx và Friedrich Engels, lập luận rằng đức tin vào Chúa Trời và tôn giáo là các công cụ xã hội mà những người có quyền lực sử dụng để áp bức giai cấp lao động. Theo Mikhail Bakunin, “ý niệm về Chúa hàm ý sự từ bỏ lý tính và công lý của con người; nó là sự phủ nhận kiên quyết nhất đối với quyền tự do của con người, và nó dẫn đến kết quả tất yếu là sự nô lệ của loài người về lý thuyết cũng như thực tế”. Đảo ngược câu cách ngôn nổi tiếng của Voltaire “Nếu không có Chúa thì cần phải phát minh ra Chúa”, Bakunin nói “Nếu quả là có Chúa thì cần phải bãi bỏ ông ta”[7].

Dựa trên những tiêu chí của các chủ thuyết, chúng ta thấy, dù cổ đại hay hiện đại thì những thắc mắc do tư duy hay tự nhiên không ý thức đều có cùng chung quan điểm, nếu những học thuyết và chủ nghĩa hữu thần hay vô thần chưa đưa được con người thoát khỏi cái vỏ kiến thức định kiến thì vẫn mãi là học thuyết suông.

B. Học thuyết.

1. Trường phái triết học Cārvāka: 

Trường phái triết học Cārvāka có tính chất triệt để duy vật và phản thần đã bắt nguồn từ khoảng thế kỷ thứ 6 trước CN. Và cũng là trường phái triết học vô thần rõ rệt nhất của Ấn Độ. Nhánh triết học Ấn Độ này được coi là một hệ thống không chính thống(heterodox) và dĩ nhiên không được xem là một phần của 6 trường phái chính thống của Ấn Độ giáo[8].

Sẽ rất khó khi chúng ta tìm thấy một tài liệu có hệ thống về chủ nghĩa duy vật, hay một trường phái có tổ chức nào tương tự như kiểu các trường phái triết học, bởi hầu hết người dân Ấn theo đa thần giáo, ngoài trừ người theo đạo Sikh[9]là nhất thần giáo”. Cho nên chúng ta chỉ có thể dựa vào các tác phẩm của các trường phái khác khi đề cập quan điểm duy vật và phủ nhận chúng. Kiến thức nghiên cứu của chúng ta về chủ nghĩa duy vật Ấn Độ chỉ dựa chủ yếu vào những điều này.

2.Mang tính đột phá và xây dựng ý thức:

Trường phái vô thần mang tính xây dựng trùng hợp với học thuyết theo thuyết giá trị phủ nhận sự tồn tại của thần thánh để nghiêng về một “giá trị tuyệt đối cao hơn” như đạo Phật[10] chẳng hạn, hoặc hướng về giá trị chân thiện mỹ của nhân loại! Hình thức vô thần này coi nhân loại như là nguồn gốc tuyệt đối của luân lý và các giá trị, và cho phép các cá nhân giải quyết mọi ngóc ngách của ý thức về các vấn đề đạo đức mà không cần có sự hiện diện của thần thánh để niềm hạnh phúc khộng bị hạn chế.

Đứng về một khía cạnh nào đó, chúng ta có thể nhận thấy người vô thần là một người thực tế, duy lý trí, chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe hoặc những gì khoa học có thể chứng minh được. Đến đây chúng ta có thể tạm chấp nhận vai trò học thuyết của Cārvāka là một bước đi mới mà bản thân của những người ngoài tôn giáo không muốn mình bị nô lệ kiến thức, hoặc quá lệ thuộc vào thần thánh.

Những năm gần đây, một số giáo phái đã thu nạp một số tín đồ vô thần công khai, chẳng hạn như Do Thái giáo nhân văn (humanistic Judaism) hay người Do Thái vô thần và những người vô thần Ki-tô giáo[11].

Như vậy, chưa hẳn là người vô thần, không theo một chủ nghĩa nào hoặc học thuyết nào là họ không có niềm tin, người không tôn giáo là không chính xác. Họ tin chính họ và phản bác các học thuyết còn lại và họ trung thành với quan điểm hướng đến giá trị tốt hơn của tôn giáo. Bởi mọi hình thức của tôn giáo cũng chỉ là gạch nối của mục đích sau cùng của kiếp người. Hay họ tin vào những giá trị thành tựu của khoa học thì đó cũng chính là “Tôn giáo khoa học”. Và trong một chừng mực nào đó niềm tin vào tôn giáo khoa học, đôi lúc họ còn mang tính cuồng tín và mãnh liệt hơn bất kỳ tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào!

Đó là một xu thế tất yếu của xã hội Ấn Độ đương thời, nên sự có mặt của học thuyết Cārvāka như thêm một bông hoa trong vườn hoa tâm linh, như một điểm son tạo nên nét chấm phá độc đáo cho bức tranh đa tôn giáo đa học thuyết nói chung và sáu trường phái chính thống nói riêng thêm gam màu tươi sáng cho dòng sử Ấn, và tạo nên một dấu ấn thiên hùng ca đậm chất triết học của một đất nước đầy huyền bí từ ngàn xưa cho đến ngày nay và mãi đến ngàn sau!


[1] Người theo thuyết vô thần là người không tin có sự hiện hữu của một hay nhiều thần hay thượng đế hay một đấng siêu nhân nào cả. Thuyết Vô Thần đã có từ thời Xenophanes (570 - 470 trước Tây Lịch), cách đây hơn 2,000 năm.

[2] Ðây là một con đường dài. Vì ta sẽ phải đi suốt cuộc đời mới hết. Ðường đức tin có những quãng đầy hoa thơm cỏ lạ và tiếng chim hót véo von. Ðó là những khi niềm tin dâng đầy. VietCatholic News (21/08/2003)

[3] Oxford American Dictionary định nghĩa “người vô thần” (atheist) là “người không tin và sự tồn tại của Chúa Trời hay thần thánh”. New York: Avon Press, 1980.

[4] Britannica (1992). “Atheism as rejection of religious beliefs”. Encyclopædia Britannica

http://www.britannica.com/eb/article-38265/atheism. Truy cập 21 tháng 10 năm 2009. 

[5] Walpola Rahula, What the Buddha Taught.Grove Press, 1974. Pages 51–52.

[6] Logical Arguments for Atheism. Internet Infidels, The Secular Web Library. truy nhập ngày 21.10.2009.

[7] Drange, Theodore M. (1996). "The Arguments From Evil and Nonbelief". Internet Infidels, Secular Web Library. Retrieved 22.10.2009.

[8] Joshi, L.R. (1966). “A New Interpretation of Indian Atheism”. Philosophy East and West16(3/4): 189–206.

[9] Trong tiếng puljab, “Sikh” có nghĩa là “học trò”, hoặc “môn đệ”, còn những người Sikh là “học trò của các Guru”. Đạo Sikh dựa trên những tín điều mà Guru Khải tổ Nanak và 9 vị Guru Thế tổ khác truyền lại. Chỉ thờ duy nhất một vị thần, đó là Chúa Trời. Chúa Trời tạo ra vũ trụ, sự tồn tại của vũ trụ phụ thuộc vào ý chí của Chúa Trời. Chúa Trời đã, đang và sẽ tồn tại mãi. Chúa Trời không có hình thù, không có giới tinh, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ mang hình dáng con người trên Trái đất.

[10] Phạm Thiên sau quá trình thanh lọc tâm hồn, chứng đắc đến cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ, nhưng vẫn còn bị luân hồi. Trường Bộ Kinh, Phạm võng kinh(sa., pi. brahmajāla, nghĩa là “tấm lưới của Phạm thiên”), nói về các quan điểm triết học và siêu hình thời Phật giáo sơ khai.

[11] Lyas, Colin (January 1970). “On the Coherence of Christian Atheism”. Philosophy: The Journal of the Royal Institute of Philosophy45(171): 1-19.

----o0o----

Trình bày: Nhị Tường

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
2/11/2026(View: 2047)
Mặc dù con đường thức tỉnh tâm linh là một hành trình đầy thách thức nhưng cũng đầy ý nghĩa. Gần đây không biết một đại cơ duyên nào đã đến với tôi, khi tìm kiếm nghe bài giảng từ nguồn giáo lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sau khi nghe độ chục bài , tôi phát tâm phiên tả lại và sắp xếp lại cách phân đoạn cho đúng theo lời Ngài, thì chợt nhận ra có một lợi lạc vô cùng, vì khi phiên tả có những đoạn không hiểu tôi đã tìm về nguồn kinh sách mà ngày xưa mình đã học hỏi với các minh sư.
2/6/2026(View: 1253)
Kính phiên tả lại toàn bộ short video này để mời các bạn cùng thực hiện vào ngày đầu năm Bính Ngọ nhé như thay lời chúc đầu năm. Muốn cho một lời cầu nguyện được ứng nghiệm phải hội đủ 4 loại LỰC LỚN NHẤT CỦA PHÁP GIỚI .
10/22/2025(View: 3738)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
8/25/2025(View: 2099)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
5/31/2025(View: 3043)
“Đào tạo thanh, thiếu, đồng niên trở thành người Phật tử chân chính nhằm xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.” Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam không phải là một khẩu hiệu suông. Đó là một tuyên ngôn giáo dục – tâm linh – xã hội sâu sắc. Từng từ trong câu mục đích là một viên gạch xây nên lý tưởng và phương hướng hoạt động của tổ chức. Để thực sự thực hành đúng vai trò Huynh Trưởng, chúng ta cần thẩm thấu từng khía cạnh sau:
4/25/2025(View: 3456)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
4/22/2025(View: 3436)
Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?” Vì sao vậy ? Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
6/4/2024(View: 18836)
Cùng toàn thể giới tử thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm tại trú xứ Tăng già-lam Phước duyên, thành phố Huế, hiện diện quý mến. Một ngày một đêm quý vị ở trong Tịnh giới với niềm tin thanh tịnh, kiên cố, bất hoại đối với Tam bảo. Nhờ niềm tin này mà quý vị không để cho Giới pháp của mình bị sứt mẻ ở trong đi, ở trong đứng, ở trong nằm, ở trong ngồi, ở trong sự nói năng, giao tiếp. Quý vị có được niềm tin này là nhờ quý vị nuôi lớn sáu tính chất của Tam bảo, khiến cho ba nghiệp của quý vị được an tịnh, an tịnh về thân hành, an tịnh về ngữ hành, an tịnh về ý hành. Sáu tính chất của Tam bảo, quý vị phải thường quán chiếu sâu sắc, để thể nhập và tạo ra chất liệu cho chính mình, ngay đời này và đời sau. Sáu tính chất của Tam bảo gồm:
4/30/2024(View: 11192)
Những lời trích dẫn trên đây thật đanh thép và minh bạch, chữ vu khống trong câu trích dẫn trên đây trong bản gốc bằng tiếng Pali là chữ abbhācikkhanti (abhi + ā + cikkh + a), các tự điển tiếng Anh dịch chữ này là accusation, calumny, slander…, có nghĩa là kết án, phỉ báng, vu khống…. Thế nhưng trong khi viết lách hay thuyết giảng đôi khi chúng ta không nghĩ đến những lời cảnh giác trên đây của Đức Phật. Sau hơn hai mươi lăm thế kỷ quảng bá, xuyên qua nhiều vùng địa lý, hòa mình với nhiều nền văn minh và văn hóa khác nhau, nền Tư tưởng và Giáo huấn của Đức Phật đã phải trải qua nhiều thử thách, thích ứng với nhiều dân tộc, do đó thật khó tránh khỏi ít nhiều biến dạng và thêm thắt. Thế nhưng thực tế cho thấy trong suốt cuộc hành trình kỳ thú và vĩ đại đó – nếu có thể nói như vậy – nền Tư tưởng và Giáo huấn đó của Đức Phật vẫn đứng vững và đã góp phần không nhỏ trong công trình cải thiện xã hội, nâng cao trình độ văn hóa, tư tưởng và mang lại ít nhất là một chút gì đó lý tưởng hơn, cao đ