Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

10-Tuổi trẻ với hạnh Nhẫn Nhục

06/02/201115:45(Xem: 2150)
10-Tuổi trẻ với hạnh Nhẫn Nhục

ĐẠOPHẬT VÀ TUỔI TRẺ

Hòa thượng ThíchThanh Từ
-10-

Tuổi trẻ với hạnhNhẫn Nhục

Em là một thiếuniên, quả tim chứa đầy máu nóng, mỗi khi bị ai nhục mạmáu trong người sôi lên, toàn thân nóng rực, rồi em muốntrả thù bằng cách nào cho đã cơn giận dữ. Hoặc khi suynghĩ sắp làm một việc gì, lòng em nóng nảy bồng bột muốnlàm trong chốc lát cho xong.

Sự nóng nảy và nông nỗi ấy đãnhiều lần khiến em phải hối hận và đau khổ. Lắm lúcem cũng muốn bình tĩnh lại, nguội đi một chút, nhưng khigặp việc rồi cũng chứng nào tật ấy. Vì muốn giúp em mộtphương tiện để tự chủ lấy mình, tôi xin giới thiệu emHẠNH NHẪN NHỤC do đức Thế Tôn đã dạy.

Nhẫn nhục không có nghĩa là ươnhèn khiếp nhược, khom lưng cúi đầu trước mọi hành độngbạo tàn của người mà là kiên gan bền chí nhịn chịu mọisự mạ nhục, sự khó khổ, sự khen ngợi cũng như sự thắngthế, để hoàn toàn làm chủ lấy mình, để sau rồi xây dựnglại họ.

Muốn nhịn chịu được sự nhụcmạ, em nên nghĩ thế này: người mắng ta, vì tại ta làm quấyhay vô cớ tự họ đặt điều?

Nếu ta làm quấy nên họ mắng thìđiều ấy rất đáng, còn gì mà phải giận trách. Ðã khônggiận trách là chớ, mà ta lại phải xin lỗi người là khác.Vì tại ta gây nhân nên họ mới trả quả. Người gây nhânmới là người đáng tội. Như hôm nào đó, em đứng trướcsân, bỗng nhiên con Vện rượt con Mèo chạy ngang qua em. Mèoliệu chạy không kịp, đứng lại thủ thế. Vện vừa nhàotới, Mèo vớ cho một cái xể mặt. Trước cảnh đó, em nêntrách Mèo hay trách Vện? Cũng thế, ta lầm lỗi bị ngườimạ nhục, thì nên tự trách, không nên oán giận người. Cóthể mang ơn họ là khác, vì họ cho ta một bài học xứngđáng để nhớ mãi mà tránh.

Nếu ta không làm điều gì quấy,vô cớ tự họ bịa chuyện để mạ nhục ta, ta nên nghĩ:Người ấy không biết lẽ phải quấy, họ đã mất hết tríkhôn, là một kẻ cuồng không khác, ta chỉ nên thương xóthơn là giận trách. Hơn thua với kẻ cuồng thì ta cũng cuồngnốt. Hơn nữa, nếu em thấy là phải mà bị họ mạ nhục,em cứ lặng im giữ cái phải của em. Nếu em mắng chửi lạihọ, thì em cũng quấy như họ. Như có anh chàng mặc bộ đồtrắng muốt đi trên lộ, gặp bọn chăn trâu đang chơi bùn,mình mẩy lem luốc. Chúng ghét cái trắng sạch của anh, nênhốt bùn vãi anh. Lúc đó anh nên chạy, hay nên hốt bùn vãilại chúng?

Nếu anh muốn giữ cho tròn trắngsạch, cố nhiên anh phải chạy. Cũng vậy, muốn toàn vẹnlẽ phải, em nên nhịn kẻ quấy, đợi qua cơn nóng giận củahọ, em sẽ phân giải thì kết quả hơn.

Hoặc giả em là người tốt, kẻxấu thấy ganh ghét em, họ đến mạ nhục em, khi ấy em nêncoi lời mạ nhục như cơn gió thoảng, không cần chống đối.Kẻ mang việc xấu đến; họ sẽ tự chịu xấu lấy. Phậtdạy: "Kẻ ác hại người hiền, như ngửa mặt lên trờiphun nước bọt, nước bọt không tới trời, trở lại rơitrên mình, như ngược gió tung bụi, bụi chẳng tới người,trở lại làm nhơ mình..." -- (Kinh Tứ Thập Nhị Chương)

Khi bị mạ nhục, nếu em không dằnđược cơn nóng giận, tức nhiên em chửi mắng đánh đậplại họ. Rồi cứ thế mãi, họ vay, em trả; vay trả, trảvay không bao giờ dứt. Như Xoài mắng Ổi, Ổi đánh Xoài.Xoài tìm cách trả thù, Ổi lo phương báo oán, oán thù khôngbiết bao giờ hết. Chi bằng ta áp dụng câu: "Oan gia nênmở không nên kết"(Khổng Tử)hoặc câu: "Lấyânbáo oán, oán liền tiêu diệt"(Phật dạy),thì nhẹ nhàng rảnh rang biết mấy.

Tuy nhiên, nói thế em sẽ ngờ rằng:Nhịn họ e họ sẽ cho mình là khiếp nhược? - Không! Khôngphải thế đâu! Em không nhớ Hàn Tín chịu lòn trôn tên duđãng tại chợ Hoài Âm đó sao? Chịu nhục như vậy mà saunày ai dám chê Hàn Tín là khiếp nhược? Nếu có, ấy chỉlà bọn vũ phu thiếu trí mà thôi. Em là người cao thượngcó chí lớn, em nhịn những lời nhục mạ của bọn bất lương,không phải vì em sợ họ mà chính vì cái chí lớn của em.Như em có cái chén kiểu quí, có người đem muỗng dừa haybát sành đến chọi thử với chén quí của em. Khi ấy, emnên chọi hay nên nhịn thua họ?

Thảng hoặc, em cho rằng nhịn họđể bảo vệï tính tốt, lẽ phải và chí lớn của mình,để mặc tình họ gây tội ác, như vậy tỏ ra mình ích kỷtiêu cực, không có tinh thần xây dựng cho người? Không phảinhịn họ là ích kỷ đâu em! Nhịn là phương pháp lợi ngườitoàn vẹn. Vì khi người ta nóng mới thóa mạ em, khi ấy emcũng nóng, chống đối lại họ. Hai cái nóng cùng gặïp nhauthì phải nổ. Như vậy khi nóng giận chống đối người,không có nghĩa là xây dựng họ, mà chính là gây oán thù.Nếu ai nói: "Tôi chống lại là vì tôi thương, muốn cảithiện giùm họ", ấy là lấy lời nhân nghĩa để che đậycái tính xấu nóng nẩy của mình.

Chẳng những ta nhịn chịu sự nhụcmạ, mà còn phải nhịn chịu sự khó khổ. Bởi vì con ngườisanh trên đời, không phải đến đâu cũng gặp toàn tháp ngàvà nhung gấm, mà phải đương đầu với phong ba bão tố. Nguờicó sức nhịn chịu được những trở ngại mới mong đạtđược kết quả tốt đẹp cao quí. Bằng không nhịn được,dễ sanh nản lòng thối chí. Dù người có sức mạnh cử nổitrái tạ ngàn cân, có tài chọc trời khuấy nước, mà khôngcó chí kiên nhẫn, khi gặp sự thất bại dồn dập đến mìnhthì nhăn mày, héo mặt, con người ấy không làm nên việcgì đáng kể. Trái lại, người yếu đuối, tài lực tầmthường mà bền gan chịu đựng, mỗi lần vấp ngã chỉ xemđó là một kinh nghiệm, càng thất bại nhiều thì kinh nghiệmcàng giàu, chí càng dẻo dai bền vững, con người thế ấykhông việc gì làm chẳng được. Có vị Tỳ-kheo hỏi Phật:"Cái gì mạnh hơn cả?"Phật dạy: "Nhẫn nhục mạnhhơn cả."(Kinh Tứ Thập Nhị Chương)Thật vậy, chỉ cóngười nhịn chịu được mọi khó khăn, vượt qua mọi trởngại mới mong lập được sự nghiệp vĩ đại trên đời.

Bị nhục mạ, gặp cảnh trở ngạituy khó nhịn, nhưng người ta dễ biết đề phòng, nên cóthể nhịn được. Ðược ngợi khen, gặp việc thắng thếlà điều tốt, thỏa thích ý mình, nên ít ai để ý dè dặt,do đó mặc tình tâm phóng túng, gây họa rất to. Như xe vàođường hiểm nguy không lật, mà thường lật ở đường thẳng.

Người bị nhục mạ nhịn khôngđược cơn tức giận, nên gây tai họa, kẻ gặp cảnh trởngại, nhịn không được lòng buồn nản, nên bỏ hư hỏngcông việc, ta được ngợi khen, được thắng thế, nếu khôngnhịn được lòng tự đắc của mình, nên dễ sinh ngã mạnkhiến mọi người đều ghét. Như trò Kiêu lâu nay tuy họcdở mà nói năng nhỏ nhẹ khiêm tốn, nên được cả lớpai cũng thương. Một hôm đến giờ toán, thầy giáo cho bài,may sao anh làm rồi sớm lại trúng, khi các bạn anh làm chưarồi. Thầy giáo thấy thế khen ngợi anh trước chúng bạn.Có lẽ đây là lần thứ nhất, Kiêu được hơn chúng bạnvà thầy khen, mắt anh sáng lên, nhìn chúng bạn thấy họ tầmthường quá. Từ đó về sau, ai trông thấy Kiêu không cònlà một trò khiêm tốn dễ thương, mà là đứa bé khinh mạnđáng ghét.

Khi biết nóng giận là tính dữ,nản chí là nết hư, thì ngã mạn cũng là tật xấu. Nhưngkhó trị nhất là ngã mạn, vì ta không thể biết được nókhởi tự bao giờ, chỉ có kẻ khác biết thôi. Phật dạy:"Có thế lực mà khôngỷ mình là khó."Muốn nhịnchịu được sự khen ngợi, ta nên nghĩ thế này:

Tiếng ngợi khen của người đờiít khi đúng sự thật. Hoặc họ muốn làm đẹp lòng ta đểnhờ ta giúp một việc gì, nên họ khen? Hoặc họ khen là đểgợi tính hiếu thắng, tự cao của ta, đặng đưa ta về chỗhư hèn? Hoặc vì nể ta, khen cho ta được vừa ý... Tất cảsự khen ấy đều không đúng sự thật, đã không đúng sựthật thì có gì mà ta mừng, tự đắc?

Nếu người khen biết được ta,và trăm phần trăm đúng sự thật, thì ta nên nghĩ: Sự thànhcông tốt đẹp ấy không phải tài của ta, mà do phước lànhđời trước còn lưu lại. Ðã do phước lành mà được việc,khi được ta cần phải gieo giống phước lành nhiều hơn đểsau này khỏi mất, mà tính tự cao, ngã mạn là thứ thuốcđộc làm ung tất cả mầm phước đức, ta cần phải tránh.

Người gặp những trường hợptrên mà không nhẫn nhục thì sau sanh hối hận. Như Tý bịSửu mắng, không dằn được cơn nóng, Tý đánh Sửu trọngthương. Anh Sửu trông thấy, nóng lòng vì em, chụp gốc câyđập Tý lỗ đầu. Rốt cuộc cả hai đều trọng bệnh vàcùng vào bệnh viện. Như câu cách ngôn Tây phương: Sống vìlưỡi kiếm, chết vì lưỡi kiếm (Qui vit par l’épée, meurtpar l’épée).

Bao nhiêu sự buồn khổ thời gianTý nằm trong bệnh viện, có phải tại ai có ác ý muốn hạiTý chăng? Hay chính tự Tý chuốc lấy? Sự thực không ai làmkhổ mình. Nếu thắng được cơn giận dữ, làm gì Tý phảinằm trong bệnh viện thế này. Cho biết mọi khổ đau đếnvới mình phần nhiều là tại mình không nhịn được lòngnóng nảy bồng bột của mình mà ra. Như ngài Thích-đề-bà-nahỏi Phật: "Vật gì giết an lạc? Vật gì giết vô ưu?Vật gì gốc của độc, nuốt hết tất cả thiện?"Phậtđáp: "Sân hận giết an lạc. Sân hận giết vô ưu. Sânlà gốc của độc. Sân nuốt tất cả thiện."

Chẳng những thế, người khôngnhẫn ít khi làm chủ được mình mà thường bị ngoại cảnhchi phối. Như Hận không muốn gây sự với Manh nhưng Manh khiêukhích, không chịu nổi cơn nóng giận, Hận chửi đánh ẩuđả. Thế rồi, cả hai cùng chịu khổ. Hoặc như Tốc muốnhọc đến cử nhân nhưng thi trung học rớt vài phen, thốichí anh muốn trở về cày ruộng... Những người như thếđều bị hoàn cảnh lung lạc, không có chí vững bền tựchủ.

Người biết nhẫn dù gặp việclớn cũng biến thành nhỏ, dữ hóa hiền, không mấy khi phảihối hận, tâm thường an lạc. Phật dạy:"Nếu có ngườitrí ưa tu nhẫn nhục, người ấy dáng điệu hòa nhã, hằngtươi tỉnh, ưa vui cười, mọi người trông thấy đều hoanhỉ, nhìn không biết chán..." -- (Kinh Ưu-bà-tắc, phẩm NhẫnNhục.)

Lại nữa, người hay nhẫn nhụclà đã tạo cho mình một nghị lực phi thường, thắng cảnội tâm và ngoại cảnh. Phật dạy: "Người hay nhẫn nhụcmới đáng gọi là bậc hữu lực đại nhân."(Kinh PhậtDi Giáo)Thật vậy, bậc đại nhân bao giờ cũng kiên nhẫn,bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh. Chỉ có bọn vũ phu mớinóng nảy hấp tấp, làm việc theo nộ khí nhất thời.

Xét qua sự nhẫn nhục, em đã thấyrõ chỗ quí, tiện và lợi hại thế nào rồi. Giờ đây mờiem bắt tay vào việc tập luyện hạnh nhẫn nhục. Có thựctập em mới thấy sự lợi ích thiết thực của nó. Ðốivới tuổi thiếu niên mà thiếu nhẫn nhục thì không mong thànhcông, lập nghiệp gì cả. Bởi vì trong lúc thiếu thời, sốngvề tình cảm hơn lý trí, nên phải tập nhẫn nhục để hạnchế bớt sự sôi nổi bồng bột trong lòng.

Hơn nữa, tuổi thiếu niên em chưatừng nếm mùi cay chua của cuộc đời - nếu có cũng chútít thôi - nên kinh nghiệm đời em chưa có, vì thế tâm em dễhăng hái, cũng dễ chán nản. Tập nhẫn nhục sẽ giúp em cóđủ thì giờ cho lý trí làm việc, nhẫn nhục sẽ tập choem có tính bền dẻo khi va chạm cuộc đời. Vì thế đờiniên thiếu của em rất cần có nhẫn nhục.

Muốn đạt được hạnh nhẫn nhục,em cần phải quán từ bi. Vì có nước từ bi mới dập tắtđược ngọn lửa nóng giận. Từ bi sẽ giúp em hăng hái hoạtđộng, kiên nhẫn vượt mọi khó khăn để thành công trêncông trình lợi tha viên mãn.






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 404)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 714)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 528)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1001)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4128)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4096)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
14/11/2021(Xem: 9377)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 6471)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 7507)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 7074)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,200,910